"Cổ cồn đỏ " bởi iamDage
Câu chuyện về một cô bé mồ côi và con quỷ hút máu.

Thể loại: Truyện Phân đoạn: 44 Hoàn thành: Không Độ dài: 475248 từ Đọc: 9146 lần Đăng: 25 Apr 2016 Cập nhật: 06 Feb 2018

1. "Phần 1. Chuyến đi lớn của cô gái nhỏ" bởi iamDage

2. "Phần 2. Chào mừng tới nước Anh, Olivia van Schoolderwalt" bởi iamDage

3. "Phần 3. Người bạn đồng hành" bởi iamDage

4. "Phần 4. Cổ cồn đỏ" bởi iamDage

5. "Phần 5. Sau cơn mưa" bởi iamDage

6. "Phần 6. Đi tìm Olivia" bởi iamDage

7. "Phần 7. Những người hàng xóm" bởi iamDage

8. "Phần 8. Bí mật nho nhỏ" bởi iamDage

9. "Phần 9. Forest Hill" bởi iamDage

10. "Phần 10. Lunatic - Bệnh nhân 1" bởi iamDage

11. "Phần 11. Lunatic - Bệnh nhân 2" bởi iamDage

12. "Phần 12. Lunatic - Những chú chó" bởi iamDage

13. "Phần 13. Đêm của những người đàn ông" bởi iamDage

14. "Phần 14. Gánh xiếc" bởi iamDage

15. "Phần 15. Renato Innamorato " bởi iamDage

16. "Phần 16. Round and round" bởi iamDage

17. "Phần 17. The horseman" bởi iamDage

18. "Phần 18.1. Cara mia, Caro Mio (My dear) " bởi iamDage

19. "Phần 18.2. Cara mia, Caro Mio (My dear) " bởi iamDage

20. "Phần 19. Loa kèn trắng" bởi iamDage

21. "Phần 20. Lời hứa" bởi iamDage

22. "Phần 21. Những đêm trước Giáng sinh 1" bởi iamDage

23. "Phần 22. Những đêm trước Giáng sinh 2" bởi iamDage

24. "Phần 23.1. Những đêm trước giáng sinh 3" bởi iamDage

25. "Phần 23.2. Những đêm trước giáng sinh 3" bởi iamDage

26. "Phần 24.1. Những đêm trước Giáng sinh 4" bởi iamDage

27. "Phần 24.2. Những đêm trước Giáng sinh 4" bởi iamDage

28. "Phần 25.1. Những món quà" bởi iamDage

29. "Phần 25.2. Những món quà" bởi iamDage

30. "Phần 26.1. Flat" bởi iamDage

31. "Phần 26.2. Flat" bởi iamDage

32. "Phần 27. Câu chuyện của Reginald 1" bởi iamDage

33. "Phần 28.1. Câu chuyện của Reginald 2" bởi iamDage

34. "Phần 28.2. Câu chuyện của Reginald 2" bởi iamDage

35. "Phần 29.1. Câu chuyện của Reginald 3 – Gián đoạn" bởi iamDage

36. "Phần 29.2. Câu chuyện của Reginald 3 – Gián đoạn" bởi iamDage

37. "Phần 30.1. Gián đoạn 2 - Đám tang" bởi iamDage

38. "Phần 30.2. Gián đoạn 2 - Đám tang" bởi iamDage

39. "Phần 31.1. Gián đoạn 3 – Những câu chuyện không phải của Reginald" bởi iamDage

40. "Phần 31.2. Gián đoạn 3 – Những câu chuyện không phải của Reginald" bởi iamDage

41. "Phần 32" bởi iamDage

42. "Phần 33. Câu chuyện về cô bé làng Dulwich" bởi iamDage

43. "Phần 34.1. Câu chuyện về người lính Liên Đoàn, Con trai của ông trùm & Con gái nhà giả kim" bởi iamDage

44. "Phần 34.2. Câu chuyện về người lính Liên Đoàn, Con trai của ông trùm & Con gái nhà giả kim" bởi iamDage


"Phần 1. Chuyến đi lớn của cô gái nhỏ" bởi iamDage
Rouen, Pháp vào năm 1906 — tại một con phố nhỏ ở thành phố cảng — những tiếng la hét, chửi bới và cảnh tượng một cô bé lao từ căn nhà nghỉ rẻ tiền ra ngoài vỉa hè làm bao người ngoài đường chú ý. Người đàn bà to béo đứng từ trong ném chiếc va li vào đầu đứa nhóc, đồ đạc văng tung tóe ra đường. Cũng không có gì nhiều, chỉ là hai cái áo sơ mi trắng, một cuốn sổ cũ bọc da kèm theo cây bút máy có thiết kế thật mềm mại và thanh thoát. Cô bé vơ lấy chúng, tống vào cái va li rồi tay trái ôm va li vào nách, tay phải xoa lên đầu, nghiêng người vào trong cửa, chửi thề đầy giận dữ. Thấy mụ béo đuổi theo, đứa nhóc chạy vội ra giữa lòng đường và đâm sầm vào một chiếc taxi.

– Cho tôi vào! Nhanh lên! – Cô bé hớt hải.

– Đi đâu?

– Cứ đi thẳng!

Chiếc ô tô phóng đi. Cô bé thò đầu ra khỏi cửa kính, hai tay xòe ra bên hai tai múa loạn lên cùng khuôn mặt không giấu nổi sự sung sướng, lè lưỡi nhổ phì phì. Đứa nhóc ấy thích thú vô cùng khi thấy mụ béo phải đuổi theo cái ô tô đầy mệt mỏi, chạy chậm dần rồi dừng hẳn vì kiệt sức.

– Cút đi, Olivia! – Mụ nói không ra hơi, chỉ biết giơ nắm đấm lên không khí.

– Tạm biệt! – Olivia vẫy tay từ trong cửa, nở nụ cười đắc thắng.

Đi được một lúc, người lái xe bắt đầu nghi ngờ trước một cô bé ăn mặc đẹp nhưng cách cư xử chẳng giống người ở tầng lớp cao chút nào. Ông không chắc rằng liệu nó có bùng tiền xe, nhưng làm sao có thể không băn khoăn nếu hành khách cứ mãi chỉ mình những hướng đi lòng vòng rất chung chung mà không hề đề cập tới địa điểm cuối cùng?

– Này cháu, ta đi cũng đã lâu, trời sắp tối rồi. Cháu mau nói điểm đến rồi ta còn phải về nhà. Vợ ta sắp sinh.

– Ồ! Chúc mừng bác! Cháu đoán sẽ là con trai. – Olivia nhanh nhảu nói.

– Đừng chúc mừng ta! Đó là đứa thứ mười bốn rồi, cả nhà rồi đến chết đói.

– Cháu xin lỗi. Cháu lại tưởng bác từng này tuổi mới có được đứa con đầu lòng. – Olivia lè lưỡi ra và cười.

– Nhóc! Định nói chuyện câu thời gian hả? Nhanh lên không ta quẳng xuống đường đấy. Cháu đi tới đâu, nói mau rồi còn trả tiền.

Hơi khựng lại khi thấy sự gấp rút của người lái xe, đứa nhóc lần tìm trong túi xem có đồng lẻ nào không. Trái với kỳ vọng của nó, chẳng có gì ngoài ba đồng năm franc. Olivia nuốt khan. Nếu chuyện đã đến nước này, chỉ có quỵt tiền mới mua được thức ăn vào ngày mai.

– Bao nhiêu tiền hả bác?

– Hai mươi franc, nếu dừng ngay ở đây. – Người lái xe đột ngột phanh lại.

Mặt Olivia tối sầm xuống, không biết phải làm thế nào. Chuyện ăn quỵt đối với đứa trẻ ấy thì đơn giản, nhưng chắc chắn lương tâm sẽ không buông tha nó mỗi khi nghĩ đến việc người lái xe tội nghiệp ấy phải nuôi mình, vợ mình và mười bốn đứa con. Rất có thể ông ta sẽ tức giận và đánh đập chúng.

– Bác cần phải về ngay bây giờ ạ? – Olivia nhìn xung quanh, cố gắng nghĩ ra giải pháp hay ho nào đó.

– Đúng vậy! Nhanh lên!

– Hiện tại cháu không có đủ tiền. Thật lòng mà nói, cháu không có tiền. Hay mai bác quay lại đây, cháu sẽ xin người ta tiền trả cho bác, cả gốc lẫn lãi nhé? – Olivia cười hềnh hệch. Chính cô bé cũng không tin nổi rằng đến giờ phút này mình vẫn có thể đùa cợt.

– Cái gì? Đùa không nhóc? Ta sẽ đưa cháu đến đồn cảnh sát vì tội ăn cướp đấy!

– Làm ơn! Cháu thật sự không có tiền! Bác có đánh chết hay ném cháu vào tù cũng không nhận được đồng nào đâu, chỉ mất thêm thời gian. Mà theo như cháu biết thì bác đang rất vội?

Dù cố tỏ vẻ tội nghiệp, giọng điệu Olivia lại đầy tính thách thức. Cô bé muốn thăm dò phản ứng của người đàn ông, cũng là để kéo dài thời gian tới lúc thích hợp. Chiếc xe đã dẫn Olivia ra gần bến cảng, cô bé có thể cảm thấy gió đang thổi lộng qua cánh cửa. Đây là chỗ để xe chở hàng qua lại nên không có nhiều người sinh sống, mặt đất lại trống.

– Thôi nào. Ta không có nhiều thời gian! Gần năm giờ chiều rồi! – Người lái xe lo lắng.

– Vậy đó là lỗi của bác vì đã cho cháu lên xe. Cháu rất tiếc. Tuy đều túng thiếu, nhưng bác là người làm ăn trong sáng. Còn cháu, thì... – Olivia nhẹ nhàng thò tay trái ra ẩn nhẹ cửa, tay phải nắm chặt lấy va li. Cô bé quyết liều mạng. – KHÔNG!

Olivia quát lớn, ẩn cửa nhảy ra ngoài, ngã lăn xuống đường. Người đàn ông không thể ngờ — ông chưa kịp nói câu nào, miệng vẫn còn há hốc — con nhãi kia đã đứng dậy, chạy vụt đi mất.

– NÀY! – Ông gọi Olivia trong tuyệt vọng. – Trả lại ta tiền!

Olivia vẫn cắm cổ chạy. Một giọt nước mắt chợt rơi trên má nhưng cô bé chẳng có thời gian để quẹt nó đi. Ngoài chạy và chạy, Olivia không biết phải làm gì hơn, chỉ mong thoát khỏi con người tội nghiệp vừa bị mình lừa.

– Dám quỵt tiền của David Montoff hả? Không ai được quỵt tiền của David Montoff! – Người lái xe giận tím mặt. Ông khởi động lại máy, phóng xe đuổi theo. – Vợ tao sắp sinh rồi, tao cần tiền!

Chạy mệt đứt hơi qua hơn sáu dãy nhà và ba khúc cua, đứa trẻ lừa lọc muốn dừng lại nghỉ một chút. Ai ngờ, chưa kịp hít bằng miệng, phát hiện có tiếng bánh xe và ánh đèn đã bám sát ngay đằng sau mình, Olivia đành lại vắt chân lên mà chạy thục mạng. Cô bé đâu muốn bị bắt.

– Quay lại đây! Tao muốn tiền xe! – Người đàn ông gào lên trong tức giận. Ông ta thề có Chúa, ông mà túm được Olivia, đôi chân nhỏ đó sẽ không bao giờ còn chạy được nữa. Ông sẽ đánh nát chúng!

Olivia cảm thấy cổ họng mình khô khốc lại, nhịp tim đập liên hồi không hiểu do hoảng loạn hay do chạy quá nhanh. Toàn thân cô bé nóng rực, cứ như sức lực sắp cạn kiệt hết sạch. Bị mất đà lao thẳng về phía trước, cô bé sợ điều tồi tệ nhất xảy đến lúc này là ông David sẽ bắt được mình và tống vào đồn cảnh sát nào đó. Như vậy thì rắc rối vô cùng.

Chiếc xe lao đến, đâm thẳng vào Olivia. Cô bé ngã xuống đất, người đàn ông nhắm chặt hai mắt lại, mặt cắt không còn một giọt máu. Ông David đã ấn phanh gấp, nhưng có lẽ không kịp.

– Chết rồi! Cháu ơi! Cháu có sao không? – Người lái xe hoảng hốt chạy lại, ông không biết phải làm gì ngoài lay cô bé xấu số dậy.

Olivia thở hắt, hai mắt vẫn nhắm nghiền.

– Bác xin lỗi! Bác đâu định đâm cháu! Bác chỉ rất cần tiền! Cháu nói gì đi chứ! – David hoảng loạn và bắt đầu khóc. Ông sợ Olivia sẽ chết tại đây.

– Bác biết... cháu không định làm vậy, đúng không? – Olivia nói khẽ và bắt đầu ho.

– Cháu muốn ta đưa vào bệnh viện chứ?

– Không! Nếu không có tiền họ sẽ để cháu chết thôi! Cháu rất xin lỗi, chỉ là… Họ bắt cháu, phải… bán dâm...

Olivia nói đến đó thì bất tỉnh, toàn thân trở nên mềm oặt trong tay người lái xe. Hoảng sợ tột độ, ông David rút tay ra, ném cô bé xuống đất và ấp úng:

– Chết rồi! Mình giết người rồi! Làm gì đây? Vợ mình, các con cần mình. Mình không thể vào tù!

Nhìn khung cảnh trống vắng xung quanh, một tia đen tối chợt lóe lên trong trí óc của người đàn ông khốn khổ và bần cùng.

* * *

Trời đã xế chiều và ngả dần vào bóng tối nhưng khu cảng thương mại vẫn còn rất đông đúc và nhốn nháo. Mọi người hò hét, mua bán, trao đổi, khuân vác... Ai cũng quá bận rộn để chú ý tới một người đàn ông lái ô tô dừng lại trước một chiếc tàu lớn, kéo theo một cái xác ra khỏi cốp. David ném nó vào chiếc xe kéo đang được thủy thủ chuyển dần hàng vào thùng chứa, chạy vội vào xe và lái đi, hy vọng không ai nhìn thấy mình.

"Cứ sáu giờ tối ngày thứ Ba, chiếc tàu đó sẽ khởi hành. Tới lúc đó, sẽ không ai phát hiện. Mọi thứ sẽ ổn thôi David. Không ai phát hiện ra đâu, cái xác đó sẽ thối rữa ra." – Người lái xe tự nhủ. Hai tay ông run rẩy không ngừng.

David phóng một mạch về nhà – nơi người vợ của ông sắp sinh cho ông thêm một kẻ ăn bám nữa – không để ý rằng có một mẩu giấy nhỏ vứt ở ghế sau.

* * *

Tại bến cảng, trong thùng chở rượu vang; Olivia ngửi thấy được mùi muối, hơi nước lạnh ngắt của biển cả và những tiếng sóng vỗ rì rào lúc thủy triều lên. Gió thổi qua cả những kẽ hở của vách thuyền, lúc đầu có vẻ mát nhưng càng về sau càng khiến cho cô bé co ro lại rồi hắt xì vì lạnh.

– Đúng là đồ ngu! Nếu mình mà làm diễn viên kịch có khi kiếm được ối tiền. – Olivia ranh mãnh cười.

Olivia nhìn xung quanh, thấy toàn là rượu. Không thể giấu nổi sự sung sướng, cô bé vớ lấy cái xà beng gần đó và cạy nắp một thùng gỗ lên, bỏ cái chai vào va li.

"Đi thôi!" – Thuyền trưởng hô lớn.

Olivia giật mình ngước lên, nhận ra cái nóc khoang bị đóng sầm lại. Cô bé nghe thấy tiếng đồ đạc kéo lê, cảm giác con tàu bắt đầu chuyển động.

– Ai ở đấy không? Cứu với! Tôi bị kẹt ở đây! Này! – Olivia hét toáng, nhưng tiếng hò của những người thủy thủ quá ồn để có thể nghe thấy được giọng nói yếu ớt bên dưới.

– Chết tiệt! – Olivia đấm tay vào thùng – Mình bị đưa đi đâu đây?

* * *

David bước vào nhà, những đứa con trai của ông ngồi thẫn thờ nhìn mẹ chúng gào thét và chửi thề trong cơn đau đẻ, trong khi những đứa con gái phải tất bật ngược xuôi với chậu máu và khăn lau. Ông khụyu gối, chắp hai tay cầu xin Chúa hãy rủ lòng thương mà mang đứa con sắp sinh của mình đi theo Ngài, gương mặt đầm đìa nước mắt. Thật là đau lòng và trái với lương tâm người cha, nhưng David quá nghèo để có thể nuôi thêm một miệng ăn nào nữa.

Chợt ông nghe thấy có tiếng khóc ầm ĩ réo lên.

– Này, David, một bé trai! – Người hàng xóm cắt rốn cho đứa bé. Bà ôm cái bọc đầy nhớt và máu lên, trao cho cha nó.

– Lại đây nào của nợ bé nhỏ! – Người lái xe chìa tay ra đón lấy đứa con sơ sinh. Ông vẫn khóc. Lúc này David không muốn suy nghĩ thêm bất cứ điều gì nữa. Khuôn mặt bé nhỏ và vô tội của con trai David làm ông thấy mình thật đê tiện và xấu xa vì đã mong nó chết đi. Liệu tình thương ông giành cho nó có đủ chiến thắng đói nghèo, hay nó sẽ lớn lên trở thành một đứa trẻ lang thang chuyên lừa lọc — như con bé tóc nâu đó?

"Con bé đó đoán cũng chuẩn thật."

– Tôi đói, ông mua đồ ăn đi. – Người vợ của David mệt mỏi nói.

– Rồi, tôi đi ngay! Bế nó đi! – Ông hằn học đưa con cho vợ.

Đứng trước cái xe cũ kĩ và han gỉ, David nắm chặt chiếc giẻ lau trong tay, thấy lo lắng tới tê cả người. Ông bò ra phía sau cốp nhằm tìm và xóa đi mọi dấu tích trước khi bị bại lộ. Nhưng, bất chấp nỗ lực tìm kiếm của mình, tất cả những gì ông thấy chỉ là một mảnh giấy. Tò mò, David mở nó ra xem. Đó là bức thư mà đứa con gái kia để lại với những dòng chữ nắn nót đến không ngờ và thứ tiếng Pháp trang trọng chính hiệu:

"Bác thân mến! Cháu rất xin lỗi vì đã đi xe bác mà không trả tiền, nhất là khi bác đang túng thiếu. Đừng lo, cháu chưa chết đâu. Tạm biệt, chúc bác và gia đình sớm có một cuộc sống ổn định. Olivia van Schoolderwalt."

Người lái xe ngồi thụp xuống đất, lá thư khiến môi ông mấp máy không nên lời. Trong lòng ông cùng một lúc trào dâng cảm giác của sự ân hận lẫn buồn bã đến quặn thắt tim gan lại. Ông ngạc nhiên khi Olivia còn ít tuổi như vậy mà đã bị cuộc đời đối xử thật nghiệt ngã, ông hối tiếc vì đã định bắt nạt một đứa trẻ không có đủ tiền để ăn; và ông cũng căm ghét chính bản thân vì nhận ra, trong một phút lầm lỡ, ông suýt nữa đã tự hủy hoại tâm hồn mình. David bật khóc như một đứa trẻ, sợ rằng một trong những đứa con của ông sẽ có kết cục giống Olivia — thậm chí còn khủng khiếp hơn.

"Đợi đã! Olivia van Schoolderwalt, van Schoolderwalt... Người Pháp làm gì có họ nào mang chữ 'van'?" – Người lái xe băn khoăn. – "Hi vọng nó không sao."

* * *

Olivia nằm co ro trong thùng. Cô bé bị đập đầu liên tiếp vào vỏ con thuyền.

– Mình tiêu rồi! Mình tiêu rồi! Mình tiêu rồi! Lạnh quá! – Olivia than thở, hai tay liên tục xoa vào nhau rồi tự ôm lấy mình. Cô bé đã từng ngủ ngoài đường phố nhiều nhưng vẫn không chịu nổi cái rét tê tái này, khi biển đang có sóng to gió lớn. Giá như bây giờ có một cái chăn thật dày để cuộn tròn trong đó thì tuyệt biết mấy.

Hơi lạnh của gió biển về đêm cùng sự mệt mỏi khiến Olivia lả đi, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Con tàu băng qua những con sóng và màn sương mù, tiến đến cảng Brighton, nước Anh.

- - - - - - HẾT PHẦN 1 - - - - - -


"Phần 2. Chào mừng tới nước Anh, Olivia van Schoolderwalt" bởi iamDage
Tiếng bước chân ầm ầm khắp tàu và tiếng kêu quang quác của bầy hải âu làm Olivia tỉnh giấc. Cả người cô bé tê cứng — không rõ vì cái lạnh hay vì tư thế cuộn tròn, co ro suốt cả đêm dài. Con tàu chuyển động chậm dần lại, bao nhiêu âm thanh nhốn nháo vang lên. Chúng hòa lẫn vào nhau, rồi to dần tới mức làm rung cả những thùng chứa rượu. Tàu đã cập bến.

Olivia sợ hãi nhìn qua khe hở giữa hai mảnh gỗ, chẳng thấy được gì ngoài toàn bóng người chen chúc qua lại. Nghe tiếng những người hò nhau kéo hàng, tiếng kì kèo qua lại…, cô bé biết mình đang ở một bến cảng, nhưng không phải cảng Rouen, mà là một nơi nào đó thật lạ lẫm và xa xôi.

“Đây là đâu?” – Olivia căng thẳng cắn vào móng tay. – “Nếu ai đó xuống đây, họ sẽ phát hiện ra mình mất!”

Đúng như những gì đứa trẻ ấy nghĩ, tiếng mở nắp rất lớn ở phía trên khiến nó giật mình. Họ kéo tấm cửa, ánh sáng ban ngày chiếu vào đột ngột làm Olivia lóa cả mắt. Hai người thủy thủ nhảy xuống phía dưới chuẩn bị chuyển hàng lên trên, nhận ra có một kẻ đi lậu bé nhỏ đang chui lủi ở đây.

– Thưa thuyền trưởng! – Hai người đàn ông to cao ném Olivia về phía một ông già râu bạc với gương mặt hiền lành. Ông ấy mỉm cười với cô bé đang hoảng sợ.

Một tiếng “Ồ” đồng thanh vang lên, cả đoàn vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy Olivia.

– Chào cháu. – Ông già bỏ mũ ra và hơi cúi đầu. – Cháu có thể nói cho ông biết lý do khiến cháu ở đây không?

Olivia không nói năng gì cả.

– Ông hứa không làm gì cháu đâu. – Thuyền trưởng nhẫn nại an ủi.

– Thưa thuyền trưởng, tôi nghĩ nó bị câm rồi. Lúc nãy chúng tôi cũng hỏi nhưng nó chẳng nói chẳng rằng. – Một trong hai người thủy thủ nói với ông, đấm luôn vào đầu Olivia cho bõ ghét. Cô bé ôm lấy đầu, mặt nhăn nhó lại.

– Cha mẹ cháu đâu? – Thuyền trưởng hỏi Olivia.

Olivia lắc đầu. Điều khiến cô bé lo lắng nhất bây giờ là làm thế nào để chuồn đi thật nhanh trước khi người ta phát hiện ra con bé ấy không chỉ đi lậu mà còn ăn cắp.

– Thật đáng thương! – Thuyền trưởng nói nhỏ. – Cháu có họ hàng hay bạn bè nào để liên lạc không?

Olivia vẫn lắc đầu.

Người thuyền trưởng già nua nhìn cô bé có vẻ ngoài ngây thơ và vô hại ấy với ánh mắt nửa thương xót nửa nghi ngờ. Một con bé xinh xắn, lại ăn mặc đẹp và dùng va li da thuộc; không lý nào nó sống vạ vật nay đây mai đó đến mức phải đi chui lủi như vậy được.

– Cháu bé, nghe này… – Người thuyền trưởng chậm rãi. – Cháu đang ở cảng Brighton, và đây là nước Anh. Ông sẽ tha thứ cho mọi điều cháu đã làm — nếu cháu nói ra sự thật. Ông không muốn nghe bất cứ thứ gì ngoại trừ sự thật, cháu có thể làm được chứ?

Olivia khẽ gật đầu.

– Tốt lắm! Cứ bình tĩnh nhé. Tên cháu là gì nào?

Khẽ hít lấy một hơi ngắn, Olivia nhìn vào đôi mắt nâu đã mờ đi vì tuổi tác của người thuyền trưởng:

– Tên cháu là Olivia, thật lòng cháu không muốn đi lên đây chút nào, chỉ là…

– Chỉ là sao?

– Chỉ là cháu bị người ta đánh ngất xỉu. Sau khi tỉnh lại, cháu thấy mình đang ở đây. – Olivia chỉ nói một nửa sự thật. Nói như vậy thì dễ dàng và đáng tin hơn là bịa đặt hoàn toàn.

– Ra là thế. Cháu có cần chúng ta gọi cảnh sát hay giúp đỡ gì không? – Vị thuyền trưởng tỏ ra thông cảm.

– Dạ, không cần đâu ạ! – Oliva hoảng hốt khi cảnh sát được nhắc tới, linh cảm sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra nếu như cứ tiếp tục nấn ná trên con tàu này. Vừa vô tình nghiêng đầu về bên trái, đứa trẻ dối trá nhận ra ngay ba người thủy thủ đã bê nốt số thùng cuối cùng lên trên và chuẩn bị kiểm lại hàng hóa. Vội vã bắt tay vị thuyền trưởng, nó chạy về phía tấm ván bắc từ tàu tới cầu cảng, nhảy xuống dưới và không quên nói với lên:

– Cháu sẽ ổn thôi. Cảm ơn vì tấm lòng hào hiệp của ông và mọi người!

– Này, đợi đã! – Vị thuyền trưởng gọi Olivia lại nhưng không kịp. Cái bóng bé nhỏ nhanh thoăn thoắt len vào đám đông rồi biến mất như chưa từng xuất hiện.

– Có ai để ý thấy cổ tay Olivia có cái gì đó không? – Thuyền trưởng băn khoăn. – Nó là một dạng ký hiệu hay vạch thì phải.

– Thưa thuyền trưởng, ngài nhìn thấy gì ạ?

– Tôi đã từng thấy nó vài lần rồi… – Thuyền trưởng chau mày.

Trong khi vị thuyền trưởng già vẫn chưa kịp định thần, một người thủy thủ báo cáo:

– Thưa thuyền trưởng, chúng ta mất một chai rượu rồi ạ.

Từ trạng thái băn khoăn, thuyền trưởng chợt chuyển sang giận dữ, gắt lên:

– Cái gì? Mau đếm lại xem nào!

“May mà chạy kịp!” – Olivia thở phào nhẹ nhõm. – “Và giờ mình đang ở một đất nước mà mình chẳng biết nói chút ngôn ngữ nào của họ…”

Cô bé đưa mắt nhìn xung quanh, nước Anh cổ kính là đây sao? Nó thật khác với những gì mà Olivia tưởng tượng. Con người, môi trường, cảnh vật… tất cả đều mang những gam màu trầm đơn điệu trắng-nâu-xám lặp đi lặp lại đầy nhàm chán. Người đi bộ cứ bước, ô tô cứ đi, vó ngựa cứ lọc cọc kêu. Ai cũng mang một khuôn mặt lạnh lùng — trái ngược hẳn với sự hào hoa và nồng nhiệt của người Paris mà cô bé vẫn thấy ở thủ đô nước Pháp rực rỡ nắng vàng. Đứng giữa một con đường đông đúc như vậy, Olivia chợt cảm thấy sao mà lạc lõng, vô vọng và cô đơn.

Do không thể hỏi đường, Olivia chẳng biết làm gì hơn ngoài đi lang thang đó đây và tiện thể ngắm nhìn những cửa hàng ở thành phố cảng. Họ cũng chỉ cung cấp những dịch vụ và nhu yếu phẩm bình thường, chẳng có gì đáng để nhóc phải bận tâm — trừ khi nó muốn lẻn vào kiếm chác. Những mảnh giấy bọc lấp lánh từ cửa hàng kẹo cách đó không xa khiến cổ họng Olivia nuốt ừng ực. Đang mải thả hồn theo trí tưởng tượng, tiếng kèn Trumpet ngân vang đâu đây đánh thức đứa trẻ tò mò. Nó lần theo hướng âm thanh phát ra, thấy một người nghệ sĩ đeo băng bịt mắt đang chơi kèn; đằng sau anh ta là vài ngôi nhà hai tầng kiểu Tudor san sát nhau có tường sơn trắng và nâu gạch, được tô điểm bằng những khung gỗ ốp bên ngoài, có cột ống khói khổng lồ nằm trên mái. Người đi qua thỉnh thoảng ném xuống vài đồng tiền lẻ, họ thậm chí còn chẳng vỗ tay cổ vũ hay xúm đông lại xem.

“Ghi nhớ này, Olivia: Đây là nước Anh…” – Olivia thở dài. – “Thế là hết cả móc túi!”

Nhìn những đồng shilling bằng kẽm sáng lấp lánh vương vãi quanh chiếc hộp đựng kèn của người nghệ sĩ mù, Olivia chợt mỉm cười ranh mãnh.

* * *

Olivia vừa đi vừa tung tăng với cái túi leng keng tiếng tiền xu va vào nhau, tay còn lại cầm một cái bánh mỳ nóng ngút khói. Một chiếc xe ngựa vừa đi tới, nhóc ra hiệu cho người lái dừng lại.

– Parlez-vous français? (Ông biết tiếng Pháp chứ?) – Olivia hỏi.

– Oui. Vers quoi? (Có. Đi đâu?)

– La gare. (Tới nhà ga đi.)

Chờ cho cô bé bước lên và yên vị hẳn; chú ngựa đen thở mạnh một hơi, thong thả phi theo cái giật dây của người cầm cương. Olivia nhìn ra phía bên ngoài, cảnh tượng những con người lạnh nhạt và các tòa nhà im lìm cứ thế lùi dần về phía sau rồi mất hút…

* * *

Olivia đứng trước nhà ga, cố gắng tìm một chuyến tàu có thể đưa mình tới London – nơi nó cho rằng chẳng khá hơn thành phố gần biển này là mấy – nhưng vì ở thủ đô đông người hơn, nên có lẽ sẽ dễ móc túi hơn.

Đếm đi đếm lại đống tiền lẻ, đứa trẻ cảm thấy hơi tiếc rẻ và quyết định dùng chúng để mua lấy tấm vé cho toa tàu hạng bét tới Croydon (một quận lớn ở phía Nam Great London). Nó bước lên tàu, thu mình lại trong một góc và cố gắng tự an ủi bản thân.

“Thôi thì đến đó rồi tính sau!”

Olivia gối đầu vào cái va li và nhắm mắt lại. Con bé đã trải qua một ngày dài.

* * *

Đã hơn hai ngày trôi qua ở Croydon, Olivia không ngờ nó có thể cầm cự được lâu tới như vậy chỉ bằng cách nhịn đói, uống rượu và ngủ ở xó xỉnh cho qua ngày. Cô bé ngồi co ro bên lề đường vắng vẻ, ôm lấy cái bụng đang réo ùng ục rồi ngước nhìn bầu trời u ám, rùng mình vì hơi ẩm của sương đêm. Với sức lực một đứa trẻ chưa đầy mười bốn tuổi, Olivia giờ cầm va li còn không nổi chứ đừng nói là vực được bản thân tiếp tục bước đi.

Olivia nhìn vào chai rượu vang lấy trộm được mà nay đã vơi đi quá nửa, run rẩy rút con dao găm giấu trong cổ tay. Nhóc biết mẹo vặt để mở được nắp chai mà không cần đinh xoắn: chỉ cần cắm đầu con dao vào nút gỗ, cẩn thận và khéo léo ghì mũi dao vào sâu dần rồi kéo lên. Lý thuyết thì như thế, nhưng Olivia lại là đứa vụng về. Còn một chút nữa là nút chai sắp sửa tuột, nhóc ghì hết lực, hất luôn cả cái chai kẹp giữa hai đầu gối xuống đất. Một chút chất lỏng sánh văng ra ngoài, Olivia nhìn chúng với vẻ tiếc rẻ nhưng rồi nhanh chóng nhấp vài ngụm nhỏ.

Từ đường bên kia, vài người đàn ông ăn mặc và trang điểm điệu đà dắt nhau đi vào trong con hẻm tối gần nơi Olivia ngồi. Họ cười nói rất vui vẻ, tướng đi thì quá sức ẻo lả. Chắc họ đều là bạn bè. Đứa con gái rất tò mò muốn biết đằng sau cái ngõ nhỏ đó có phải là một nơi tụ tập vui chơi hay ăn uống gì đó không — nếu đúng, đây quả là cơ hội móc túi tuyệt vời!

Những đám mây xám mỗi lúc trở nên dày đặc hơn, dính chặt lại với nhau. Trời đen sầm xuống, một loạt trận gió nổi lên, cuốn mái tóc bù xù của Olivia ra trước mặt. Mưa rồi! Từng cơn gió mạnh tạt những hạt nước lạnh lẽo bay nghiêng. Chúng hắt vào người, vào mặt Olivia, rát và khó chịu vô cùng. Đứa trẻ lang thang quyết định chạy vào con ngõ ấy. Lúc này, nó chẳng cần gì hơn ngoài một nơi khô ráo.

Lối vào bên trong là một con đường nhỏ chỉ có một chiều đi và một chiều về. Olivia chạy thật nhanh, cố gắng tránh mưa, tự hỏi thứ gì được ẩn giấu tại đây. Rất có thể đó sẽ là điều duy nhất khiến nó không cảm thấy cô đơn khi ở Anh.

“Một cái nhà kho bỏ hoang?” – Olivia ngỡ ngàng.

Trước mặt Olivia là một cái nhà kho rộng vô cùng và cũng bẩn thỉu, hoang tàn không kém. Cô bé nhìn xung quanh: chẳng có bóng người nào ở đó cả. Không lẽ ai đi vào đây cũng đều đột nhiên biến mất? Olivia quan sát một lúc, để ý thấy ai bước tới ngôi nhà ấy đều vòng ra đằng sau rồi mất hút. Nhóc vội vã chạy theo, vừa kịp lúc anh ta nhấc tấm cửa gỗ chắn lối đi xuống dưới hầm. Nhân lúc gã không để ý, Olivia chui lên phía trước, lỉnh vào trong.

Bên dưới, tiếng cười nói vang lên ở khắp nơi, thật náo loạn và ồn ã. Đám đông lẫn cả mùi rượu và mùi khói thuốc nồng nặc khiến bầu không khí ở dưới này quá mức ngột ngạt. Thì ra căn nhà hoang đó chỉ là một cái vỏ ngụy trang cho buổi tiệc dưới hầm. Len người qua những cái lưng và khuỷu tay huých, Olivia chọn một góc thưa thớt nhất và nhìn ngắm những gã cải trang thành phụ nữ đang mải mê nhảy nhót, làm tình, cười đùa và chuyền nhau bơm kim tiêm. Cảnh tượng sa đọa này đã từ lâu không còn làm Olivia sợ hãi nữa. Ngắm nghĩa chán, nhóc chuyển sang để ý tới âm nhạc. Phần lớn giai điệu chỉ là tiếng gõ những tấm kim loại loảng xoảng vào nhau, từng nhịp vang liên hồi nhưng trống rỗng.

“Người Anh thích nghe thứ này sao?” – Olivia chau mày, nhưng bàn chân vẫn giậm theo bước nhịp 4-4 đều đều đầy vui nhộn ấy.

Con quỷ nhỏ Olivia chỉ ngồi lặng yên từ cái xó của nó, quan sát và chờ đợi bất cứ một biểu hiện nào của sự giàu có hớ hênh để có thể nhẹ nhàng “ra tay”. Olivia có thích làm điều sai trái này không? Bản thân nó cũng chẳng rõ. Nhưng nếu không ăn cắp, nó sẽ phải làm gì để tồn tại đây?

Những đôi tay vung lên hạ xuống liên hồi, những bước chân dậm, những khuôn mặt đê mê đến bơ phờ, những cái ôm siết, nụ hôn ướt át… hầu hết những kẻ ưa tiệc tùng đều đã quá bận với việc của chúng để có thể chú ý tới một con oắt đang lai vãng ở nơi chỉ dành riêng cho người lớn. Một cô gái trẻ đứng tại quầy rượu tồi tàn để gọi hai li Scotch, chợt giật mình linh cảm có thứ ánh sáng đỏ quắc nào đó hướng về phía mình từ đằng sau. Cô quay người lại: không ai ở đó cả.

“Đây rồi!” – Olivia nhìn thấy một người mặc áo trắng, môi son đỏ chót, lả lướt đi tới nơi bán đồ uống. Hắn sẽ không có gì để cô bé chú ý nhiều nếu như không đeo chiếc nhẫn vàng trên tay.

Olivia lấy một chiếc cốc còn thừa ở cái bàn gần đó, chạy xô vào người gã.

– Oh, pardon! Comment vas-tu? (Ôi, xin lỗi! Anh có sao không?) – Cô bé tỏ ra hoảng hốt. Cả chiếc áo trắng ấy giờ đã loang lổ vết tím đỏ.

Chưa kịp để cho người kia phản ứng lại, đôi bàn tay của quỷ nhỏ quờ quạng khắp nơi. Olivia đưa cho anh ta khăn lau bàn, vội vã lỉnh đi.

“Tiền!” – Nó hí hửng nắm chặt chiếc ví da trong tay, toan cất vào túi áo.

– Con này! Định giở trò ăn cắp hả? Không xong đâu! – Ai đó quát Olivia. Hắn nói tiếng Anh nhưng Olivia đoán được ngay cái giọng điệu đằng đằng sát khí ấy.

– Je ne sais rien! (Tôi không biết gì hết!) – Olivia nói to và quay đầu lại nhìn, cố tỏ ra ngây ngốc nhất có thể. Kẻ túm lấy tay cô bé chính là người áo trắng vừa nãy, nhóc con đủ thông minh để hiểu được hoàn cảnh của bản thân vào lúc này.

– Cái gì đây? – Hắn ta giật lấy chiếc ví trong tay cô bé. – Còn chối nữa hả?

Olivia tức tối mà cũng lo vô cùng. Kể từ ngày biết được bí quyết “hành nghề”, chưa bao giờ nó bị phát hiện cả! Có lẽ đôi bàn tay run rẩy vì đói đã phản bội chủ nhân vào thời điểm sống còn như vậy.

Mọi người xung quanh không để ý nhiều lắm, bởi lẽ bị moi đồ hay moi đồ bị bắt quả tang là chuyện thường xuyên xảy ra ở đây. Những người chấp nhận bước xuống căn hầm này phải tự chịu trách nhiệm cho an toàn của bản thân cũng như việc phải làm quen với tệ nạn, gây gổ và ma túy — một phần không thể thiếu của thế giới ngầm ở London.

– Mày có biết ở đây ăn cắp thì bị xử như thế nào không? – Hắn bẻ ngược tay Olivia lại, cô bé rít lên trong đau đớn.

Một con dao bóng loáng vung lên, hướng thẳng vào Olivia.

– – – – – – HẾT PHẦN 2 – – – – – –


"Phần 3. Người bạn đồng hành" bởi iamDage
Một bàn tay mảnh khảnh giữ lấy cổ tay kẻ chực đâm con dao lại. Olivia không khỏi kinh ngạc ngước lên nhìn vị cứu tinh kịp thời – một chàng trai trẻ.

– Có cái ví tiền thôi mà, cần phải thái quá như vậy không? – Anh ta mỉm cười với gã điệu đà, rồi nghiêng đầu nhìn Olivia. Khẽ vỗ vào vai tên cầm dao, anh đẩy hắn ra xa một chút. – Lấy được ví rồi thì đi đi.

Olivia trân mắt nhìn hai người đó, chẳng hiểu họ đang nói gì.

– Cưng gặp may đấy! – Anh ta nói, chạm vào một lọn tóc xoăn của Olivia. – Anh là John-Michael, gọi Michael thôi cũng được.

– Je ne parle pas anglais. (Tôi không nói tiếng Anh.) – Olivia vội vã đáp lời.

– À… –John-Michael thốt lên một tiếng rất khẽ.

Vị cứu tinh túm lấy tay Olivia và kéo cô bé đi theo, vừa lôi vừa thao thao bất tuyệt. Olivia không biết làm gì hơn ngoài việc bất đắc dĩ lẽo đẽo chạy theo sau. Hai người ngồi tại chiếc bàn nhỏ ở một góc khuất người qua lại. John-Michael mải nói chuyện liên mồm, mặc cho cô bé khổ sở ngồi cạnh mình hoàn toàn chẳng biết gì.

– Bé đáng yêu thật đấy! – John-Michael tự quấn một điếu thuốc lá lại rồi hút, phả khói gần Olivia. – Tại sao một người không biết chút tiếng Anh nào như bé cưng lại ở nước Anh?

Olivia im lặng, cố gắng tránh mặt sang hướng khác. Thứ khói ấy thật khó chịu.

– Anh chẳng biết nói chút tiếng Pháp nào đâu. Đúng là nó gợi cảm thật, nhưng phức tạp và đau đầu lắm! Vous êtes à, hay Êtes-vous…? Cứ loạn hết cả lên!

Olivia khẽ bật cười vì cách phát âm ngọng nghịu của kẻ lắm mồm này.

– Cười rồi kìa! Cưng hiểu anh nói gì chứ? – John-Michael cũng cười theo. – Cưng bao nhiêu tuổi vậy?

Olivia vẫn im lặng, liếc nhìn đôi mắt nâu vàng hổ phách hơi xếch lên của John-Michael – một đôi mắt sắc nét mà vô hồn. Không rõ do ánh sáng dưới ấy yếu hay vì những ánh đèn nhập nhòe, nhưng người thanh niên này trông thật là tái nhợt. Sự suy xét của cô bé bị cắt ngang bởi cảm giác lạnh ngắt từ cái nắm bàn tay của John-Michael và điệu cười man rợ mà hắn cất lên.

– … Cưng à, đi theo anh đi. – Hắn nhìn chòng chọc vào Olivia.

“Kẻ ngốc cũng phải biết thế này là không ổn rồi!” – Olivia lo lắng, vội vã giằng ra khỏi bàn tay gầy gầy ấy, bước lùi lại đằng sau. Cứ lùi hai bước, John-Michael lại tiến tới hai bước.

– Đừng sợ, – Hắn vén tóc Olivia lên tai cô bé – anh không cắn đâu mà!

Olivia chạy vụt đi; len qua những con người đang lắc lư, quấn chặt lấy nhau trong mơ màng; cố tìm ra lối thoát. Cánh cửa nhà kho bật tung ra, cô bé vừa chạy vừa thở hổn hển, hơi ngoái đầu lại để nhìn kẻ đuổi sau mình đã đi tới đâu. Thấy hắn vượt qua được đám đông, Olivia thở gấp, ba chân bốn cẳng chạy tiếp.

Buổi đêm ở London thật là quái đản, hay chính bóng tối và ánh trăng mờ với những đám mây nhẹ nhàng lồng qua khiến khung cảnh lúc nào cũng ma mị như vậy? Những con ngõ, khúc quanh có vẻ rộng hơn và dài ra; từng trận gió lạnh kéo theo màn sương mờ xuống thấp, bay giăng mắc qua những căn nhà mái ngói. Một mùi tanh nồng ở đâu đó thoảng qua khiến Olivia cảm thấy buồn nôn và choáng váng. Cô bé tội nghiệp không biết phải chọn lối nào để đi. Lạc đường, bối rối và sợ hãi, Olivia lo tên John-Michael bệnh hoạn ấy sẽ đuổi kịp mình, đành chọn bừa một ngã rẽ mà chạy tiếp.

– ÒA! Bỏ đi sớm vậy? – John-Michael nhảy từ đâu ra ngay trước mắt Olivia, định với tay lên túm lấy cô bé.

Olivia hoảng hốt quay đầu lại, tiếp tục chạy thục mạng.

“Chẳng phải thú vị hơn khi chứng kiến con mồi hoảng loạn rồi kiệt sức mà chết dưới răng nanh của kẻ đi săn?” – John-Michael chậm rãi bước theo sau.

Hắn không sai. “Con mồi” của hắn lúc này thật sự đã kiệt sức và rối trí. Cứ lối này lại dẫn tới ngả kia, chằng chịt và rối rắm như một mê cung không điểm dừng. Olivia không hiểu — khi cô bé mới bước vào, con ngõ đâu có rắc rối như thế? Cái mùi tanh kia lại xộc lên, mỗi lúc một nồng hơn khiến trống ngực Olivia đập loạn liên hồi. Cô bé dừng lại, sững người trước cảnh tượng kinh hoàng: Một cái xác nằm dài dưới đất, xung quanh lênh láng máu, nhưng, đáng sợ hơn cả là cái bóng đen đứng phía sau xác người kia chợt ngẩng lên nhìn Olivia. Cái bóng nhìn đứa trẻ, hơi bất ngờ trong giây lát, rồi ngay lập tức bình lặng trở lại. Đôi mắt xám ấy không hoang dại như kẻ vừa mới đuổi kịp Olivia và đứng sau cô bé ngay lúc này.

Olivia nuốt khan. Phía trước là một người bí ẩn — rất có thể là kẻ giết người, phía sau cô bé là tên có ý đồ hãm hiếp. Không còn đường chạy, không còn nơi ẩn nấp, có phải Olivia đã rơi vào bước đường cùng?

– Không còn đường thoát đâu, bé yêu à!

“Đừng khóc! Đừng khóc!” – Olivia nắm chặt hai tay. Cô bé quyết dù có chết cũng không được chết trong bộ dạng thảm thương.

Bóng đen lướt qua, che hết tầm nhìn của Olivia.

– Biến đi. – Giọng nói vang lên chậm rãi nhưng dứt khoát.

– Đây không phải việc của mày! – John-Michael hất hàm.

Olivia không thể hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra. Cô bé thậm chí còn cảm nhận được tim mình đang đập thình thịch theo từng giọt mồ hôi chảy ròng ròng trong lòng bàn tay. Đứa trẻ hoảng loạn không biết làm gì ngoài cắn móng tay, vẫn run như cày sấy.

– Mày không biết mày sắp sửa đối đầu với ai đâu. – Bóng đen lạnh lùng đáp. – Nếu là tao, tao sẽ chạy ngay khi còn có thể.

Người đứng cạnh xác chết nhìn xuống bàn tay cầm chiếc ô ngoại cỡ của mình, rồi lại nhìn lên kẻ đối diện.

Liếc thấy chiếc ô của tên phá đám đó rồi nhìn xuống cái xác nằm ngập trong vũng máu, cặp lông mày quặp lại của John-Michael dần giãn ra. Hắn quay lưng bỏ đi, không quên buông lời hằn học:

– Cứ chờ đấy bé yêu!

Đợi cho John-Michael đi hẳn, bóng đen kỳ lạ mới quay về phía cô bé Olivia. Kẻ đó bỏ mũ để chào: lại là một nam giới khác.

– Không được lại gần! – Olivia sực tỉnh, hoảng hốt rút dao ra chĩa về phía anh ta.

– Đừng lo! – Người đàn ông trẻ ấy bước lùi lại, giơ hai tay lên cao.

– Anh biết tiếng Pháp? – Olivia ngạc nhiên khi nhận ra người ấy có thể hiểu được những điều cô bé nói và phản hồi lại.

– Tôi nói rất trôi chảy.

– Nói đi, làm sao tôi tin được anh? – Olivia nói lớn, vẫn chĩa dao ra. – Tên kia vừa cứu tôi và đã muốn cưỡng bức tôi ngay sau đó. Làm sao để tôi biết anh cũng không có ý đồ tương tự?

– Tôi không biết… – Anh ta nhìn xuống phía dưới, hướng về phía cái xác đã cứng và lạnh ngắt. – Nhất là sau những gì cậu đã nhìn thấy.

Dù John-Michael không còn ở đây, Olivia vẫn chưa thể lấy lại được bình tĩnh. Cô bé nhìn người đàn ông đứng trước mình rồi nhìn xung quanh trong sự dè chừng. Lối ra khỏi con ngõ ấy chỉ cách Olivia hơn vài chục bước đi — điều gì đã khiến chúng trở nên chằng chịt một cách hoang đường đến thế?

– Người kia không phải do anh giết? – Olivia hỏi.

– Không. – Anh khẽ lắc đầu, tiến lại gần Olivia. – Nghe này, hãy cất con dao đi, được không? Tôi sẽ không làm gì cả.

Olivia chợt hạ thấp tay xuống. Cô bé không hiểu tại sao mình lại làm vậy.

– Mọi thứ không như cậu nhìn thấy đâu. Làm ơn hãy để tôi giải thích. – Anh chàng ấy nói nhẹ nhàng với Olivia, cố tỏ ra kiên nhẫn hết mức. – Chúng ta tới đâu đó nói chuyện được chứ? Một nơi nào đó đông người, để cậu thấy yên tâm?

– Được thôi… – Olivia e dè. Người này liệu có thật sự là muốn giúp đỡ cô bé, hay gã cũng lại muốn có gì đó đổi lại?

* * *

Olivia được đưa tới một quán ăn, ở đó không quá đông người nhưng cũng đủ để chứng kiến và gọi cảnh sát nếu có chuyện gì đó xảy ra. Vậy chắc cũng yên tâm hơn. Người phục vụ bưng ra hai đĩa mỳ Ý – món Olivia đã chọn. Anh chàng áo đen nhìn Olivia ăn ngon lành với ánh mắt lờ đờ không rõ vì mệt hay vì buồn. Chờ cô bé ăn xong, anh mở lời:

– Chúng ta, nói chuyện được chứ?

– Được. – Olivia gật đầu.

– Xin tự giới thiệu bản thân, tôi là Reginald. – Anh chìa tay ra cho Olivia bắt lấy. Bàn tay anh đeo găng trắng.

– Olivia van Schoolderwalt. – Olivia lắc nhẹ tay Reginald. – Anh bao nhiêu tuổi vậy?

– Tôi? – Reginald ngập ngừng, nhìn xuống chiếc đĩa vẫn còn nguyên vẹn của mình. – Tôi mười lăm tuổi.

– Cái gì? – Olivia cười lớn. – Anh nghĩ ai sẽ tin anh?

– Sao không? – Reginald ngạc nhiên.

– Anh phải hơn hai mươi lăm rồi ấy chứ. Đừng nói là mười lăm, không ai tin đâu! – Olivia vừa nói vừa lấy tay lau nước mắt.

– Một số người trông già hơn tuổi thật của họ. – Reginald chống cằm. Cậu cầm dĩa đảo qua đĩa mỳ, vẫn không chịu ăn.

Reginald im lặng nhìn những bức tường xung quanh. Cậu ta trước đó đã từng nói rằng muốn giải thích cho Olivia nhưng giờ lại cố tình lảng tránh sang chuyện khác. Sau màn giới thiệu không thành công, Reginald không biết phải đề cập tới vấn đề gì cho phù hợp. Nhận ra sự nghiêm túc từ phía người đối diện, Olivia cũng không dám cười nữa.

– Reginald, cái ô đó—nó có gì đặc biệt vậy? – Olivia lân la, hướng mắt về phía chiếc ô to cũng màu đen được đặt trên va li bên dưới chân Reginald.

– Nó chỉ là cái ô bình thường thôi. – Reginald nhìn xuống vật phía dưới, thứ chính cậu đã dùng để dọa tên vừa nãy.

– Lạ thế?

Mải ngắm đôi mắt Reginald – trong bóng tối không rõ chúng mang màu xanh ánh thép hay màu xám – Olivia quên mất điều tiếp theo mình định nói là gì. Reginald có vẻ chân thành, nhưng đôi chút xa cách và nhút nhát. Cứ mỗi khi cô bé nhìn vào đôi mắt ấy, hình như lại làm Reginald cảm thấy ngượng ngùng và muốn tránh đi.

Với một người sở hữu mái tóc tối màu được chải gọn một bên và bung xòa vài lọn ra phía trước theo đường ngôi — trông hơi phá cách, kiểu thời trang của Reginald lại rất truyền thống. Cậu ấy mặc hai lớp áo khoác dài màu đen vừa vặn với người, để lộ một ít phần gi-lê cũng đen thẫm phía trên — hẳn sẽ dễ bị hòa lẫn với màn đêm nếu không có chiếc áo sơ mi trắng bên trong được gắn cổ cồn dựng cao cùng ascot (khăn lụa cho nam) màu rêu làm điểm nhấn. Reginald nói chuyện với phong thái rất dè chừng, đôi khi còn ngắn gọn và kiểu cách. Với Olivia, Reginald mang vẻ gì đó gò bó, thậm chí là kém thật lòng.
Trong tâm trí Olivia lúc này gần như chỉ toàn là những băn khoăn và phỏng đoán về một cậu bạn tẻ nhạt mới quen – kẻ tình nghi giết người mà cô bé đã từng nhắc nhở bản thân phải nghi ngờ. Nếu Reginald là tội phạm, cậu ta sẽ là tên tội phạm nhàm chán và kém thân thiện với nạn nhân nhất. Đáng ra Reginald nên làm gì đó để gây dựng lòng tin và tình cảm với Olivia để còn dễ bề dụ dỗ chứ? Nếu Reginald không có ý định dụ dỗ, chắc cậu ấy cũng không phải người xấu xa.

– Cậu là người London, Reginald? – Olivia cầm khăn lên lau miệng.

– Đúng vậy. – Reginald gật đầu.

– Nhà cậu ở đâu?

– Không phải ở đây. Tôi đang trên đường về nhà mình, ở vùng ngoại ô London. – Reginald thành thật. – Bây giờ cũng khá muộn rồi…

Reginald lấy ra trong túi áo của mình một chiếc đồng hồ cầm tay bóng loáng và nhìn vào nó. Phần vỏ – Olivia không rõ là bằng bạc hay bạch kim – được chạm khắc một đường viền hoa leo vô cùng mảnh và mềm mại, lồng phía trên cùng sợi xích to hơn dây chuyền một chút. Nó tỏa ánh sáng lấp lánh nhè nhẹ, rất bắt mắt, rất hấp dẫn đối với một đứa trẻ đang sẵn nghề móc trộm. Nhận ra suy nghĩ tham lam của Olivia qua cái cách cô bé nhìn vào vật tròn nhỏ màu bạc sáng trên tay mình, Reginald đóng nắp đồng hồ lại rồi bỏ nó vào trong người, vờ như không biết gì.

– Cậu biết không, Reginald, tôi cũng đang trên đường đi tới vùng ngoại ô London đấy. – Olivia nói dối. – Chúng ta có thể làm bạn đồng hành chứ?

– Cậu chắc không? – Reginald hỏi, dù cậu chẳng quan tâm tới câu trả lời. – London có nhiều lắm…

1

London là một thành phố với 33 “thành phố” nhỏ hơn trong lòng nó. Mỗi nơi lại có chính phủ, hệ thống trường học, vùng trung tâm, ngoại ô, và ý thức bản sắc riêng. Tuy nhiên, thị trấn Forest Hill trong truyện chỉ là một vùng đất giả tưởng và không liên quan nhiều tới Forest Hill ngày nay.

“Chết thật!” – Olivia thầm nghĩ, không ngờ Reginald lại cảnh giác đến thế.

– Vậy, cậu định tới nơi nào, Reginald? – Olivia chữa lời.

– Forest Hill.

– Đúng rồi! Tôi cũng định tới đó! – Olivia vội vã đáp lời, gật đầu lia lịa. Ngoài cái tên của thị trấn khỉ ho cò gáy nào đó mà Reginald nói, đứa trẻ lừa đảo này cũng chẳng biết nên đi về đâu. Dù sao có người đi chung đường vẫn tốt hơn là phải lang thang một mình.

– Vậy thì chúng ta tất nhiên có thể làm bạn đồng hành. Tôi sẽ đi vào sáng sớm mai, trước khi mặt trời mọc.

Olivia lúng túng. Cô bé còn chưa quen với phong tục sống và con người ở đây, sự mệt mỏi vẫn đang ám lấy thể xác và cả tinh thần — vậy mà Reginald đã giục phải đi ngay vào sáng sớm ngày mai?

– Sao sớm vậy? – Olivia lo lắng. – Cậu đang vội?

– Một chút, Olivia ạ. – Reginald đứng dậy. – Chúng ta đang ở Croydon — nơi nổi tiếng với nhà kho, tiệc tình dục về đêm và tỉ lệ tội phạm cao khủng khiếp.

– Vậy ta phải đi càng nhanh càng tốt! – Olivia lại gật đầu. John-Michael là một bằng chứng không thể chối cãi về nạn hiếp dâm, hắn khiến cô bé khiếp hãi.

– Cho phép tôi trả tiền. – Reginald rút chiếc ví dày cộp ra và bước tới bàn người chủ quán.

Olivia chống cằm nhìn theo cái túi áo đi xa dần của Reginald, tự hỏi liệu Reginald có phải là con nhà giàu, và cái đồng hồ đó đáng giá bao nhiêu. Với khả năng móc túi khéo léo và vẻ dễ gần của mình, đứa trẻ ấy tin rằng việc lấy được cái đồng hồ đẹp đẽ từ tay Reginald chỉ là vấn đề thời gian.

* * *

Reginald và Olivia cùng nhau đi bộ, mỗi người lại mang theo một chiếc va li trên tay; riêng cậu bạn già trước tuổi cao ráo thì có thêm cái ô to lồng giữa hai quai va li.

– Reginald, chúng ta bao giờ mới tới vậy? – Olivia thắc mắc. Đường đi lối lại của cô bé lúc này phụ thuộc hoàn toàn vào người bạn đồng hành.

Reginald im lặng; đôi mắt lơ đãng cứ thỉnh thoảng lại nhìn lên bầu trời đen, về phía vầng trăng sắp đạt tới hình tròn hoàn hảo đang chiếu sáng còn rõ hơn ánh đèn đường trong bóng tối.

– Tôi rất vui vì có ai đó bên cạnh lúc này, cậu biết đấy. Tôi chẳng biết tẹo gì về đường xá cả. Cứ thử tưởng tượng đi lòng vòng quanh khu này cả tháng trời xem! Có một người bạn đi cùng để chỉ đường và nói chuyện đỡ cô quạnh biết mấy.

Reginald vẫn không nói gì. Lần này cậu nhìn xuống đất.

– Reginald… Reginald… – Olivia gọi vu vơ — rồi gần như mất hết bình tĩnh, cô bé gắt lên. – REGINALD!

– Rất xin lỗi! – Reginald giật mình. – Tôi tảng đi mất.

– Cảm ơn vì đã trở lại Trái đất. Cậu nghĩ gì vậy? – Olivia bực dọc.

– Không có gì đâu.

– Thôi nào! – Olivia năn nỉ. – Nói cho tôi biết đi. Tôi muốn biết.

Reginald ngần ngại nhìn Olivia, lấy tay gãi đầu và ngập ngừng:

– Thật lòng cậu không muốn biết đâu.

– Có gì mà phải giấu! – Olivia vẫn bướng bỉnh. – Tôi không ngại được chia sẻ đâu.

– Thôi được, tôi đang nghĩ tới chuyện kiếm đâu ra xà phòng và bàn chải cho chúng ta vào lúc này. – Reginald miễn cưỡng trả lời.

– Cái, cái đó… – Olivia đỏ bừng mặt, vội vã nhìn xuống cái cổ áo cáu bẩn vì mặc lâu ngày rồi lấy tay gỡ mái tóc rối bết của mình. Đúng là cô bé hơi hối hận vì đã ép Reginald nói ra điều cậu ấy không muốn. Suy cho cùng, Olivia cũng đâu cần phải nghe câu trả lời ấy. Giờ thì cô bé thấy mình thật thiếu tế nhị và khó xử.

– Xin lỗi, đáng lẽ tôi không nên thúc cậu, Reg. – Olivia gãi đầu. – Tôi gọi cậu là Reg được không?

– Không! – Reginald chợt gắt lên.

Olivia giật mình. Phản ứng vừa xong quá nhanh và quá dứt khoát — trái ngược hẳn với hình ảnh bình tĩnh và trầm lặng Reginald vẫn duy trì trong mắt Olivia cho đến lúc này. Olivia hoang mang không biết có phải vì Reginald bị mình hối thúc đến mức mất bình tĩnh, hay là do cậu ta không thích bị gọi như chú cún cưng.

Reginald chuyển chiếc vali sang tay trái và vén mái tóc mình lên. Khẽ thở dài, cậu quay mặt đi hướng khác, nói nhỏ:

– Tôi cũng xin lỗi.

“Có lẽ lúc này im lặng là vàng!” – Olivia sợ hãi. – “Chỉ sợ hắn lại nổi khùng lên rồi bỏ mình ở đây.”

Nhưng đó chỉ là suy nghĩ của Olivia, còn thực tế thì ngược lại. Để kìm nén bản tính ưa nói chuyện, cô bé bắt chước người đi bên cạnh, hết nhìn những ngôi nhà im lìm san sát nhau, rồi lại ngước lên trời, rồi lại nhìn Reginald. Không gian im ắng đến nỗi Olivia có thể nghe được cả tiếng dế kêu và âm thanh vi vu đến rợn người của gió, chợt thấy bồn chồn. Cô bé căm ghét sự yên lặng, không khí lạnh lẽo và bóng tối. Giờ chúng còn kết hợp với nhau, nỗi khiếp sợ tăng lên gấp bội, khiến tâm trí cô bé trở nên bất an và kéo theo cả một chuỗi những tưởng tượng không đáng có. Và, Olivia cuối cùng đã nhận ra, Reginald giao tiếp với mình chẳng vì mục đích nào khác ngoài tỏ ra lịch sự. Nếu cô bé không gợi chuyện, cậu ta chẳng buồn hé răng nửa lời. Xem ra, giữ im lặng là một điều hoàn toàn bất khả thi với đứa trẻ này. Reginald chẳng có vẻ gì là quan tâm tới Olivia hay có nhu cầu chuyện trò hết, thậm chí còn thoải mái vì không bị làm phiền là đằng khác.

“Thằng lập dị!” – Olivia chợt thấy ấm ức, cố ngăn hai bàn tay mình đừng run lên cầm cập vì rét.

– Vậy… Reginald, chúng ta cứ đi cả đêm như thế này hay là tìm chỗ để nghỉ tạm? – Olivia cuối cùng lại nói, cô bé không thể nhịn nổi nữa. – Tôi chỉ hỏi như vậy thôi, mọi chuyện là tùy cậu quyết định…

Reginald nhìn vào gương mặt đã xám ngắt lại vì lạnh của Olivia, cảm thấy lo lắng. Cậu sợ Olivia sẽ bị ngất đi hoặc đổ bệnh vì rét và quá sức, nhưng cố giữ mặt mình bình tĩnh hết mức có thể. Đâu có tự nhiên chút nào khi quan tâm thái quá tới sức khỏe của một người chỉ vừa mới gặp.

– Cậu trông mệt rồi đấy. – Reginald cất giọng đều và ngang ngang.

– À, không đâu! Tôi không muốn làm phiền cậu. Tôi trông thế thôi chứ thức đêm giỏi lắm! – Olivia cười gượng, ngay sau đó phải lấy tay che miệng đi để ngáp.

– Tôi vô cùng xin lỗi vì đã gây phiền toái. Nếu tìm được nơi nào đó thì tôi cũng đã…

“Cậu ta nói ‘xin lỗi’ với mình đến lần thứ mấy rồi?” – Olivia đếm thử. Nếu không phải vì cách cư xử dè dặt làm người khác hiểu lầm, anh bạn Reginald này cũng biết quan tâm đấy chứ.

Reginald cầm chiếc đồng hồ cậu lấy ra từ trong người mà không buồn nhìn vào nó. Đã hơn hai mươi ba giờ, cũng nên tìm chỗ tạm dừng chân để lấy sức cho ngày hôm sau.

– Ngã tư… – Reginald nói thầm. – Sao mình không nghĩ ra sớm hơn!

– Gì vậy? – Olivia ngạc nhiên.

– Thường thì khách sạn hay được đặt tại những nơi giao lộ đông người qua lại. Nếu ta tới đó…

– Vậy thì đi thôi!

Olivia mừng hẳn lên, nhanh nhảu chạy vọt về phía trước, khiến Reginald phải đuổi theo sau và nhắc rằng cô bé đang đi nhầm hướng.

* * *

Đúng như Reginald nói, hai con người rã rời như được trút hết mọi đọa đày khi bước chân họ dừng lại giữa một ngã ba đường. Không xa trước mắt Olivia là một khách sạn có dịch vụ cho thuê phòng riêng. Mọi thứ không hẳn quá tốt hay đầy đủ tiện nghi, nhưng với hoàn cảnh hiện tại, vậy là đủ. Biết mình không còn phải ngủ ngoài đường rét mướt, khóe miệng Olivia chếch lên, không giấu nổi nụ cười vui sướng thoáng nét tinh nghịch. Reginald đẩy cửa cho cô bé và bước vào sau. Cậu nhìn về phía người quản lý khách sạn, gật đầu chào hỏi theo xã giao:

– Xin chào.

– Chào mừng ngài tới khách sạn của chúng tôi. – Ông ta mỉm cười với Reginald. – Quý ngài cần gì vậy?

– Ông còn hai phòng liền nhau không?

– Có chứ. Ở ngay trên tầng thưa ngài. Làm ơn ký vào đây… – Ông rút ra hai chiếc chìa khóa, mở cuốn sổ đăng ký phòng đưa cho Reginald, hơi liếc mắt nhìn cô bé phía sau cậu.

Reginald hạ bút, nhận lấy chìa. Cậu tự cắn môi mình, tặc lưỡi mà hỏi:

– Hy vọng ông không phiền. Ông có thể nhờ ai đó mua hộ tôi một cặp vé tàu hỏa tới Forest Hill? Tôi cần đi gấp vào sáng sớm mai, chuyện tiền nong không thành vấn đề.

– Tất nhiên là được, thưa ngài. Ngài còn yêu cầu gì không? – Người quản lý vẫn niềm nở.

– Tôi có thể xin ông thuốc tẩy chứ? Càng nhanh càng tốt. – Reginald nhìn ra xung quanh, hy vọng không có ai nghe được điều đó.

– Mọi thứ sẽ được phục vụ phòng mang lên tận nơi. Chúc ngài ngủ ngon! – Người quản lý nháy mắt và mỉm cười ẩn ý với Reginald.

Reginald lờ đi cái nhìn vừa rồi, quay về phía bạn đồng hành. Cậu đặt tiền lên chiếc bàn tiếp tân, không quên cảm ơn ông chủ khách sạn:

– Cảm ơn ông rất nhiều. Đi thôi, Olivia.

Reginald và Olivia đi lên những bậc thang gỗ dày phát ra từng tiếng cót két theo mỗi lần họ bước. Đứng trước cửa phòng mình, Olivia cười với Reginald:

– Cậu biết mấy giờ rồi không?

Chưa kịp để cho Reginald trả lời, cô bé đã nhanh nhảu:

– Đến giờ ngủ mơ rồi!

– Chúc ngủ ngon, Olivia. – Reginald bật cười trước sự ngộ nghĩnh ấy.

Hai cánh cửa phòng đóng lại, hai nắp vali được mở ra. Olivia đem chiếc áo mới vào nhà tắm; còn của Reginald, nó nhăn nhúm thảm hại và cứng lại vì những vệt máu khô.

Reginald nhận được lọ thuốc tẩy từ tay người phục vụ, cậu cảm ơn anh ta và mang nó vào trong, bắt đầu giặt đồ. Olivia rụt rè nhận những dòng nước lạnh từ vòi hoa sen chảy xuống mái tóc dài bù xù của mình. Dưới chân cô bé, lần lượt từng vệt bụi đất bị cuốn trôi đi. Khi Olivia lấy chiếc áo trắng từ trong va li mặc vào — cổ cồn và áo của Reginald cũng vừa mới được làm sạch lại. Cậu ta đổ cái chậu đựng thứ nước có màu nâu đỏ đục sực mùi thuốc tẩy đi, mở vòi nước ra và bắt đầu rửa mặt. Reginald nhìn vào hình ảnh phản chiếu đầy mệt mỏi của bản thân trong gương. Trút hơi thở não nề, cậu lấy khăn lau mặt.

Olivia nằm lăn trên chiếc giường được trải ga trắng phẳng phiu, thở dài và tự ôm lấy hai vai mình. Sau những chặng đường dài, bị bỏ đói bỏ khát; phải nằm co ro tránh rét dưới những chiếc thùng rác hôi hám, chốc chốc lại ho lên và tỉnh dậy giữa chừng vì sốt cao và cảm giác ngứa ngáy do ghẻ lở lâu ngày… những điều tưởng chừng rất bình thường như một chiếc vòi sen và cái giường ấm bỗng trở nên quý giá biết chừng nào.

Mái tóc của Reginald lúc này đã rũ hết xuống, sũng ướt.

* * *

– Cậu đi đâu vậy? – Đúng lúc Olivia mở ưcửa phòng mình, cô bé nhìn thấy Reginald cũng vừa đi ra. Tóc cậu ta vẫn còn ướt.

– Không có gì đâu. Đừng đi theo tôi. – Reginald cười gượng. – Chuyện đàn ông ấy mà.

“Mới mười lăm tuổi đầu, đàn ông cái khỉ gì?” – Olivia nhìn theo cái dáng cúi khòng của Reginald đi xuống phía dưới. – “Mà thôi, kệ người ta!”

Và thế là Olivia trở về phòng, cố gắng chợp mắt.

– Xin lỗi, lại là tôi đây. – Reginald ngượng nghịu nói với người quản lý khách sạn. – Ông có thể cho tôi biết đường tới quán rượu gần nhất được không? Và nếu ông không ngại, có lẽ là khu “đèn đỏ” nữa?

– Ngài thật là! – Ông quản lý cười lớn. – Mà tôi tưởng ngài với cô bé kia…

– Uh uh. – Reginald lắc đầu.

– Ngay cuối phố thôi, thưa ngài. Nhưng tôi khuyên ngài không nên tới đó.

– Sao vậy? – Reginald thắc mắc.

– Ờm, gần đây tình hình an ninh không ổn cho lắm. Vài vụ án mạng đã xảy ra ở những khu vực đó. – Chủ khách sạn nói nhỏ. – Nếu ngài muốn uống rượu thì cứ ở đây cũng được rồi, đừng đi đâu xa vào lúc khuya khoắt thế này.

– Vâng, có lẽ tôi nên chọn giải pháp an toàn. – Reginald gật đầu. – Tôi thật sự muốn say túy lúy tới mai luôn.

– Tôi nên lấy cho ngài loại gì nào?

– Có lẽ là Absinthe nguyên chất và Moonshine đi. Lamb’s Navy Rum thì càng tuyệt vời nếu ông có.

Người phục vụ bưng ra một chiếc khay với ly thủy tinh và vài chai đồ uống nặng mà Reginald đã yêu cầu.

– Cảm ơn. – Reginald nhận lấy chiếc khay, để ý một cô bé hay bám theo sau người phục vụ, có lẽ khoảng năm hay sáu tuổi.

“Nhiều án mạng hả? Ta không ngạc nhiên đâu.” – Reginald bắt đầu uống. Cậu vốn chỉ hỏi bâng quơ như vậy để thăm dò, giờ thì mọi thứ đã rõ. – “Mày phải cẩn thận đấy, Reginald!”

Không lâu sau cái cảm giác lâng lâng mà Nàng tiên xanh (cách gọi khác của Absinthe) đem lại, trực giác Reginald mách bảo có ánh mắt đang theo dõi mình. Cậu nhìn về phía sau và nhận ra lại là bé gái ban nãy. Em bé cứ nhìn mãi, cặp mắt ngơ ngác toát lên vẻ hiếu kỳ.

– Tai ngài nhọn thế! Ngài có phải là Yêu tinh không? – Em bé hồn nhiên hỏi.

– Yêu có tóc đỏ nhé. – Reginald chống tay lên cằm. – Tóc ta thì màu đen và thực lòng ta cũng muốn tìm ra được hũ vàng lắm.

– Ngài có phải là hoàng tử không?

– Không, ngốc ạ. – Reginald cười nhẹ.

– Ngài đã giết ai bao giờ chưa?

Reginald đột nhiên dừng việc thưởng thức lại. Cậu nhìn thứ chất lỏng màu xanh ngọc lấp lánh đang sánh lên trong ly, tự hỏi có phải mình vừa nghe nhầm. Trẻ con, chúng thật là vô tư — luôn nói ra điều chúng nghĩ, chẳng phải lấp lửng, che đậy làm gì.

Cô bé ấy bước lùi về phía sau, ánh mắt vẫn dõi theo Reginald. Kéo lấy tay người phục vụ, em nói nhỏ:

– Bố ơi, ngài ấy trông đáng sợ quá!

Người bố nhìn theo đứa con gái về phía gã đàn ông trẻ đang ngồi uống rượu một mình. Rõ ràng đó là những loại đồ uống mà chỉ các văn-nghệ sĩ sầu đời, hoặc đơn giản chỉ là những kẻ điên lắm tiền muốn tự sát, mới hay dùng; không một người bình thường nào lại đi chọn chúng cả. Ông vội bế con gái mình lên, nhìn Reginald một cách dè chừng mà nói:

– Rất xin lỗi đã để con tôi làm phiền ngài.

– Ồ, không sao đâu. Ông có một cô gái nhỏ thật đáng yêu. – Reginald nhìn người phục vụ. Ông ta hơi khó chịu với sự lạnh lẽo và miễn cưỡng trong giọng nói và thái độ của Reginald.

“Mình nên xử lý hết chỗ này trước khi con bé Olivia đó mò dậy và bắt đầu thắc mắc lung tung.” – Reginald nhìn vào chiếc đồng hồ, rồi cứ lần lượt nốc từng ly một, không ngừng nghỉ. – “Sắp có trăng tròn…”

Olivia lúc này đã ngủ say. Trái với sự thư giãn mà giấc ngủ mang lại, gương mặt cô bé vô cùng căng thẳng, hai tay túm chặt lấy ga giường, toàn thân co quắp. Một dòng nước nhỏ chảy ra từ khóe mắt Olivia, lăn dần xuống gối. Hẳn là cô bé đã nhìn thấy gì đó rất đáng sợ trong giấc mơ của mình.

– Không… – Olivia nói thầm trong mê man.

* * *

Reginald chống tay lên mặt bàn, run rẩy đứng dậy. Gương mặt cậu nhăn nhó và thẫn thờ. Toàn bộ số cồn trong khay giờ hoàn toàn không còn dù chỉ là một giọt. Xung quanh cậu, mọi thứ đã được quét dọn gần như tươm tất để chuẩn bị cho một ngày mới với những vị khách mới. Bầu trời đen kịt giờ đang chuyển sang sắc xanh lam đậm, từ giờ đến lúc mặt trời ló rạng cũng không còn lâu nữa.

– Bao nhiêu tiền vậy? – Reginald lảo đảo bước, giọng như sắp nôn ra đến nơi.

Rồi cậu ngã gục xuống đất.

– Ngài không sao chứ? – Những người phục vụ hoảng hốt chạy lại đỡ lấy Reginald.

– Chúa ơi, tính tiền rồi đưa cho hắn vé tàu hỏa mà tống khứ khỏi đây mau lên! – Người quản lý tỏ ra khó chịu, thái độ của ông trái ngược hẳn với lúc trước. – Không được để ai thấy khách sạn của chúng ta có những kẻ như thế này!

Nghe thấy tiếng ồn ào và nhốn nháo của mọi người, Olivia chạy ra ngoài. Nhìn thấy Reginald đang nằm co ro dưới nền đất cùng đống vỏ chai vương vãi, vô cùng tức giận, cô bé gắt lên:

– Reginald! Cậu làm cái quái gì vậy?

– Absinthe, Lamb’s, và Bacardi 151? Tên này nghĩ hắn là ai chứ? – Tiếng cười nói lầm rầm của những người tiếp tân vang lên. – Hắn điên thật rồi!

– Reginald! Đứng dậy mau lên đồ không biết xấu hổ! – Olivia lại gần Reginald và kéo cánh tay nặng nề kia lên, lắc đầu ngán ngẩm. – Cậu đã hứa hôm nay sẽ đưa tôi tới Forest Hill đấy!

– – – – – – – HẾT PHẦN 3 – – – – – –


"Phần 4. Cổ cồn đỏ" bởi iamDage
Reginald nép sát vào một góc trong toa tàu, nơi ánh sáng mặt trời không thể chiếu vào người cậu. Olivia nhìn thấy, nhưng nghĩ cậu ta chỉ mệt nên không thắc mắc thêm. Vẻ mặt Reginald lúc này trông có vẻ khá hơn khi còn ở khách sạn.

– Tôi thấy cậu có cả vỏ chai 151 trên bàn. Hoặc là cậu bị điên, hoặc là cậu chỉ mua một đống rượu rồi nốc bằng sạch mà chẳng quan tâm đến việc chúng kết hợp với nhau sẽ tạo ra vị như thế nào. – Olivia bật cười nhìn Reginald.

Reginald im lặng.

– Absinthe nguyên chất? Chẳng mấy ai dùng thứ đó mà không phải pha loãng ra cùng đường chứ đừng nói là còn kết hợp với rượu khác nữa! Sao cậu có thể uống được? Cậu đã gặp may với cô gái nào chưa?

– … Không, các cô gái ghét tôi. Tôi chọn Absinthe chỉ vì tôi thích màu xanh ấy. – Reginald khẽ lắc đầu và cười ngại ngùng, thấy không thoải mái chút nào khi một người không quen biết cứ nói liên tục như vậy. – Cậu có vẻ—am hiểu, Olivia. Từng uống chúng rồi à?

Olivia lắc đầu.

– Đắng lắm! Nếu lần sau cậu muốn thứ gì màu xanh, tôi xin gợi ý Chartreuse. Thật sự không ngờ cậu vẫn còn đủ sức để trò chuyện với tôi tới tận bây giờ đấy.

Reginald lấy ra cặp vé và đưa cho Olivia, nhẹ nhàng nói:

– Cầm lấy và đưa cho người soát vé khi ông ta tới đây, được chứ? Phải hơn mười bốn dặm nữa mới tới Forest Hill, tôi muốn đi ngủ một chút. Khi nào tàu dừng làm ơn hãy gọi tôi dậy. Tôi ngủ say lắm, cứ trùm kín mặt tôi rồi bóp cổ nếu thấy cần thiết.

– Ơ…

Olivia không biết phải phản ứng ra sao khi Reginald chẳng giải thích gì thêm, cứ thế mà nằm xuống ngủ ngon lành. Cô bé nhìn toa tàu riêng mà Reginald đã đặt, tự hỏi anh bạn này phải bỏ ra bao nhiêu tiền để có được một vị trí tốt đến như vậy. Đứa con gái nghịch tóc Reginald và tiện tay tát vào mặt cậu ta, nói lầm rầm:

– Với tốc độ như thế, chẳng mấy chốc mà tới Forest Hill… Sao cậu không chọn thứ gì đi chậm hơn hả? Đến nơi rồi, cậu sẽ về nhà cậu, còn tôi biết đi đâu đây?

“Vé, làm ơn!” – Tiếng gọi làm Olivia giật mình. Nhân viên soát vé đẩy cánh cửa toa tàu ra, nhận cặp vé từ tay Olivia. Ông nhìn anh chàng đang nằm ngủ mê mệt, với đứa con gái tỉnh như sáo bên cạnh.

– Il a passé la nuit sur la corde à linge? (Anh ấy đã trải qua một đêm vất vả?) – Olivia cười gượng và nhún vai.

“Gái Pháp? Chẳng trách!” – Người soát vé tặc lưỡi bỏ đi.

Olivia nhìn Reginald, thở dài:

– Cậu may mắn lắm đấy, cậu biết không? Vì cậu vẫn còn nhà để về, Reginald ạ.

Con tàu lướt đi, rặng cây xanh rì ngả những vệt bóng đen vào nơi Olivia đang ngồi. Cô bé chẳng biết làm gì ngoài đưa hai bàn tay nghịch ngợm những tia nắng chiếu qua khung cửa, thỉnh thoảng lại liếc nhìn Reginald nằm ngủ say.

* * *

Đoàn tàu chạy chậm dần. Olivia rời khỏi ghế ngồi đúng lúc con tàu phanh lại, bị ngã chúi về phía trước theo âm thanh chói tai của kim loại mài lên nhau. Cô bé đứng dậy, lay mạnh vai Reginald mà gọi lớn:

– Reginald, dậy thôi! Đến nơi rồi!

– …

– Reginald, tôi không muốn bóp cổ cậu!

Trạng thái nằm ngay đơ của Reginald khiến Olivia nổi cáu.

– Được! Cậu cứ nằm đấy!

Olivia lấy áo khoác của chính Reginald trùm lên đầu cậu ta, ra sức bóp nghẹt cổ anh chàng đang ngủ. Đúng như mong đợi, Reginald bật dậy, vội bỏ tay cô bé ra.

– Bình thường cậu cũng như thế này hả? – Olivia thắc mắc, tưởng rằng Reginald ngủ li bì như vậy là vì say rượu.

– Đúng vậy. – Reginald vội vã sửa lại đầu tóc và quần áo. – Cậu có muốn ăn gì không?

– Có. Tôi đói lắm! – Olivia gật đầu đầy hào hứng.

Reginald cho tay vào trong túi áo, lần tìm ví tiền. Cậu muốn làm phân tán tư tưởng của Olivia trước khi cô bé có ý định hỏi han thêm điều gì.

* * *

Trời nắng nhẹ và quang mây, thỉnh thoảng lại có một vài cơn gió mùa thu thổi lộng vô cùng mát mẻ nhưng Reginald thì như một kẻ lập dị trong ánh nhìn của người đi đường với cái ô khổng lồ tỏa bóng đen trùm khắp nửa người. Sau một khoảng thời gian ngắn vật lộn với việc hỏi thăm đường xá và đi lại, cậu cũng đưa được Olivia tới một quán trọ phục vụ kèm ăn uống. Tại đây, hai vị khách dùng bữa trưa với khoai tây nghiền và cá mòi – món duy nhất mà nhà trọ ấy có.

– Tôi ghét đồ ăn này! – Olivia than thở, gẩy qua lại đống sền sệt mùi gây tanh trên đĩa. – Sao chúng chán và khó nuốt vậy?

– Ăn đi, Olivia. Còn cả một chặng đường dài… – Reginald mệt mỏi đáp.

– Cậu cũng đâu có ăn, Reginald! Nhìn đĩa cậu đi! – Olivia gắt lên, cảm thấy Reginald thật ngớ ngẩn khi lần nào cũng mua hai phần thức ăn nhưng cậu ta thậm chí còn chẳng động vào cái thìa.

Reginald nhìn xuống chiếc đĩa vẫn còn nguyên của mình, nhận ra không thể nói được gì hơn với Olivia nữa.

– Hãy ăn tạm đi. Chúng ta cần có sức để đi tiếp. Tôi có một tin tốt và một tin xấu, cậu muốn nghe cái gì trước?

– Tốt trước. – Olivia đáp trống trơn.

– Tin tốt, là từ giờ đến chiều tôi sẽ ngủ tiếp nên cậu có thể làm gì tùy ý, miễn đừng đi lạc…

– Còn tin xấu? – Olivia tò mò.

– Tin xấu là tôi sắp hết tiền nên chúng ta sẽ phải đi bộ. – Reginald phũ phàng trả lời. – Vì vậy tôi khuyên cậu hãy im lặng và ăn đi.

– Tôi không tin! – Olivia đập tay lên bàn. – Ví cậu dày thế cơ mà!

Reginald ra hiệu cho Olivia giữ trật tự, lắc đầu.

* * *

Sau bữa trưa qua loa, Reginald muốn thuê phòng để nghỉ lấy sức cho buổi chiều. Kém may mắn thay, số phòng ở tầng hai phân nửa đã bị thuê hết, phần còn lại thì xuống cấp nặn nề. Người chủ gợi ý một chỗ trên gác mái, có hai giường ngủ. Reginald đành chấp nhận. Tới nơi, cậu treo áo khoác lên mắc, xếp va li dưới sàn và nằm co ro lại trong lớp chăn chỉ đủ che hai phần ba cơ thể. Diện tích chật chội của phòng, cùng kích cỡ khiêm tốn của chiếc giường hẳng đủ để một người cao như Reginald cảm thấy thoải mái. Trước khi ngủ hẳn, cậu không quên dặn Olivia:

– Cứ quay lại đây lúc hoàng hôn là được.

– Nghèo mà còn tiêu hoang vào uống rượu! – Olivia nói lầm rầm. Cô bé đi tới khung cửa sổ, ngước mắt nhìn ra con đườn sạch sẽ nhưng vắng vẻ bên ngoài.

– Ở đây chỗ nào cũng giống nhau, cứ dốc lên rồi lại dốc xuống! Tôi biết đi đâu đây, Reginald?

“Có lẽ mình cũng nên nghỉ một chút. Đi cả một buổi sáng rồi còn gì…”

Ngồi tựa lưng vào giường, Olivia lấy tay che miệng ngáp, cảm thấy hai mắt mỏi dần.

– Mẹ, cha, đây là Olivia. Cậu ấy không còn nơi nào để đi cả, chúng ta có thể cho cậu ấy ở lại không? – Reginald nói với một người đàn ông và một người phụ nữ đứng trước cổng ngôi nhà hai tầng, sân trước trồng hoa cẩm tú cầu xanh dọc theo hàng rào trắng. Thật là một ngôi nhà ngoại ô kiểu mẫu!

– Xin chào quý ông và quý bà. – Olivia cười ngại ngùng, hơi cúi đầu chào cha mẹ Reginald, hy vọng sẽ tạo được thiện cảm.

– Cậu ấy không nói được tiếng Anh, nhưng sẽ học dần thôi. – Reginald bẽn lẽn gãi đầu.

– Không. – Người đàn ông lạnh lùng đáp. Chúng ta là những người có địa vị và được giáo dục đàng hoàng, không thể chấp nhận một kẻ lang thang không người thân thích như vậy được.

– Chúng tôi không chào đón những người như cô. Làm ơn, hãy đi đi. – “Mẹ” Reginald cũng phũ phàng trả lời.

Họ đẩy Olivia ra ngoài, ném tung chiếc va li đi như con mụ béo đó và những kẻ khác đã làm với cô bé. Olivia đứng sau chiếc cổng đã bị khóa, cô đơn và lạc lõng; xung quanh cô bé, mọi người bắt đầu chỉ trỏ, cười cợt và bàn tán xì xầm…

“Là mơ!” – Olivia giật mình tỉnh dậy, bỏ chăn sang bên cạnh, nhận ra mình đã ngủ quên, còn Reginald thì thu dọn xong xuôi từ lúc nào không rõ.

– Đi nào. – Reginald nói, mở sẵn cửa ra cho Olivia. Cô bé mặc lại chiếc áo khoác, thở dài và bước đi một cách chậm chạp.

Giấc ngủ ban trưa có vẻ đã mang lại năng lượng cho Reginald. Không còn vẻ ủ rũ và choáng váng — cậu ta đi rất nhanh, mỗi bước chân sải dài và đều giống những người lính đi diễu hành khiến Olivia gần như phải chạy theo để đuổi kịp.

– Chúng ta đi tắt qua đường rừng cho tiện. Cậu thấy thế nào? – Reginald hỏi, nhưng đôi chân cậu thì tiến về phía khu rừng dẫn lên đồi trước cả khi Olivia kịp nói ra rằng cô bé đồng ý hay không.

– Tùy cậu… – Olivia trả lời với vẻ chán nản, nhận ra giây phút mình bị Reginald bỏ rơi càng lúc càng đến gần.

– Vậy thì đi nhanh lên, Olivia. Trời tối nhanh lắm.

– Sao? Cậu sợ thú dữ à? – Olivia cười nhạo.

– Không, tôi sợ con người hơn, nhất là bọn cướp. Ở nơi vắng vẻ như thế này, nếu không cẩn thận… – Reginald vừa rảo bước vừa nói, không buồn quay lại nhìn Olivia.

Đi bộ được một đoạn, chợt Reginald cảm thấy có gì đó không đúng. Nghe thấy tiếng bước chân loẹt quẹt và hơi thở ngắn của người bạn đồng hành mỗi lúc một cách xa dần, cậu bèn tạm dừng, nhận ra cô bé đã bị bỏ lại phía sau một khoảng tương đối.

– Sao vậy? – Reginald chau mày lại, tỏ ra khó chịu trước sự chậm chạp của Olivia.

– Tôi không nghĩ mình đi nổi nữa. – Olivi đứng khựng lại bên một gốc cây sồi gần đó, tay chống lên đầu gối. Cô bé lau mồ hôi trên trán, thở gấp, cảm thấy mình thật yếu đuối và vô dụng.

“Mình từng đi còn nhiều hơn thế này gấp mấy lần mà đâu có mệt đến thế?”

– Trời sắp tối rồi, Olivia. – Reginald chỉ lên bầu trời ngả dần từ ánh vàng sang lam. Ở vùng có địa hình đồi núi, ngày rất ngắn và nhiệt độ hạ rất nhanh khi đêm xuống. Cậu biết Olivia chịu lạnh không giỏi nên càng thúc giục hơn.

Olivia xua tay, biết sức lực của mình đã đến giới hạn.

– Tôi xin lỗi…

Hơi chần chừ một lát, người bạn cất tiếng thở dài khi nhận ra quãng đường hai người đi được còn chưa hết một nửa con dốc của quả đồi. Cậu dắt Olivia đi thêm một chút, tới chỗ có bãi cỏ để nghỉ chân.

– Ngồi xuống đi. – Reginald cởi áo khoác ngoài của mình ra đưa cho Olivia, không đành lòng nhìn đứa con gái run cầm cập theo từng đợt gió rít làm rung chuyển cả những ngọn cây lớn. – Tôi đi kiếm chút củi, mặc tạm cái này đi. Cứ lấy nốt cái còn lại nếu cậu cần.

– Cậu không lạnh à? – Olivia nhìn Reginald từ phía sau, cảm thấy ngỡ ngàng trước đôi vai rộng và dốc của cậu ta. Trước đó cô bé luôn nghĩ rằng vẻ tráng kiện Reginald có được là nhờ lớp độn vai bên trong áo khoác, thì ra không phải.

– Cho dễ vận động hơn thôi. – Reginald bước đi, mang theo chiếc mũ.

Cuộn tròn trong hai lớp áo khoác rộng thùng thình ấy, Olivia thấy chẳng có chút hơi ấm nào. Nhưng, ít ra chúng vẫn có thể giúp đối phó với những cơn gió trên đồi — điều cô bé cần lúc này nhất. Olivia ngồi một mình, suy nghĩ lan man về chặng đường mà mình đã đi, về những kẻ mình đã chạm trán, về người bạn đồng hành – cũng là thiếu niên có kích thước “khổng lồ” nhất mình từng thấy.

Reginald trở về với đống cành cây khô ôm đầy ắp hai cánh tay. Cậu đặt chúng xuống đất, nhìn Olivia bằng ánh mắt thương hại.

– Tôi biết đánh lửa đấy! – Đứa con gái nhanh nhảu, không muốn tỏ ra mình là đồ vô dụng sau khi đã làm cho Reginald phải dừng lại. – Chỉ cần mài hai cành cây và…

Olivia chà hai cành cây vào nhau, không có gì xảy ra cả.

– Chết tiệt! – Olivia cáu kỉnh ném chỗ cành xuống.

Reginald nhìn Olivia bằng nửa ánh mắt. Đứa trẻ này đúng là nhanh nhảu đoảng.

– Tôi mượn con dao được không? – Reginald chìa tay về phía Olivia để lấy. Cậu nhặt một hòn đá gần đó, đánh lưỡi dao lên trên vài lần. Những tia lửa bắt đầu lóe lên, bén vào chỗ củi , chẳng mấy chốc tạo thành một đám lửa lớn.

– Cảm ơn Reginald. – Olivia tiến lại gần đống lửa, cảm thấy dễ chịu vô cùng.

– Không có gì. – Reginald trả lại con dao, đưa chiếc mũ chứa đầy những quả nhỏ bên trong cho cô bé. – Ăn đi, là dâu dại.

Olivia rụt rè nhận lấy nhưng chưa dám ăn ngay. Từ lúc còn ở Rouen tới giờ, chưa một ai tốt và tận tình với cô bé đến vậy. Reginald không hỏi nhiều, nhưng cậu luôn biết Olivia cần gì, sẵn sàng giúp đỡ một cách hào hiệp và không đòi hỏi dù thái độ có hơi tỏ ra bề trên. Điều đó khiến Olivia có đôi chút nghi ngờ lòng tốt của anh bạn này. Thật không tự nhiên chút nào khi Reginald cứ chu đáo một cách quá đáng đến vậy.

– Cậu, cậu có thấy vui không, Reginald? – Olivia đưa lại một nửa số dâu trong mũ.

Reginald lắc đầu, tỏ ý nhường hết dâu cho cô bé nhưng Olivia lại hiểu lầm rằng cậu ấy không vui.

– Cậu sắp về nhà rồi mà. – Olivia cười buồn. – Giường ấm, trà nóng và tất nhiên là cả cha mẹ đang đợi cậu ở đó mà…

Reginald không nói gì hết, chỉ bỏ thêm củi vào.

– Cha mẹ cậu tốt chứ? – Olivia nhăn mặt lại vì vị chua của dâu.

– Họ rất tốt.

– Cậu yêu họ không? Họ có yêu cậu không? – Olivia tiếp tục hỏi vòng vo. – Cậu có việc phải đi xa nhà đúng không? Vì tôi nghĩ người như cậu thì chẳng có lý do gì mà bỏ đi cả.

– Tôi… – Reginald ngập ngừng. – Cậu yên tâm, họ không đuổi tôi đi…

– Ừ. Tôi cũng nghĩ vậy… – Olivia mỉm cười.

Olivia hỏi một câu không đầu đuôi và Reginald sẽ trả lời lại thật ngắn gọn, cả hai cứ như vậy một lúc lâu. Nếu Olivia không hỏi gì, Reginald cũng sẽ không nói thêm nữa.

– … cậu bỏ đi lâu như vậy, bố mẹ cậu hẳn nhớ lắm. – Olivia che miệng ngáp. – Dù sao thì…

– Lấy một cái áo của tôi ra mà trải xuống đất, kẻo bị cảm lạnh. – Reginald nhắc nhở.

– Chúc ngủ ngon, Reginald…

– Ngủ ngon, Olivia. – Reginald thở dài, cảm thấy như được giải thoát.

Olivia nhắm mắt lại, nhanh chóng ngủ thiếp đi bên đống lửa và “chiếc chăn” đen quấn gọn quanh người. Reginald thỉnh thoảng lại bỏ một vài cành cây vào để duy trì sự cháy, hoặc cầm chúng mà nguệch ngoạc những nét vô hình lên cỏ. Cậu nhìn lên bầu trời xanh đen được chiếu sáng bởi muôn vàn vì sao lấp lánh, tiện quan sát luôn cả cô bé đi chung đường. Ánh mắt dò xét của cậu lướt đi từ những sợi tóc nâu xoăn bù xù vướng trên gương mặt trái xoan vã mồ hôi trộm của Olivia, tới cặp lông mày rậm và rối, rồi tới chiếc mũi tròn xinh lấm tấm đốm nâu và đôi môi mỏng nhợt nhạt. Đêm đã khuya, âm thanh duy nhất còn lại lúc này là tiếng gió vi vu, tiếng những cành cây khô xào xạc va vào nhau và tiếng kêu lác đác của những con thú nhỏ trong rừng. Thỉnh thoảng lại có một trận gió lạnh kéo tới, làm Olivia hắt xì và ho lên những tiếng lục khục đầy mệt nhọc.

– Cậu còn thức không? – Reginald cất tiếng hỏi nhỏ, tiện lấy thanh củi chọc vào đầu Olivia.

Cô bé nằm im lìm.

Reginald đứng dậy, lấy chân đẩy người Olivia lăn lệch sang một bên. Thấy đứa con gái không có phản ứng gì, cậu mới yên tâm lẳng lặng rời đi.

Ánh trăng sáng in bóng một người đàn ông trẻ áo trắng chạy lướt qua những bụi cây trong đêm đen. Tiếng côn trùng, tiếng cú đêm vang lên đều đều trong sự tĩnh mịch và âm u của khu rừng…

* * *

Ánh mặt trời và những cơn gió mát buổi sáng đánh thức Olivia. Cô bé vùng dậy trong đống áo bị bắt lẫn vào nhau do lăn lộn, nhận ra đống lửa đêm qua đã tắt từ lâu.

– Reginald, đêm hôm qua…

Cơn ho kéo tới ngắt quãng câu nói của Olivia. Không có Reginald nào ở đây cả.

– Reginald, cậu đâu rồi? – Olivia gọi lớn.

“Reginald đi đâu rồi?”

Olivia cuộn đống áo khoác vào trong tay, lo rằng Reginald đã bỏ mình mà đi. Nhưng điều đó thật vô lí, đồ của cậu ta vẫn còn ở đây. Rồi cô bé nheo mắt lại, nhận ra ở hướng mặt trời mọc có một đống gì đó màu trắng cộm lên trên nền cỏ, bèn chạy tới.

– Reginald! – Olivia gọi to. – Dậy đi! Sao lại nằm ở đây?

Đúng như cô bé nghĩ, đó là Reginald đang nằm sấp dưới đất. Olivia lay mạnh cậu ta dậy, lo sợ có chuyện gì không hay đã xảy ra.

– Trời sáng rồi! – Cô bé lật người Reginald lại.

– Chúa ơi! – Giọng Olivia lạc đi, suýt thì bật khóc. – Reginald, đêm hôm qua cậu đã làm gì?

Olivia không dám tiếp tục nhìn. Người bạn đồng hành của cô bé hiện đang nằm bất động, lạnh ngắt và cứng đờ. Cái cổ áo trắng tinh bị nhuộm loang một màu nâu đỏ, khô cứng lại cùng chiếc ascot xanh cậu đeo.

– Ai làm thế này? – Olivia tháo khăn ra và kéo cổ áo Regiald xuống: không có một vết chém hay cứa nào trên cổ cậu ấy cả. Chỗ máu ấy có từ đâu?

Olivia rút chiếc dao găm đặt lên mũi Reginald. Lưỡi dao không bị mờ đi chứng tỏ Reginald đã ngừng thở. Rồi cô bé cúi thấp xuống, áp tai vào ngực cậu. Tim của cậu ta không đập! Olivia hoảng hốt đánh rơi con dao xuống đất, nước mắt bắt đầu rơi.

– Tại sao cậu lại chết? Tại sao cậu lại chết đúng lúc này, Reginald? Đừng bỏ tôi một mình ở đây!

Olivia rũ chỗ áo khoác đen, phủ lên người chủ của nó. Chiếc ví dày của Reginald rơi xuống đất, văng ra tất cả những gì có bên trong.

“Cái gì?”

Olivia buồn bã nhặt chúng lên, nhận ra cái ví ấy dày không phải vì đựng tiền mà vì chứa rất nhiều giấy tờ. Cô bé vội vã cất hết vào trong, đem trả lại chỗ cũ. Xách lấy va li, đứa trẻ lang thang định sẽ đi tiếp dù không còn ai bên cạnh. Thấy xung quanh mình chẳng là gì ngoài màu xanh của những cụm sồi và thông cao vút trong rừng, con bé ngồi thụp xuống đất, bật khóc nức nở. Con người vốn không sống theo lý trí nhiều bằng cảm xúc. Nước mắt Olivia cứ rơi và con bé không thể hiểu nổi tại sao nó lại khóc.

“Tôi đã đi cả một chặng đường dài từ Pháp đến đây chỉ để mắc kẹt ở nơi này với một cái xác chết?” – Olivia không thèm ngăn dòng cảm xúc vỡ òa của mình lại, cái chết của Reginald đến quá đường đột. Cậu ấy đâu có làm gì sai, chưa kể còn rất tốt. Người tốt như Reginald không đáng phải chết oan uổng nơi rừng núi hẻo lánh như thế này.

– Olivia!

Olivia giật bắn người, hét toáng.

– Là tôi đây. – Reginald nhỏm dậy trong lớp áo bùng nhùng.

Olivia ngỡ ngàng trong giây lát. Reginald còn sống? Sao lại thế được? Chẳng phải Reginald đã ngừng thở và tim cậu ta… Rồi chỗ máu đó…

– Tôi xin lỗi. – Reginald đưa cho Olivia chiếc khăn tay. – Lau mặt đi…

Sực để ý bộ dạng thảm hại hiện tại của mình, Olivia chộp lấy khăn, vội vã quay mặt đi để xì mũi. Trả lại chiếc khăn trắng, cô bé tức giận tát Reginald, gắt lên:

– Cậu làm sao vậy? Tôi đã lo đến chết!

– Làm ơn bình tĩnh lại đi, Olivia. Tôi chỉ đùa một chút thôi.

– Đừng có đùa bệnh hoạn kiểu đấy, Reginald!

– Tôi biết. Tôi xin lỗi. Tôi chỉ muốn cậu cười. – Reginald gãi đầu.

– Trông tôi có giống như đang cười không?

– Tôi cảm thấy có lỗi vì đã tỏ ra hợm hĩnh từ trước tới nay. Tôi thấy cậu có vẻ buồn. Nên khi đi kiếm củi, tôi đã…

Đó là câu nói dài nhất của Reginald mà Olivia từng được nghe, bị cắt ngang bởi cái ôm cô bé dành cho anh bạn chết hụt. Cái ôm ấy diễn ra ngắn ngủi và chóng vánh tới mức bản thân Reginald cũng không ngờ tới. Và khi Olivia đá mạnh vào cẳng chân Reginald, điều đó cậu càng không ngờ hơn.

– Đừng bao giờ làm như thế nữa! – Giọng Olivia vẫn còn run run.

Reginald xoa đầu Olivia như người lớn xoa đầu một đứa trẻ. Cậu kéo cô bé đứng dậy rồi ra nhặt lại đồ của mình.

– Được rồi. Chúng ta đi tiếp chứ? – Reginald đưa chiếc vali cho bạn đồng hành, cứ để nguyên đống áo khoác trên người cậu ta mà đi.

Và người bạn có cổ áo nâu đỏ ấy lại tiếp tục lên đường cùng Olivia, không thể từ bỏ cái thói quen tự bọc mình trong đống quần áo và mũ ô kín mít. Cả hai cùng nhau đi được một quãng dài, Olivia không rõ khoảng cách từ đó tới nhà còn bao xa, Reginald trả lời rằng còn hơn năm trăm thước nữa mới tới phần dốc bên kia.

* * *

– Ngôi nhà ở ngoại ô của cậu, chắc rộng và đẹp lắm đúng không? – Olivia nói bâng quơ.

– Nó cũng—vừa vừa. – Reginald ngập ngừng, không rõ nên mô tả nhà của mình như thế nào cho chính xác.

Cả hai đã dần bỏ lại khu rừng rậm rạp về phía sau. Olivia không quên ngoái đầu lại, cố gắng lưu giữ khung cảnh đầy lãng mạn và nên thơ của đôi hàng cây bồ kết ba gai ánh vàng bên chân đồi trong khoảnh khắc giao mùa này.

“Tạm biệt Forest Hill. Tao sẽ nhớ mày lắm!” – Olivia cười buồn. – “Thôi nào Olivia, cũng đâu quá tệ lắm…”

Reginald nhìn Olivia, hơi bặm môi lại để giấu nụ cười vô tâm. Cậu biết chính xác điều mà Olivia đang nghĩ vào lúc này, nhưng không muốn an ủi cô bé.

– Olivia này… – Reginald chợt lên tiếng. – Chúng ta đã tới nơi. Cậu cần đi tới đâu chỉ việc nói địa chỉ cho tôi, tôi sẽ hộ tống tận nơi.

– Cậu đâu cần phải… – Olivia chững lại, sợ rằng lời nói dối về nơi ở của mình sẽ bị lật tẩy.

– Đừng ngại, đưa cậu về nhà là việc tối thiểu tôi có thể làm. Chẳng phải cậu bảo tôi cậu cũng tới Forest Hill? Chúng ta đang ở đó đây.

Olivia lúc này hoàn toàn bế tắc, không rõ nên nói ra sự thật cho Reginald hay tiếp tục với trò chơi tung hứng. Cô bé nhìn xung quanh, hy vọng sẽ có một căn nhà vắng vẻ nào đó đủ để đánh lừa Reginald và chia rẽ hai người tại đây.

– Kia, nhà tôi ngay ở kia! Cậu không cần phải dắt tôi đi đâu! – Olivia vội chỉ tay về phía ngọn đồi thấp — nơi tọa lạc một tòa lâu đài cổ kính được xây bằng đá xám. Nó có phần mái chóp nhọn mang ảnh hưởng của phong cách Gothic, xung quanh lại không hề có nhà dân. Cô bé không định chọn địa điểm nổi bật như vậy, nhưng vì làm gì còn ngôi nhà vô chủ nào khác.

Reginald nhìn theo hướng chỉ tay, đôi mắt mở to vì ngạc nhiên.

– Cậu chắc chứ?

– Nó ngay gần mà. Cậu về nhà mình được rồi! – Olivia rối rít, hy vọng Reginald đừng có dai dẳng như thế nữa. – Cậu thật sự không cần đâu!

Reginald quyết định đi theo Olivia tới tận “nhà” cô bé, một lần nữa lại cùng đứa nhóc leo lên đồi. Càng lại gần, tòa lâu đài ấy càng hiện ra sừng sững và to lớn. Nó hẳn đã rơi vào lãng quên từ rất lâu rồi, mọi bức tường đều bị rêu phong phủ, bám đầy những dây leo thường xuân héo quắt. Dọc khắp khu vườn trồng những cây lê họ hồng1 ấy, lẫn lộn phía dưới là cỏ dại mọc um tùm cao ngập đầu gối người. Olivia đứng bên cánh cổng han gỉ, tay bám chặt vào song sắt, tỏ ra lúng túng thấy rõ.

1

Callery pear, tên khoa học là Pyrus calleryana.
– Nhà tôi đây rồi nên, cậu về đi Reginald.

– Cậu hãy mở cánh cổng kia ra và vào trong nhà. Như vậy tôi mới yên tâm mà đi được.

Olivia không biết phải làm gì, hết quay sang trái lại sang phải. Reginald khoanh hai tay trước ngực, thích thú nhìn bộ dạng bối rối của Olivia và buông lời châm chọc:

– Sao còn chần chừ? Mất chìa khóa hả?

Reginald cúi xuống chiếc va li của cậu, lấy ra một chùm chìa khóa lớn. Olivia nín thở theo quả tim đang đập lên đầy hỗn loạn, hai tay cô bé đổ mồ hôi hột, mặt thì nóng ran; hy vọng mọi chuyện đừng diễn ra theo cái tình huống mình biết sẽ có khả năng xảy đến nhất. Cô bé nhắm chặt mắt lại, không dám nhìn vào bàn tay Reginald khi cậu ta tra chiếc chìa khóa vào ổ.

Một tiếng “cạch” lớn vang lên, cánh cổng gỉ sét ấy được mở ra, kèm theo âm thanh kẽo kẹt của bản lề lâu ngày không được tra dầu bảo dưỡng. Olivia tự nguyền rủa bản thân, không hiểu nổi tại sao lại chọn đúng nhà của Reginald.

Reginald nhìn Olivia, không nói một câu nào cả. Cái nhìn lạnh lẽo của cậu như cứa vào trái tim của Olivia, đầy trách cứ, làm cô bé rùng mình vì sợ hãi.

– Thôi được, tôi đã nói dối cậu. – Olivia không biết phải làm gì ngoài thú nhận. – Đừng nhìn tôi như thế nữa!

– Tại sao? – Reginald hỏi mà không giấu nổi sự chán chường.

– Vì… – Olivia ngập ngừng. – Tôi không còn nơi nào để đi… Và cậu rất tốt với tôi nên tôi nghĩ rằng…

– Rằng…?

– Tôi xin cậu đấy, đừng hại tôi, tôi không biết phải đi đâu cả… – Olivia nói lí nhí, giọng run rẩy. Đôi mắt cô bé chợt đỏ hoe.

Reginald ôm lấy đầu mình, khẽ thở dài. Olivia không phải là em, cũng chẳng phải bạn của Reginald, cậu đâu cần gánh vác trách nhiệm. Nhưng, nếu bỏ mặc một đứa trẻ thân cô thế cô giữa nơi đồng không mông quạnh, liệu đó có phải là một việc làm đúng đắn?

Olivia ngước đôi mắt tròn xoe màu ngọc lam nhìn Reginald, trông thật đáng thương. Dù muốn hay không, cậu cũng chẳng thể cầm được lòng.

– Vào trong đi…

“Đúng như dự đoán!” – Olivia thầm tự đắc.

“Đừng tin ai cả…” – Reginald nhìn theo cái dáng bé nhỏ chạy lon ton qua cổng, khẽ thở dài. Dù sao thì đó cũng chỉ là một con bé yếu ớt, nó có thể làm được gì chứ?

* * *

Reginald đẩy tấm cửa gỗ dày đã sa xuống vì thời gian, tạo ra bản hợp âm cót két đến rợn người khi nó mài trên mặt đất. Một làn mây bụi lan ra, bay quanh mũi Olivia và Reginald, khiến họ hắt hơi liên tục. Nhận ra vài chú nhện nhỏ đang bò trên áo, Reginald rùng mình, vội vàng vẩy tay đi. Cậu nhìn vào bên trong lâu đài, tất cả những gì hiện ra chỉ là một màu xám của bụi phủ kín lên bề mặt mọi thứ. Những tấm ván gỗ lót sàn lâu ngày nay đã bốc lên mùi ẩm mốc, chúng bênh lên và phát ra từng tiếng kêu kẽo kẹt mỗi khi có bước chân qua.

“Mình sẽ phải dọn và sửa sang, rất nhiều.” – Reginald tự nhủ.

Olivia đứng nép mình bên cánh cửa, không rõ vì cảnh tượng tiêu điều của “ngôi nhà” hay sự im lặng của Reginald làm cô bé rụt rè.

Reginald gấp chéo một chiếc khăn và buộc nó lại qua tai, che kín nửa gương mặt; không quên đưa một chiếc khác cho Olivia để tránh hít phải bụi.

– Cậu có thể ngồi tạm ở cái ghế kia. Tôi sẽ đi tìm chổi và giẻ lau.

– Tôi cũng muốn giúp! – Olivia thấy thật khó xử nếu cứ ngồi không nhìn chủ nhà làm hết cả mọi việc.

Reginald gật đầu.

– Vậy cậu tầng trên, tôi ở đây.

Olivia đi theo hướng chỉ tay của Reginald lên chiếc cầu thang rộng thênh thang dẫn tới tầng hai của tòa lâu đài cũ nát. Mức độ thiện chí của cô bé với việc giúp đỡ Reginald không nhiều đến vậy, nhưng Olivia tò mò về nơi này. Cô bé đã từng nghĩ những ngôi nhà ở ngoại ô tất nhiên sẽ rộng hơn ở thành phố, nhưng một tòa lâu đài chắc chắn là điều chẳng ai ngờ được.

Tiếng bước chân của Olivia làm vài chú chuột nhỏ chạy ngược xuống và đâm sầm vào giày cô bé, kêu “chít chít” đầy hoảng loạn. Olivia giật mình tựa vào lan can để tránh chúng, ngay lập tức cảm giác ngứa ngáy do những đôi chân nhỏ lông lá của bầy gián bò trên tay làm cô bé vội vã rụt lại, nổi da gà.

“Ôi!” – Olivia thầm nghĩ trong bất lực.

Reginald đi dọc sảnh lớn, nơi mà cứ cách vài thước lại treo một bức tranh tường phía trên chiếc bàn nhỏ đặt bình hoa. Vừa đi, cậu vừa tiện tay nhặt những mảnh vỡ vụn dưới mặt đất. Đồ đạc được bố trí ở đây vốn đã theo một trật tự nhất định, lại cồng kềnh khó dịch chuyển nên không cần phải sắp xếp lại nhiều.

Reginald đứng trước một khung cửa sổ lớn đã bị tấm rèm nhung sẫm màu che phủ. Cậu hướng mắt ra khu vườn lớn phía trước, vượt qua cả cánh cổng sắt tồi tàn, về phía tán cây cổ thụ sum suê cành lá có những chiếc rễ sần sủi bò khắp mặt đất. Reginald vẫn nhớ như in từng vị trí một trong này, nhưng cậu muốn tìm lại một chút gì đó thuộc về bản thân trong quá khứ. Mải nghĩ ngợi lan man, Reginald gần như quên mất mục đích ban đầu của mình, để rồi cứ thế lang thang khắp nơi.

Olivia đi loanh quanh trên tầng hai, ở đây, mỗi lối rẽ sang bên trái-phải đều được đặt cách nhau bởi những vách tường dày khoảng một sải tay, dẫn tới một căn phòng khác. Olivia ghét phong cách lặp đi lặp lại không điểm nhấn và màu sắc lạnh lẽo của lâu đài này. Chúng tạo ra cảm giác nôn nao như bị hút vào trong chiều sâu của một mê cung, khiến tâm trí cô bé trở nên bối rối. Đều là một màu tường đó, những cánh cửa đó, rồi cả cách sắp xếp nội thất… Người đã thiết kế ra nơi này hẳn là một kẻ rất nhàm chán, hoặc lập dị.

Đến cuối hành lang, Olivia gặp một chiếc cầu thang dẫn lên tầng ba. Nó không rộng như ở dưới, lại tối và bẩn hơn rất nhiều — có lẽ là tầng áp mái, bởi khoảng cách giữa nền và trần hơi thấp. Không gian hẹp khiến mọi thứ vốn đã ẩm mốc và tối tăm càng trở nên khó chịu hơn. Olivia biết gác mái là “thánh địa” của các loài gián, chuột và rất nhiều những động vật nhỏ mang mầm bệnh khác; nhưng chứng kiến bầy rệp bò lổm ngổm thành một đám đen trên sàn vẫn khiến cô bé toát mồ hôi lạnh, vội vã tìm đường quay trở lại. Kém may mắn thay, trọng lực đột ngột mà Olivia tác động lên làm cho những tấm ván mục nát lâu ngày ngay lập tức nứt ra và lún xuống, kéo theo cả cô bé vào chiếc hố sụt.

“Cứu tôi với!”

Tiếng kêu thất thanh vang khắp tòa lâu đài. Reginald nghe thấy, vội vã chạy đi tìm Olivia. Một tiếng “rắc” vang lên, cậu cúi xuống, nhận ra chân phải của mình vừa tạo ra một cái hố không hề nhỏ dưới sàn.

“Bước cẩn thận nào, Reginald. Ván mục lâu ngày!” – Reginald nhấc chân ra khỏi lỗ, lờ mờ đoán ra lý do Olivia kêu cứu là vì gì.

– Đừng lo, tôi tới đây… – Reginald chạy lên trên tầng hai.

* * *

Nhìn những giọt mồ hôi đầm đìa chảy ra trên gương mặt tái mét của Olivia, Reginald ngừng công việc dọn dẹp, cầm lấy cây chổi từ tay cô bé.

– Sao vậy? – Olivia ngạc nhiên.

– Tôi tự làm cũng được. – Reginald giải thích. – Tôi thấy cậu không được khỏe, Olivia. Đi nghỉ đi.

– Tôi…

– Đừng lo, cứ lên trên tầng và ngủ một giấc. Đừng quên giũ chăn trước khi đắp. – Reginald đẩy cô bé đi lên. – À, và nếu có bị rệp giường cắn thì cố chịu đi. Tôi sẽ cố dọn dẹp dần.

– Cảm ơn, Reginald. – Olivia cười gượng gạo.

Nhìn những đốm nhỏ trên tóc mai và trán của Olivia khi cô bé bước đi, Reginald khẽ lắc đầu và tiếp tục với công việc còn dang dở.

Olivia nằm trên giường, không ngừng rên rỉ. Dù đã đắp tới hai lớp chăn, cô bé vẫn cảm thấy khó thở và ớn lạnh khắp chân tay.

* * *

Lại một cơn ác mộng nữa đến với Olivia. Cô bé nhìn ra cửa sổ, trời ngả chiều muộn từ lúc nào không rõ chứng tỏ mình đã ngủ được khá lâu. Tò mò muốn biết Reginald đã dọn dẹp tới đâu, cô bé quyết định sẽ xuống nhà.

– Chà! – Đứng từ cầu thang, đứa trẻ trầm trồ nhìn xuống phía dưới. Toàn bộ tầng một giờ đã được dọn sạch sẽ và thắp nến sáng trưng, trông rất sang trọng và ấm cúng. Tuy mùi ẩm mốc vẫn thoang thoảng, cô bé gần như không còn nhận ra tòa lâu đài cũ kĩ, bẩn thỉu trước đó nữa. – Reginald, một mình cậu làm hết trong cả buổi trưa sao?

– Cậu muốn uống trà không, Olivia?

Reginald ngồi trên chiếc ghế dài, trước mặt cậu là một cái khay bạc đựng bộ ấm chén sứ trắng muốt nghi ngút khói. Olivia không biết phải nói gì thêm, về tất cả những điều này.

– Bước cẩn thận, Olivia. Tôi chưa tìm được thợ thay ván lót sàn đâu. – Reginald nhắc nhở. – Cậu thế nào rồi?

– Cũng đỡ hơn… – Olivia nói dối. Cô bé vội vã quay mặt đi, lấy tay lau mồ hôi trên trán, húng hắng ho.

Olivia lại gần Reginald và ngồi bên cạnh cậu.

“Reginald thật là ‘Anh’!” – Cô bé cười bẽn lẽn, nhận lấy tách trà từ Reginald. Hơi nước ấm từ chén trà tỏa ra làm dịu đi cái mũi nghẹt cứng của Olivia.

– Cảm ơn nhé. Reginald, bố mẹ cậu đâu? – Olivia nhấp một ngụm, hỏi nhỏ.

– Họ… – Reginald ngập ngừng. Cậu ta chưa hề chuẩn bị chút nào cho việc sẽ trả lời ra sao.

– Reginald, có phải cậu là…

– Ừ… – Reginald cười buồn bã.

– Tôi rất lấy làm tiếc. – Olivia vỗ vỗ vào cánh tay Reginald để an ủi, tiện đó thó luôn chiếc thìa bạc trên khay. – Tôi hoàn toàn hiểu được cảm giác của cậu. Tôi mồ côi từ nhỏ mà.

– Uống trà mau kẻo nguội, Olivia. – Reginald lảng đi.

“Nên hành động chứ, Olivia? Reginald chẳng hấp dẫn chút nào…” – Olivia làm một ngụm dài, liếc nhìn Reginald. Trong một thoáng, khi nhắc về cha mẹ mình, cậu ta trông thật đau khổ.

Bữa trà chiều im ắng ấy kết thúc nhanh chóng. Reginald đem đồ vào trong bếp để dọn rửa, Olivia lẳng lặng theo sau.

– Ở lại phòng khách mà chơi, đi theo tôi làm gì. – Reginald nói trong lúc vẫn đang rửa chén.

Olivia lại gần. Cô bé kéo kéo vạt áo đen dài trước mặt, ngước nhìn Reginald bằng đôi mắt xanh lam ngơ ngác của mình, bẽn lẽn nở nụ cười.

– Olivia, cậu làm gì vậy?

– Tôi muốn cảm ơn cậu. – Olivia cầm tay Reginald.

– Olivia, tôi… – Reginald rút tay lại, chau mày khó chịu. – Không có gì đâu.

– Đừng tỏ ra lạnh lùng nữa. Tôi biết cậu là người tốt. – Olivia cố ghé lại gần Reginald thêm chút nữa. – Cậu chỉ đang cố che giấu cảm xúc và suy nghĩ của mình thôi. Tôi biết cậu quan tâm và lo cho tôi, Reginald.

Reginald quay mặt đi, tránh cái nhìn kỳ quặc của Olivia.

– Đừng như vậy! – Olivia lại kéo Reginald gần hơn nữa.

Reginald mỗi lúc một khó xử hơn với hành động của Olivia. Từ trước tới nay, cậu vẫn cố gắng duy trì một khoảng cách nhất định giữa hai người. Đứa con gái này có vẻ đã muốn “phá rào”.

– Hãy nhìn vào mắt tôi và nói cho tôi biết, Reginald: Cậu có làm như vậy với bất cứ cô gái nào cậu gặp trên đường không?

Reginald buông hẳn bộ trà, nhìn Olivia với ánh mắt vô cảm. Cậu không muốn trả lời câu hỏi ấy.

– Nói đi! – Olivia dứt khoát.

– Không.

– Vậy tôi có gì đặc biệt sao?

– Cậu muốn gì? – Reginald chau mày lại, nghiêng đầu sang bên khác.

– Tôi chỉ muốn nói “Cảm ơn” thôi mà. Cậu là người tốt, tôi mến cậu. – Olivia ôm chầm lấy Reginald.

– Olivia, cậu có thể muốn xem lại vị trí của mình lúc này. – Reginald nhắc nhở. Rõ ràng Olivia cố tình, nhưng cậu không muốn chuyện gì quá giới hạn xảy ra.

– Đừng cứng nhắc như vậy. Ở đây chỉ có hai chúng ta. Tôi biết đàn ông con trai các cậu nghĩ gì. Nếu cậu muốn, tôi có thể đền đáp bằng chút “hứng khởi mùa thu”. – Olivia vuốt nhẹ khắp ngực Reginald, quanh những chiếc túi áo.

– Hãy đi ngay đi trước khi tự khiến bản thân xấu hổ, Oliv…

Olivia hôn lên khuy áo của Reginald, cậu ta nhíu mày đầy khó hiểu. Bàn tay cô bé lần dưới lớp áo khoác ngoài, kéo xuống quá vai cậu, rồi lại tiếp tục cởi bỏ một nửa lớp áo đơn bên trong. Reginald bế xốc Olivia lên. Nếu con bé đã liều lĩnh đến vậy, Reginald cũng không ngại dạy cho nó một bài học.

– Reginald, cứ từ từ thôi… – Olivia bắt đầu hoảng sợ. Cô bé đâu hề có ý định sẽ thật sự quyến rũ Reginald. Nếu cậu ta làm thật, Olivia hoàn toàn không có cơ hội chạy thoát.

Reginald giật phăng chiếc khăn lụa lẫn cổ áo.

“Olivia, làm gì đây?” – Olivia sợ hãi khi nhìn thấy Reginald cởi bỏ lớp áo khoác đầu tiên.

– Đừng, đừng… – Đôi tay Olivia lần tìm bên trong áo Reginald, cố gắng trì hoãn bằng cách mơn trớn cơ thể cậu ta. Rõ ràng với thân hình gồ ghề và nở nang như vậy, Reginald là một người đàn ông trưởng thành chứ không phải thiếu niên như đã nói dối. Bàn tay Olivia vô tình quệt phải một vật nhỏ trong túi áo đen, cô bé mỉm cười.

– Đúng như ta nghĩ…

Reginald túm lấy tay Olivia khi đứa nhóc vừa chuẩn bị rút ra chiếc đồng hồ.

– Ồ, bị bắt quả tang rồi! – Olivia quay mặt sang một bên, nhổ nước bọt liên hồi vì sự ghê tởm.

– Nhóc, ngươi muốn gì? – Reginald đẩy Olivia ra khỏi người mình, không quên giữ vai con bé lại.

– Nhiều lắm. – Olivia nhún vai. – Tiền của cậu, và cái đồng hồ đó nữa.

– Ta sẽ cho ngươi vào đồn cảnh sát đấy.

– Được thôi. – Olivia nhún vai, nuốt khan. – Ông nói dối với tôi về tuổi, giả vờ là bị tôi lừa nhưng thật ra là lừa lại tôi, để tôi tin ông và theo ông tới đây, đúng không? Ông mà tống tôi tới đó, không sợ tôi báo với cảnh sát rằng ông lừa đảo dụ dỗ tôi à?

– Ừ nhỉ. – Reginald cười mỉa mai.

– Ông biết tôi sẽ lấy trộm hết đồ của ông?

– Nhãi con, ngư…

Chưa nói hết lời, Reginald kêu toáng. Olivia cắn Reginald mạnh tới hằn cả vết răng rớm máu trên tay. Nhận ra chiếc đồng hồ đã biến mất, Reginald giận dữ vô cùng.

– Trả lại đây! – Gã túm vào áo Olivia trong lúc con bé đang chui qua gầm bàn.

Olivia vội vã bò đi, nhưng không kịp. Bàn tay Reginald nhấc bổng cả người con bé lên. Không còn cách nào khác, Olivia đành chui ra khỏi chiếc áo khoác, trượt xuống đất. Nó buộc vội hai dây giày của Reginald lại với nhau, chạy vụt ra ngoài.

Reginald đuổi theo, ngay lập tức bị vấp ngã. Cằm của gã đập mạnh xuống sàn, bắt đầu rỉ máu.

“Chết tiệt!” – Reginald gạt chỗ máu đi, tức giận đấm lên nền nhà.

Con bé lao về phía cửa ra vào, cuống cuồng vặn tay nắm. Thật không thể ngờ: cửa khóa!

– SAO LẠI THẾ CHỨ! – Olivia kêu toáng, đành chạy lên cầu thang.

Reginald đứng dậy, cởi phăng áo khoác. Hai con ngươi gã lúc này sáng rực ánh đỏ. Reginald túm lấy chiếc ô, quyết tìm bằng được con nhãi kia.

– Olivia! – Reginald gọi lớn. – Ta biết ngươi chỉ ở quanh đây thôi. Ra mau!

Reginald xông lên tầng hai, mở toang cửa từng căn phòng một.

– Ta có thể ngửi thấy mùi máu của ngươi đấy, nhóc. Ra ngay bây giờ hoặc để ta tới chỗ ngươi vậy!

Olivia nấp đằng sau một chiếc tủ sách, thở hổn hển. Qua kẽ hở, thứ duy nhất con bé nhìn thấy là hai tia đỏ lóe lên từ đôi mắt Reginald. Trông chúng thật đáng sợ, khác hẳn với ánh nhìn thờ ơ từ đôi mắt xám kia.

“Reginald cũng chỉ như những kẻ khác…” – Olivia run lẩy bẩy. – “Gã sẽ giết mình?”

– Một, hai, ba… – Reginald đi lòng vòng trong căn phòng, rồi lại gần chiếc tủ gỗ, mở phăng cánh cửa.

– Reginald… – Olivia cố gắng cười lớn dù vẫn run rẩy.

– Trả lại ta cái đồng hồ! – Reginald lùi lại, lôi xệch Olivia ra ngoài.

Olivia cầm cuốn sách bìa cứng, phang cả phần gáy vào mặt Reginald. Máu từ mũi gã chảy ra, rớt thành từng giọt xuống sàn. Reginald không thể kiềm chế được nữa. Siết chặt tay cầm ô, gã giật phần cán ra khỏi lớp vải.

Olivia hoảng hốt lao ra khỏi căn phòng. Cuối cùng con bé đã hiểu vì sao Michael lại sợ chiếc ô này đến vậy.

– Reginald, đâu nhất thiết phải làm thế… – Olivia lùi về phía cầu thang. Chỉ cần bước hụt thêm một bước, cô bé sẽ ngã lộn nhào ngay lập tức.

Reginald không nói gì cả. Gã lẳng lặng chĩa tay cầm cái ô — chính xác là một lưỡi kiếm nhỏ được giấu bên trong — về phía Olivia.

– Tôi nghèo lắm, được chứ! – Olivia giấu hai tay sau lưng, rút ra con dao găm trong lúc khóc lóc. – Tôi rất xin lỗi, nhưng làm ơn đấy. Nếu ngài đã tốt với tôi, hãy tốt cho trót và…

– Câm miệng! – Reginald quát, làm Olivia giật bắn người. – Ta đã tốt với ngươi, nhưng xem ngươi đã làm gì với ta?

Nhận ra có vẻ như mọi lời thuyết phục hay van nài của mình lúc này không còn tác dụng với một kẻ đã mất hết bình tĩnh, Olivia nhìn xuống bậc thang, cố nuốt trôi cổ họng, sợ sẽ phải bỏ mạng ở đây.

“Hy vọng là có tác dụng!”– Đứa nhóc thầm nghĩ.

– Đây! Tôi trả lại nó cho ngài! – Olivia hét lên, chìa chiếc đồng hồ về phía Reginald. – Ngài sẽ để cho tôi sống chứ?

Reginald dừng lại, nhìn vật sáng lấp lánh Olivia đang run rẩy cầm trên tay. Gã chộp lại nó, lạnh lùng nói:

– Rất tiếc, ngươi đã biết quá nhiều…

Reginald vung cái cán ô lên, chuẩn bị chém vào Olivia. Olivia đâm con dao vào sườn gã, xô gã ngã lăn xuống cầu thang. Đầu Reginald va đập theo từng bậc một, cuối cùng cả người gã văng vào tường. Không để cho tên giết người ấy có thêm cơ hội hành hung nào nữa, Olivia rút dao ra, đâm liên tiếp vào lưng và cả cánh tay gã. Máu từ người Reginald bắn lên, dính vào mặt, vào quần áo con bé. Gã với tay về phía Olivia, nhưng không còn đủ sức để ngăn đứa trẻ vì cơn khốn cùng mà liều lĩnh đến mức dã man ấy lại.

Reginald nằm bất động. Olivia giật lại chiếc đồng hồ, vội vã chạy ra khỏi lâu đài quái gở. Con bé vừa chạy vừa khóc, cả thân hình bé nhỏ run lên mất kiểm soát. Cảm giác tội lỗi đè nặng trong ngực Olivia, khiến nó sợ hãi đến tức thở. Lúc này, trời đã tối sầm lại và những trận gió lớn đang rít lên ào ào.

Olivia vừa giết người!

“Cứ chạy tiếp đi! Đừng nhìn lại!” – Olivia thở hổn hển. – “Nhưng, mình sẽ chạy đi đâu?”

Olivia chạy tới gần cánh cổng gỉ sắt, một tiếng nổ lớn vang lên, cùng những tia chớp làm lóe sáng cả bầu trời.

Hàng trăm hạt mưa tạt vào mặt Olivia, đau như bị kim chích. Cô bé nhìn thấy gần đó có một gốc cây cổ thụ, vội vã chạy lại và ngồi xuống, cảm thấy tuyệt vọng hơn bao giờ hết.

“Tại sao lại là lúc này?” – Olivia gục mặt mình xuống đầu gối.

Đứa trẻ mở chiếc đồng hồ vừa lấy được ra ngắm. Thật tệ hại, kim đồng hồ còn không thèm chạy! Cái đồng hồ chết tiệt ấy hỏng, còn Reginald lúc nào cũng mở nó ra để xem như thể nó thật sự vẫn chạy được. Có phải gã đã biết trước ý đồ lấy cắp của Olivia và giả vờ để lừa gạt con bé? Nó có gì giá trị mà gã quyết sống chết với Olivia để đòi lấy?

“Mình đã giết người chỉ để lấy một cái đồng hồ hỏng? Để làm gì? Reginald cũng đâu có ý muốn hại mình trước đó…”

Cơn mưa mỗi lúc một to hơn. Gió thổi ào ạt cắt vào da thịt Olivia. Mỗi lần một tiếng sấm nổ lên, cô bé lại giật thót. Olivia bật khóc, nước mắt nước mũi ròng ròng trôi theo nước mưa. Lúc ấy con bé chỉ muốn sống, nó sợ Reginald sẽ giết mình vì tội lấy trộm. Olivia đâu muốn giết người. Con bé hy vọng bán cái đồng hồ ấy đi sẽ có chút tiền để mua đồ ăn, nhưng ai sẽ mua một cái đồng hồ hỏng? Nếu ai đó phát hiện ra việc làm này, họ sẽ tố giác và tống Olivia vào tù? Nó sẽ bị đánh cho nhừ tử rồi bị ném về Pháp?

Tiếng sấm lại vang lên bên cửa sổ gần căn gác cầu thang mà Reginald ngã xuống. Những tia chớp xanh tím chiếu sáng xác một người đàn ông trẻ đang nằm trên vũng nhầy đỏ tanh tưởi với chiếc áo đã khô máu lại. Thêm một tia chớp nữa lóe lên, cái xác ấy biến mất.

“Mày có gì đặc biệt hả?” – Olivia nhìn vào chiếc đồng hồ nhỏ, chớp chớp đôi mắt bị nước mưa làm cho cay xè, nhớ lại cơn thịnh nộ của Reginald khi gã phát hiện ra chiếc đồng hồ bị lấy mất. Nếu cái đồng hồ ấy thật sự chỉ đáng đem vứt, tại sao gã lại giận dữ và muốn lấy nó về bằng được?

“Giết người là sai trái, Olivia! Mày không thể giết người!” – Olivia nghiến chặt răng lên những đầu ngón tay. Đứa trẻ này đã gây nên một tội ác động trời xuất phát từ lòng tham. Dù Reginald có tốt hay không, Olivia cũng không thể giết gã! Lúc này có hối hận cũng đã quá muộn — con bé không bao giờ có thể gọi Reginald dậy để để nói lời xin lỗi được nữa. Nhưng, Olivia không biết người ấy là ai, điều gì khiến nó chắc chắn rằng gã sẽ không đối xử với Olivia như cái cách mà tất cả những kẻ khác đã làm với nó? Chúng đều đê tiện và ác độc như nhau, chúng chỉ tốt với Olivia lúc đầu để lợi dụng lòng tin của con bé rồi làm chuyện xấu — sẽ đều như vậy cả thôi! Nếu như Olivia chưa từng ăn cắp, nếu như Olivia cố gắng thành thật ngay từ đầu với Reginald và cư xử tốt hơn thì có lẽ, có lẽ gã sẽ rủ lòng thương và cưu mang nó? Có thể lắm chứ…? Thật ra, Reginald đâu hẳn nói sai. Gã ta đã giúp Olivia — nhưng tất cả những gì đứa trẻ này đền đáp lại chỉ là những lời nói dối, sự lợi dụng, và việc ăn cắp bị bắt quả tang.

Olivia nôn vội vào gốc cây, rồi lại khóc. Con bé khóc — không rõ vì sợ hãi, vì cô đơn, ân hận, hay vì tất cả những gì đã xảy ra. Giờ nó không cần cái đồng hồ nữa; chỉ cần một chiếc chăn ấm, một cốc nước và một mái nhà để che mưa. Reginald có thể làm được điều đó, nhưng Reginald đã chết rồi.

“Mình phải làm gì đây?”

– Trả lại nó cho ta.

Tiếng nói ấy nhỏ mà đầy bực dọc. Đứa trẻ ăn cướp giật mình. Con bé thở gấp, ngước lên, nhận ra Reginald đang đứng trước mặt. Gã chìa cánh tay phải bị đâm về phía Olivia, lặng lẽ chờ đợi.

– – – – – – HẾT PHẦN 4 – – – – – –


"Phần 5. Sau cơn mưa" bởi iamDage
Olivia nhìn Reginald bằng đôi mắt đỏ hoe đầy bất lực. Không nghĩ ngợi nhiều, con bé trả lại chiếc đồng hồ ngay lập tức. Reginald cầm lấy nó nhưng không nói gì, chỉ lặng lẽ bỏ đi.

– Reginald… – Olivia vội vã gọi lại.

– …

– Tôi xin lỗi. Tôi chỉ muốn ngài biết là—tôi không có ý định bán cái đồng hồ đi.

– Đừng ngồi dưới gốc cây khi trời mưa to. – Reginald nhìn về phía cây cổ thụ, lo con bé có thể sẽ bị sét đánh trúng.

Olivia lại nở nụ cười tinh quái với Reginald, chưa bao giờ nghĩ rằng mình thích gương mặt cáu kỉnh này đến thế. Cô bé vỗ nhẹ lên gốc cây, ngỏ ý muốn anh ngồi xuống bên cạnh mình. Olivia nhìn vào chiếc ô của Reginald, nhại lại những điều anh đã nói:

– “Nó chỉ là một cái ô bình thường, không có gì đặc biệt” hả?

Reginald chỉ nhún vai.

– Hãy trả lời tôi thật lòng, Reginald. – Olivia lấy tay vuốt bớt nước mưa trên mặt. – Ngài có định giết tôi không?

– Thật ra thì, không. – Reginald kéo chiếc ô ra, đưa phần cán cho Olivia. – Ta chỉ muốn dọa ngươi thôi. Đừng bao giờ làm cái trò đấy trước mặt bất cứ ai, trừ khi ngươi muốn bị kẻ nào hãm hiếp rồi quẳng xác vào bụi cây.

Olivia rùng mình.

– Chạm vào phần giữa đi… – Reginald chìa cái cán ô ra trước mặt con bé.

Olivia làm theo lời anh nói. Trái với vẻ ngoài sắc, nhỏ và nguy hiểm của mình; mảnh kim loại mỏng manh này cùn đến mức không làm chảy máu nổi con bé dù đã miết mạnh tay lên trên.

– Có thứ nào ngài mang trên người mà không vô dụng không? – Olivia bật cười.

Reginald lấy lại chiếc cán. Anh ta tháo găng phải, trượt tay mình từ phần mũi kiếm xuống, ngay lập tức bị cứa.

– Thật kỳ lạ! – Olivia thốt lên đầy kinh ngạc khi nhìn thấy máu chảy ra từ Reginald. – Sao nó không cắt vào tay tôi?

Lắp ô lại như cũ, Reginald trả lời:

– Thứ này không thể giết người bình thường. Nó vốn không được làm ra để giết người.

– Mà để giết những kẻ như…? – Olivia nhìn vào bàn tay phải của Reginald, lại rùng mình.

– Những kẻ như ta, như tên ngươi gặp tối hôm qua.

Đứa nhóc hít một hơi dài để lấy lại bình tĩnh. Thì ra từ trước tới nay Reginald vẫn chỉ đùa cợt mà thôi. Nhưng lạc quan mà nói, anh ta chưa bao giờ có ý định giết nó này cả. Rốt cuộc Reginald muốn gì?

– Vậy, những kẻ như ngài và Michael là…? – Olivia ngân dài câu hỏi, dù không mong chờ câu trả lời hoang đường nào đó.

– Là ma cà rồng. Lúc ấy, không phải hắn có ý định cưỡng hiếp ngươi — mà là muốn giết ngươi. Ta không thể để điều đó xảy ra. – Reginald nhìn về phía lâu đài, cố gắng tránh ánh mắt hiếu kỳ và xúc động của Olivia.

– Ngài cũng là ma cà rồng? – Olivia hỏi bâng quơ, không biết phải tin vào điều gì nữa.

– Không. Ta là ma cà rồng bất tử. – Reginald vuốt mái tóc đẫm nước mưa của anh ta lên trên trán.

– Phải rồi. – Olivia phì cười. – Ma cà rồng thì không bất tử chắc!

– Ma cà rồng bất tử sống lâu hơn ma cà rồng bình thường. Giết chúng cũng khó hơn.

– Phải rồi…

Thái độ nghiêm túc cùng gương mặt thẳng băng của gã ma cà rồng suýt chút nữa đã khiến Olivia không dám đùa cợt thêm. Nhưng rồi, nhớ lại những lúc mình tưởng rằng Reginald đã chết, đứa trẻ ngốc nghếch ấy lại phá lên cười. Những sinh vật như phù thủy, yêu tinh hay ma cà rồng đáng lẽ ra chỉ nên có trong truyện truyền thuyết hoang đường thôi chứ. Nhưng giờ đây, Olivia đang ngồi nóói chuyện với một con quỷ hút máu bằng xương bằng thịt mà trước đó vẫn chẳng thể phát hiện ra. Điều kỳ lạ là ở chỗ, tại sao nó không cảm thấy sợ hãi một chút nào?

Vài tia chớp xanh trắng nháy lên, mang theo tiếng nổ lớn làm Olivia giật mình. Có vẻ như với con bé ấy, sấm còn đáng sợ hơn cả quỷ hút máu.

– Ngài có sợ sấm không, Reginald?

– Không.

– Vậy ngài sợ cái gì?

Olivia chưa kịp dứt lời thì lại thêm một tiếng sấm, con bé giật bắn người.

– Chúng ta nên vào trong. Cơn dông này chắc phải tới sáng mai mới dứt. – Reginald nói.

Olivia nhìn theo cái dàng khòng khòng của Reginald đi trước. Anh ta giống như một người đàn ông trầm uất và khắc khổ hơn là một con quái vật sống về đêm.

– Reginald, đợi đã!

Gã ma cà rồng quay đầu lại theo tiếng gọi lớn của đứa nhóc ấy.

– Có một cái tổ chim ở trên cây. Tôi không với tới được. – Olivia chỉ lên trên tán cây. – Ngài có thể trèo lên và lấy nó xuống không? Tôi sợ trận gió lớn sẽ cuốn nó đi mất.

Với bộ dạng ướt như chuột lội này, Reginald thấy chẳng thoải mái chút nào với việc trèo cây — nhưng anh ta rốt cuộc vẫn làm điều đó cho Olivia.

– Cảm ơn Reginald. – Olivia mỉm cười với chiếc tổ có hai quả trứng, chạy theo anh vào trong lâu đài.

Ngay khi Reginald vừa mở cửa, một tiếng nổ lớn vang lên làm cả hai giật mình. Họ nghe thấy tiếng cành cây đổ, liền quay đầu lại, nhận ra tán cây vừa rồi bị sét đánh gãy mất một phần ba. Thật là may mắn khi không có ai đứng ở đó lúc ấy.

– Cảm ơn, Reginald… – Olivia lắp bắp không nên lời, nhận ra mình vừa thoát chết. – Ngài, ngài lại cứu tôi lần nữa…

– Không, lũ chim phải cảm ơn ngươi, Olivia. – Reginald bàng hoàng nhìn về phía cái cây.

* * *

Reginald và Olivia ngồi trước lò sưởi lớn ở phòng khách của lâu đài, may mắn sao vẫn còn chút than ở đó — đủ để hong đồ và sưởi ấm. Giờ cả hai đều đã khô ráo, và Olivia đang chờ thưởng thức vài tách trà nóng hổi được Reginald bưng trên khay. Chờ cho chủ nhà đặt bộ trà xuống, cô bé nhanh nhảu thả tới ba viên đường vào trong chén, tiện bỏ luôn viên thứ tư vào miệng ngậm.

– Reginald, nếu cái đồng hồ ấy không thể xem giờ được, tại sao ngài lúc nào cũng nhìn vào nó thế?

– Ngươi phải lên dây cót thì nó mới chạy được chứ. – Reginald đáp, liền đó đưa tay lấy lại cái thìa bạc mà Olivia đã “thó” được.

– Tôi thấy ngài cũng hay nhìn lên trời nữa.

– Thói quen khó bỏ. Ta nhìn lên trời để đoán được thời gian, thời tiết… và nhiều thứ khác.

Reginald rót trà ra cho Olivia và anh ta. Hơi nước nóng bay lên đưa mùi hương dễ chịu lan tỏa ra khắp nơi.

– Vậy, họ của ngài là gì? – Olivia chau mày.

– Dracula. Có nghĩa là “Đứa con của rồng” nếu ngươi cần thêm thông tin.

– Tuổi thật của ngài là bao nhiêu vậy?

– Có lẽ là ba.

– Sao lại là ba? – Olivia cảm thấy khó hiểu, Reginald trông già dặn như vậy cơ mà.

– Vì ma cà rồng sống lâu nên chúng ta tính tuổi bằng thế kỷ.

– Vậy thì sống lâu thật đấy! – Olivia trầm trồ. – Sao ngài lại nói dối tôi là ngài mười lăm?

– Vì ta đoán ngươi sợ đàn ông lớn tuổi. Và ta cũng uống rượu say để che giấu vẻ thiếu sinh khí vào buổi sáng của mình.

Cảm thấy bị quấy nhiễu trước những câu hỏi thừa thãi liên tục Olivia, Reginald rót thêm trà đưa cho con bé, hy vọng cái miệng liến thoắng ấy sẽ ngừng lại một lúc.

– Uống đi nhóc.

Olivia nhìn xung quanh tòa lâu đài: nó tẻ nhạt và ảm đạm, chẳng khác gì Reginald.

– Reginald, tôi chán quá! – Olivia than thở, kéo vào tay áo Reginald. – Ngài có trò gì chơi không?

– Chúng ta có thể chơi cờ vua. – Giọng Reginald chợt hào hứng hẳn lên.

Đôi mắt Olivia ánh lên một chút ngạc nhiên pha lẫn mừng rỡ — rồi rất nhanh chóng — lại cụp đi, đảo sang hướng khác.

– Chán chết!

– Một chút “hứng khởi ngày thu” thì sao? – Anh mỉa mai.

– Đùa hay đấy Reginald! Đi đi trước khi tự khiến bản thân xấu hổ! – Olivia tức tối đấm vào cánh tay gã ma cà rồng. Con bé không thể tin Reginald lại lấy một chuyện như vậy ra làm trò đùa.

– Tốt nhất là ngươi đi ngủ đi. Ngươi không mệt à?

– Được thôi, còn hơn là ở đây!

Olivia đi lên tầng hai, bỏ lại Reginald ngồi một mình bên bộ trà sứ. Gã ma cà rồng nhìn cái tổ chim đặt trên bàn, nhớ lại câu hỏi mà đứa nhiễu sự mới quen đã dành cho mình. Đúng là không phải Reginald sẽ ra tay cứu giúp bất cứ kẻ yếu nào gã gặp trên đường. Có thể Olivia vẫn còn nhỏ, ngây thơ, giàu lòng trắc ẩn và không chịu nổi cảnh những đứa con khác phải mồ côi giống mình; hoặc chỉ đơn giản là con bé yêu động vật nên mới hành động như thế. Reginald biết việc gã cứu Olivia không phải do bản tính tốt bụng hay động lòng thương, nhưng gã tự hỏi tại sao sau từng ấy rắc rối Olivia gây ra, gã lại để nó vào nhà và cho qua tất cả mọi thứ.

“Con bé làm đủ thứ để lấy được cái đồng hồ, rồi lại đem trả — vì nó tưởng là hỏng.” – Reginald cười nhạt. – “Nó không bán thì lấy để làm gì?”

* * *

Olivia nằm co ro trên giường, thỉnh thoảng lại giật mình vì những tiếng sấm bên ngoài cửa sổ. Dù vẫn còn sốc với những gì đã trải qua, Olivia cố tỏ ra như thể chẳng có gì ảnh hưởng gì tới mình trước mặt Reginald.

Reginald thật là một người phức tạp và thay đổi hơn cả thời tiết. Thỉnh thoảng ngài ấy vẫn cư xử tốt và tình cảm, có lúc lại nổi cáu chỉ vì một vài điều vặt vãnh — và tất nhiên, không thể nào bỏ qua cái kiểu trò chuyện lạnh nhạt với thói mỉa mai đáng ghét kia được. Nhưng có một điều cố định ở con người này, đó là sự xa cách lúc nào cũng hiện rõ mồn một. Reginald không nói nhiều về bản thân, thậm chí còn tỏ ra khó chịu mỗi khi bị tra hỏi. Trong mắt Olivia, điều đó khiến anh ta trở thành một kẻ thích tỏ ra thanh cao với đời hơn là một người (đáng ra nên) tạo ấn tượng tốt cho những ai chưa thân quen. Cô bé ghét những người như thế, họ quá kiêu ngạo và lập dị! Nhưng mỗi khi bắt gặp ánh mắt buồn xa xăm của Reginald, Olivia lại thấy có gì đó không đúng và băn khoăn tự hỏi:

“Reginald, ngài có phải là người tốt không?”

Dòng suy nghĩ lan man của đứa trẻ bị cắt ngang bởi những cơn ho mạnh. Olivia lúc này thấy khó thở và tức ngực; toàn bộ vùng đầu, trán nóng râm ran. Cô bé lấy tay bịt miệng mình lại khi nhận ra Reginald đang bước lên trên cầu thang.

* * *

“Olivia van Schoolderwalt… Đợi đã, chẳng phải Olivia nói rằng con bé là trẻ mồ côi?”

Reginald đi qua hành lang. Nghe thấy những tiếng ho và rên rỉ của Olivia, anh chợt cảm thấy lo lắng. Đứa trẻ này vốn thể trạng đã không tốt, phải chăng trận tắm mưa vừa rồi đã đẩy nhanh giai đoạn ốm đau của nó.

“Mình có thể hỏi Olivia — việc mình không muốn một chút nào và khả năng rất cao là sẽ không nhận được thông tin cần thiết — hoặc đơn giản là cắn cho nó một nhát.” – Reginald mở cửa phòng mình. – “Phải rồi, như vậy đơn giản hơn rất nhiều. Chỉ là…”

Anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh cái bàn nhỏ hướng ra ô cửa sổ đã bị nước mưa làm mờ hết, tì trán lên nắm tay trái.

“Mày lại lo nghĩ nhiều quá rồi, Reginald!”

Reginald đáng lẽ đã có thể ra ngoài nếu như không có mưa lớn. Đêm vẫn còn dài nhưng anh chẳng tài nào ngồi suy nghĩ thông suốt được khi những tiếng sụt sịt và nghẹn ngào cứ vọng ra từ phòng Olivia.

* * *

Olivia dậy từ sớm. Cô bé không ngủ được nhiều cho lắm suốt đêm hôm qua. Nếu không phải vì tiếng sấm thì cũng là do khó thở. Quấy quá gấp lại đống chăn, Olivia mở cửa sổ đón bầu không khí tươi mát của buổi sáng sau cơn mưa. Bầu trời lúc này quang đãng vô cùng, cô bé có thể nghe thấy cả tiếng chim hót.

“Tiếng chim hót nghe buồn quá.” – Đứa trẻ thầm nghĩ. – “Đợi đã, đúng rồi!”

Olivia lao xuống phòng khách. Trên bàn uống trà của Reginald, cái tổ chim đựng hai quả trứng vẫn còn.

“Đến lúc mang mày về với mẹ rồi.”

Olivia cầm lấy cái tổ, chạy biến ra ngoài.

Đúng như những gì nhóc nghĩ, một con chim đang bay vòng quanh chiếc cây bị sét đánh gãy đêm qua. Nó vẫy cánh liên hồi, cất tiếng hót thảm thiết khi không nhìn thấy chiếc tổ nhỏ đâu.

– Con mày đây. Hôm qua tao đã đem vào trong. – Olivia đặt chiếc tổ xuống dưới đất. – Vẫn còn nguyên vẹn và an toàn nhé!

Chim mẹ mừng rỡ đậu vào tổ, kiểm tra những đứa con chưa nở của nó. Olivia mỉm cười và chạy vào trong.

– Gì thế? – Cô bé ngạc nhiên khi chú chim nhỏ bay trước mặt mình, cất lên tiếng hót. – Quay về với con mày đi. – Olivia không biết rằng đó là cách mà chim mẹ thể hiện sự biết ơn của mình với ân nhân.

* * *

Sau cả đêm dài chẳng có gì bỏ bụng ngoài nước trà, Olivia vội vàng lục khắp các ngăn tủ trong nhà bếp của Reginald — hy vọng tìm được thứ gì có thể lấp đầy cái dạ dày đang kêu lên inh ỏi của mình.

“Chết tiệt! Người Anh không sống bằng thứ gì khác ngoài trà sao?” – Olivia phát bực khi tất cả những thứ tìm được trong tủ chỉ là trà, trà, trà, và mật ong đầy ruồi chết ở trong. Nó quyết định tìm Reginald hỏi xin.

Olivia chạy dọc sảnh tầng hai, ngó nghiêng khắp nơi. Không biết Reginald ở trong phòng nào, con bé đành gọi to:

– Reginald, ngài ở đâu?

Tất cả những căn phòng giống nhau đều trống rỗng. Chỉ còn lại một chiếc lớn nhất ở phía cuối, khác với những cái còn lại. Olivia hy vọng là mình đoán đúng.

– Reginald! – Olivia gõ cửa. – Tôi vào được không?

Không có tiếng đáp lại.

Cánh cửa bị đẩy ra, bên trong là Reginald đang ngồi trên ghế. Hai mắt anh ta nhắm, cả đầu và lưng ngả ra đằng sau.

– Dậy đi. Giờ này còn ngủ à… – Olivia lay mạnh Reginald. – À!

Sực nhớ chỉ có một cách duy nhất để đánh thức gã ma cà rồng này dậy, đứa nhóc lấy cái chăn ở trên giường trùm lên người anh.

– Để ta yên… – Reginald nói qua tấm chăn bằng thứ giọng uể oải.

– Tôi sẽ để ngài yên nếu ngài cho tôi biết đồ ăn ở đâu.

– Ta chưa mua.

– Vậy tại sao lại mua nhiều trà vậy? – Olivia cảm thấy bất công khi đồ ăn thì khan hiếm nhưng trà lại dư thừa.

– Chỗ trà đó có sẵn trong lâu đài rồi. Tại sao không lấy hai quả trứng kia ra làm Omlete?

– Chả trách uống thấy tệ thế! – Olivia rùng mình nghĩ về những mẩu lá trà mốc meo. – Đồ không có trái tim! Lũ chim ấy còn chưa nở mà! Ít nhất thì ngài có thể cho tôi ít tiền để mua thức ăn chứ?

– Cầm lấy ví và đi đi! – Reginald gắt, chỉ muốn xua đuổi đứa trẻ phiền nhiễu đi càng xa khỏi mình càng tốt. – Mua cái gì phải ghi lại.

– Cảm ơn, Reginald. – Olivia cầm lấy chiếc ví trên bàn, tiện thể lấy luôn cây bút và tờ giấy ở đó.

– Nhớ hỏi đường, đừng để bị lạc. – Reginald nói với Olivia vừa mới tung tăng rời đi.

* * *

Olivia đặt tay lên cái trán lúc nào cũng nóng rực của mình, tự nhủ mua thêm ít thuốc hạ sốt chắc Reginald không nói gì.

“Nhưng mình hỏi đường kiểu gì đây? Mình không biết tiếng Anh.”

Olivia quyết định đi theo cảm tính, lạc quan tin rằng mình sẽ nhanh chóng tìm được cửa hàng bán thực phẩm hay hiệu thuốc nào đó. Tất cả những gì cô bé cần làm là ghi nhớ lại đoạn đường đã đi để khỏi bị lạc; nhưng sự thật thì càng đi xa, cô bé lại càng thấy bối rối. Cứ cách mỗi một con dốc lại tới một lần quẹo trái, quọe trái xong sang con dốc thứ hai thì lại quẹo phải, tới lối rẽ thứ ba, Olivia quên mất hoàn toàn đường đi.

“Lúc nào cũng vậy!” – Olivia nhìn ra xung quanh, lo sẽ bị lạc.

– Đi đâu vậy em? Lạc hả? – Một chàng trai vóc cao tầm thước lại gần Olivia. Anh ấy có mái tóc nâu nhạt ánh hung đỏ và một gương mặt trẻ trung dễ mến.

– Anh có biết đường đi tới hiệu thuốc không? – Olivia ngạc nhiên khi cậu ta nói tiếng Pháp. – Sao anh biết em nói tiếng Pháp?

– Đoán mò thôi. – Cậu cười tươi. – Em cứ đi thẳng cho đến khi nào ra ngã tư thì rẽ trái. Ở đó là trung tâm thị trấn này, cửa hàng nào cũng có hết.

– Cảm ơn anh.

– Này em gái, anh cũng đang định ra đó. Em muốn có người đi cùng chứ? – Anh chàng nhìn Olivia, chĩa ngón cái ra phía sau lưng mình.

Olivia nhún vai, vẻ dè chừng. Nhưng rồi, đứa trẻ sớm bị sự nhiệt tình của cậu ta thuyết phục. Anh chàng giải thích cho cô bé mới tới về cách bố trí đường đi của thị trấn này. Sau một hồi thắc mắc với những chỉ dẫn, Olivia cuối cùng cũng hình dung ra được một số chi tiết nổi bật như quảng trường, công viên Forest Hill, đồn cảnh sát và tòa nhà chung.

– Anh chợt nhớ ra chúng ta chưa làm quen. Em tên là gì vậy?

– Olivia. Còn anh?

– Cành Olive hả? Tên anh là Allan.

– Tên em có gì buồn cười sao? – Olivia thắc mắc.

– Không, không có gì. Em có cần anh mua giúp gì không? Anh không có ý gì đâu, chỉ là—em biết đấy. – Allan cười trừ. Sau phần diễn giải dông dài và đầy mệt mỏi cho Olivia về đường đi lối lại ở Forest Hill, cậu thấy đứa trẻ này không những đãng trí và thiếu tập trung, mà còn rất tệ trong việc xác định phương hướng.

– Vậy anh mua gúp em những thứ này nhé? – Olivia đưa mẩu giấy cho Allan.

– Cứ đợi anh ở đây. Anh sẽ gọi cho em cốc sữa ấm. – Allan nhìn vào tờ danh sách. – Em định làm món Ý hả?

– Vâng. – Olivia gật đầu.

Olivia ngồi chờ Allan tại một chiếc bàn đơn ở vỉa hè, trước một quán café khá rộng và đẹp mắt: tường ốp gỗ nâu nhạt, sàn cũng ốp gỗ nâu, bên trên treo đèn bóng trắng, phía sau bàn pha chế là cả một tủ chứa biết bao nhiêu là chai rượu. Từ khung cửa kính lớn, cô bé ngó vào ngắm từng hàng ghế gỗ thẳng tắp và những vị khách bên trong, chợt nhớ về Paris.

Nhân viên phục vụ mỉm cười với Olivia, chị ta đặt chiếc đĩa đựng chút bánh quy gừng cùng ly sữa xuống bàn rồi quay vào trong quán. Đứa trẻ háu đói bốc một loáng hết sạch mấy cái bánh cỏn con, uống cạn phần sữa — nhưng từng ấy vẫn chưa đủ no. Con bé nấc cụt một tiếng, đúng lúc anh chàng Allan quay trở lại.

– Của em đây. Tất cả là hai shillings. – Allan đưa cho Olivia chiếc túi đựng chỗ nguyên liệu tươi sống cùng gia vị và thuốc hạ sốt.

– Cảm ơn anh. – Olivia nhận lấy đồ, trả tiền cho Allan và không quên nở nụ cười tươi của mình. – Tạm biệt!

– Tạm biệt, Olivia! – Allan vẫy tay, hơi mỉm cười trước vẻ dễ thương của cô bé ấy.

Olivia đi thẳng một mạch về lâu đài của Reginald. Cô bé chỉ muốn trở về thật nhanh để còn được tự tay nấu một đĩa mì Ý sốt Pesto nóng hổi và thưởng thức nó ngay lập tức.

* * *

“Reginald, hứa với tôi là…”

Reginald ngồi thần mặt trong căn phòng khách bị rèm cửa phủ tối om. Anh cầm tách trà đã nguội ngắt trên tay, ánh mắt hướng xuống dưới sàn.

“Tôi hứa.”

Olivia mở tung cửa xông vào trong, bắt gặp bộ dạng ảo não của Reginald.

– Tại sao ngài lại để phòng tối vậy? – Olivia ngước lên khắp những khung cửa sổ khổng lồ đã bị che kín hết lại.

– Ta tưởng ngươi biết ma cà rồng không thể tiếp xúc với ánh sáng? – Reginald dừng lại việc hồi tưởng. Trông bộ dạng hổn hển với mái tóc bú rù của Olivia, anh cá con bé ấy hẳn đã đi lạc loanh quanh đâu đó đến mệt lử.

– Phải rồi! Da ngài sẽ bị cháy? – Olivia cười thích thú, tưởng tượng làn da tái nhợt của Reginald bị bỏng nắng đến đỏ ửng sẽ hài hước tới mức nào.

– Không. – Reginald đứng dậy, lại gần tấm rèm và kéo nó ra một chút. Anh ta chìa tay mình về phía có nắng chiếu vào. – Ta chỉ bất tỉnh mỗi khi tiếp xúc với ánh sáng ban ngày.

– Thì ra ngài bảo muốn đánh thức ngài thì phải trùm áo lên là vì thế. Làm ma cà rồng bất tử hay thật đấy! – Olivia gật đầu. – Reginald, tôi sắp làm món mì Ý. Ngài muốn một ít không?

– Không, cảm ơn, Olivia. – Reginald lắc đầu và bỏ đi. – Ngươi cứ ăn một mình.

– Được thôi. – Olivia nhún vai. – Ma cà rồng sống bằng máu nhỉ?

“Lại mì Ý?” – Reginald nghĩ về món ăn mà Olivia nói khi anh đi lên trên cầu thang.

Olivia đi tới nhà bếp, bắt tay vào công việc nấu nướng. Con bé nấu nhưng không tập trung, sốt ruột mong thức ăn mau chín để còn được nghỉ ngơi. Tại sao cảm giác buồn ngủ, tức ngực và khó thở cứ bám riết lấy người nó?

“Cái giường ở phòng đó ấm thật!”

* * *

Reginald đi vào phòng đọc, lấy một quyển sách đã ố vàng và đầy bụi bám ra.

“Mình nhớ là nó ở đây.” – Reginald lật nhanh các trang, tìm kiếm một tờ giấy cũ kĩ bị gấp làm đôi được kẹp bên trong — bức vẽ chì thành phố Venice. Anh ngắm nó một lúc khá lâu, mải nghĩ ngợi gì đó; thỉnh thoảng lại cười, hoặc thở dài, tự hỏi có nên đổ lỗi cho Olivia vì đã làm cho mình nhớ về nước Ý.

Trong khi Olivia đang bận ăn uống và Reginald thì đắm chìm trong cái thế giới hồi tưởng của mình, họ không nhận ra có một cặp mắt đang nhìn về tòa lâu đài từ đằng xa.

* * *

Olivia mang đống đĩa bẩn cho vào bồn và rửa. Con bé ghét công việc dọn dẹp, nhất là trong lúc đang bị sốt. Nhưng vì chẳng có ai lo việc đó thay cho mình, Olivia đâu thể làm gì khác. Xong xuôi, nó đi vào phòng, ngồi gục lên giường, gương mặt thì cau có và ủ rũ — khá giống của Reginald, dù Olivia đâu có làm gì quá sức.

“Mình không thể ở đây mãi được. Reginald tốt với mình, nhưng nếu mình không thể làm gì đó, nhỡ ông ta…” – Olivia lại bắt đầu ho. – “Nhưng, mình sẽ làm gì để kiếm sống? Ăn trộm là sai trái!”

“Ngươi có thể chạy, nhưng không thể trốn mãi đâu, Livie.”

Một vài ký ức trước đó ùa về khiến Olivia rùng mình. Nó ôm lấy gối, vùi mặt vào, đôi vai nhỏ lại run lên. Con bé không muốn làm phiền hay trở thành gánh nặng cho Reginald cũng như lợi dụng lòng tốt của người đàn ông này. Cứ nghĩ đến việc Reginald đã làm bao nhiêu thứ vì mình, và vẫn cho mình ở lại, cư xử rất đàng hoàng bất chấp mọi phiền toái; lòng Olivia lại trào dâng nỗi mặc cảm. Nếu nói trước đây chưa từng có ai đối xử tốt với đứa con gái vô danh này, điều ấy không đúng. Nhưng, Olivia vẫn không khỏi nghi ngờ liệu Reginald hành động như vậy có phải vì anh ta còn có động cơ sâu xa đằng sau. Vậy là nhằm mục đích gì? Một đứa trẻ hèn mọn như Olivia thì có gì đáng để lợi dụng? Khi nào thì bản chất và ý đồ xấu xa của Reginald sẽ lộ ra? Và kể cả nếu Reginald thật sự là một người tốt, lòng tốt ấy Olivia sẽ không bao giờ đền đáp được. Con bé sợ một ngày nào đó, vì quá mệt mỏi với việc chăm sóc cho đứa ăn bám này, Reginald sẽ chán chường và không còn quan tâm tới nó nữa.

“Đi đâu mới được?” – Olivia đưa tay trái lên cao, nhìn vào cái cổ tay chi chít sẹo ngang dọc.

Nước mắt có tác dụng rất tốt trong việc gây buồn ngủ. Olivia khóc và ngủ quên đi từ lúc nào không hay.

* * *

“Ta hỏi ngươi có sợ cái chết không, Livie?”

“Mình lại ngủ quên.”

Olivia nhỏm dậy, túm lấy mái tóc rối, cảm thấy việc bước xuống giường lúc này sao mà khó khăn. Chân tay con bé giờ bủn rủn, chẳng còn hoạt động như ý nữa; cổ họng thì khát khô. Có cái gì đó cứ đè nặng trong ngực Olivia, khó chịu vô cùng. Lúc nào con bé cũng thấy mệt tới mức chỉ muốn đi ngủ, nhưng ngủ rồi, thì tỉnh dậy lại càng thấy rời rạc hơn.

“Hay mình đi hít thở bên ngoài cho thoáng?” – Olivia nhìn ra cửa sổ, ngắm ánh mặt trời lúc hoàng hôn.

Có tiếng đẩy cửa từ tít đầu sảnh, tiếp đó là tiếng bước chân loẹt quẹt và tiếng gọi lớn:

“Reginald, tôi đi ra ngoài một lúc nhé?”

Reginald đang ngồi ở trong phòng mình, anh ta có nghe nhưng không quan tâm. Căn cứ vào sự im lặng ấy, Olivia cho rằng Reginald giận mình vì tiêu quá nhiều tiền.

Đứa nhóc vừa đi vừa hít thở một cách khó nhọc. Chưa rõ tác dụng của việc ra ngoài không gian mở tới đâu nhưng cô bé cảm thấy như bị tra tấn nếu cứ tiếp tục vận động. Có bực mình không khi toàn thân mệt lả chỉ muốn nằm xuống, nhưng nằm rồi vẫn thấy bứt rứt không yên!

Olivia quay đầu nhìn sang bên phải, phía chân ngọn đồi, mỉm cười nhớ lại lúc mình và Reginald vẫn còn ở trên đó. Cô bé chợt muốn vào rừng chơi một lúc.

– Bé cưng! – Gương mặt có chiếc cằm dài và đôi mắt xếch từ đâu bỗng xuất hiện trước Olivia. John-Michael cười ngoác miệng, trông chẳng khác nào một con cáo đểu cáng đang nhe răng. Hắn nâng cằm cô bé lên.

– Michael, enfoiré! (Xin phép không giải thích.) – Olivia chửi thề, hất bàn tay bẩn thỉu ấy ra. Con bé không ngờ lại gặp phải hắn, giá như có chiếc cán ô của Reginald ở đây!

– Anh vẫn không hiểu được tiếng Pháp đâu bé yêu!

Và hắn đấm vào bụng dưới của Olivia. Còn chưa kịp nhìn ra, cô bé đã nôn thốc rồi ngất đi vì quá đau.

* * *

“Mình nên kiếm một công việc.” – Reginald nghĩ tới số tiền anh đã, đang và sẽ phải chi tiêu cùng với chiếc ví ngày càng mỏng đi thấy rõ. Anh chắc chắn có thể sống một cuộc sống thoải mái ở lâu đài này — nhưng nếu có thêm Olivia, mọi thứ lại trở nên hoàn toàn khác biệt và khó đoán trước.

Rồi Reginald đứng dậy, nhìn ra cửa sổ. Trời đã tối nhưng chẳng nghe thấy tiếng Olivia đâu. Rõ ràng có gì đó không đúng, con bé ồn ào lắm cơ mà? Anh đi xuống tầng một, thấy gáy mình như có kiến bò.

– Olivia, ngươi về rồi chứ? – Reginald gọi lớn.

Đáp lại lời của Reginald chỉ có sự im lặng. Anh vội chạy lên phòng nó, mở toang cửa: căn phòng lúc này trống trơn.

“Không ổn… Được rồi, hoặc là ngươi mải chơi rồi lạc đường, hai là có chuyện gì đó đã xảy ra.”

Nhận ra đứa trẻ mình cứu mạng đã biến mất, trong lòng Reginald bỗng dưng nao nao ân hận vì đã ngó lơ nó. Giờ có phát hiện thì cũng quá muộn, anh ta đâu biết rằng Olivia đã bị John-Michael mang đi từ lâu.

– – – – – – HẾT PHẦN 5 – – – – – –


"Phần 6. Đi tìm Olivia" bởi iamDage
Reginald đi tới trung tâm thị trấn, vội tới mức quên không mặc thêm chiếc áo khoác thứ hai — dù ngoài trời lúc này đang có gió lớn. Anh nhìn khắp con phố, chỉ có lác đác một vài người đi lại và chẳng ai trong số đó giống Olivia cả.

“Olivia có thể ở đâu chứ?”

Những âm thanh vui tươi của tiếng đàn Piano và kèn Trombone vang lên thu hút sự chú ý của Reginald. Anh bước vài bước về phía quán café kiêm câu lạc bộ đêm trước mặt. Vẫn còn sớm nên khách tới khá vắng, những nhạc công lúc này chủ yếu chỉ chơi nhạc để tập luyện hoặc cho vui. Reginald nhìn xuống dưới, chợt nhận ra bàn chân mình đang giậm theo giai điệu Jazz lôi cuốn ấy. Nhưng, hình như có cái gì đó vẫn còn thiếu — có lẽ là tiếng kèn Saxophone, hay một giọng ca nữ gợi cảm nào đó. Những hình ảnh mờ nhạt và chớp nhoáng ùa về trong đầu người đàn ông hay hoài niệm: âm nhạc rộn rã, mùi khói của những điếu xì gà, mùi mồ hôi lẫn với hương nước hoa, những người con trai và những người con gái vui vẻ bên nhau…

“Mình phải đi tìm Olivia!” – Reginald nghĩ tới đó thì sực tỉnh. Olivia đã biến mất, không rõ liệu có an toàn hay không. Điều cần thiết nhất bây giờ là phải tìm cho ra con bé.

– Xin lỗi! Ngài làm rơi ví này!

Nghe thấy giọng nói của ai cất lên phía sau, Reginald quay đầu lại. Người gọi anh là một chàng thanh niên trẻ, vóc dáng trung bình, sở hữu mái tóc màu gừng quăn lại vào nhau, bồng lên như một quả bí ngô.

– Ngài lạc đường hả? – Allan cầm chiếc ví, bước nhanh tới chỗ Reginald. – Trông ngài không phải người ở đây.

– Cảm ơn anh bạn. – Reginald cầm lấy nó, khẽ gật đầu.

– Cái ví của ngài trông giống hệt của một cô bé sáng nay tôi gặp. – Allan mỉm cười. – Đến cả vết sờn ở mép cũng giống.

Reginald vô cùng ngạc nhiên.

– Cô bé ấy như thế nào?

– Thấp tới đây. – Allan đặt tay ngang ngực mình. – Tóc nâu, mắt xanh, chỉ nói được tiếng Pháp.

– Cậu gặp nó ở đâu?

– Cô bé bị lạc nên tôi đề nghị dẫn đường, mua hộ cho một ít thức ăn và thuốc hạ sốt.

Tới đây, Reginald không còn nghi ngờ gì nữa. Đó đúng là Olivia rồi.

– Tôi đang tìm đứa trẻ ấy. Nếu cậu biết thêm thông tin gì khác tôi sẽ rất biết ơn.

– Cô bé là gì của ngài? – Allan nghi ngờ. Giọng Reginald rõ ràng là của người bản xứ, trong khi Olivia lại chẳng biết một chút tiếng Anh nào.

– Nó là — con gái của… chị họ người Pháp của tôi. – Reginald đáp, hơi nghiêng đầu sang một bên. Đến anh cũng không thể tin rằng mình lại bịa như vậy — nhưng ngoài lý do đó ra, chẳng còn gì hợp lí hơn nữa. Anh cần phải biết Olivia đang ở đâu, ra sao.

Allan thấy có sự khiêm cưỡng trong lời Reginald nói.

– Cô bé có xưng tên với tôi. Hãy cho tôi biết họ tên đầy đủ của nó là gì. Nếu những gì ngài nói là đúng, tôi mới cho biết thêm.

Reginald chẳng lấy làm lạ khi Allan không tin tưởng mình. Dù lúc này đang rất vội, anh vẫn cố giữ bình tĩnh để trả lời cậu tóc đỏ ấy:

– Tên nó là Olivia van Schoolderwalt. Olivia xin phép ra ngoài chơi từ chiều vậy mà đến giờ chúng tôi vẫn chưa thấy nó về nhà.

– Tôi thông cảm với ngài và mẹ của Olivia. Nhưng sau khi giúp cô bé, chúng tôi đường ai nấy đi. Tôi rất xin lỗi, tôi không thể giúp được gì cả.

– Dù sao cũng cảm ơn cậu. – Reginald gật đầu. – Tạm biệt.

– Tạm biệt. Chúc ngài sớm tìm lại được cháu gái mình.

Reginald và Allan chia tay nhau theo hai hướng đối lập. Vừa đi, Reginald vừa nghĩ tới Allan. Có cái gì đó khiến anh cảm thấy không được “bình thường” cho lắm ở chàng trai trẻ này.

* * *

Olivia tỉnh dậy bởi cảm giác dây trói chật chội cứa chặt vào da thịt, nhận ra mình đang ngồi tựa vào tường trong tư thế hai tay bị vắt ngược về sau, thân người đè lên đôi chân gập chéo lại. Hai mắt của cô bé đã bị che mất không nhìn được gì cả, chỉ nghe được tiếng côn trùng kêu, tiếng gió rít và ngửi thấy cái mùi ẩm mốc tanh tưởi của bùn và rêu.

“Nút thắt chặt quá!” – Olivia vặn cả người lên nhưng không tài nào cởi được dây thừng. Cô bé cần phải thoát ra khỏi nơi quỷ quái này càng nhanh càng tốt!

Nhìn thấy Olivia đã tỉnh dậy và bắt đầu loay hoay, John-Michael buông lời châm chọc:

– Cưng thoát làm sao được!

Olivia dừng lại. Cô bé biết có giãy giụa cũng vô ích nếu đã rơi vào hoàn cảnh bị bịt mắt, trói, và được canh giữ bởi Michael.

– Vậy mới là cô bé ngoan chứ. – Jonh-Michael đưa tay lên má Olivia, véo thật mạnh, rồi chạm vào mạch máu đang đập nhanh dần vì hoảng sợ trên cổ nó. Tiếng mạch đập và tiếng rít của con bé làm hắn cảm thấy phấn khích.

Chợt, khuôn mặt hắn trở nên nhăn nhó và cáu kỉnh. John-Michael đứng dậy đi loanh quanh một lúc, gắt lên:

– Chết tiệt! Thằng đấy đi đâu mãi chưa về đây chứ!

Tiếng quát hậm hực ấy khiến Olivia lo đến run lập cập. Hắn lại muốn làm gì đây?

* * *

Đã quá nửa đêm. Reginald đi loanh quanh khắp thị trấn, quan sát từng cửa hàng, ngôi nhà và ngã rẽ một nhưng vẫn chưa tìm thấy được Olivia. Con bé cứ như thể chợt biến mất sau cái búng tay của nhà ảo thuật vậy, không một dấu vết.

“Olivia, ngươi đi đâu mới được chứ?” – Reginald tựa lưng vào bức tường, chau mày lại vì căng thẳng.

“CỨU TÔI VỚI…” – Tiếng kêu thất thanh vang lên từ một con ngõ, thu hút sự chú ý của Reginald.

“Chúa ơi, ta không có thời gian cho việc này!” – Reginald bặm chặt môi, cảm thấy lưỡng lự. – “Đợi đã, biết đâu…”

Hai tên vô lại đang dồn một cô gái trẻ vào ngõ cụt — hẳn sẽ định cướp, hiếp và thậm chí là giết. Cái bóng dài của Reginald đổ lên ba người đó. Anh không định ra tay cứu giúp, nhưng…

– Thả cô ấy ra. – Reginald nói.

– Quý ông ăn mặc đẹp định chơi trò anh hùng ở đây? – Chúng cười lớn, tất cả những gì chúng thấy chỉ là một người đàn ông trẻ cao lớn nhưng hốc hác đang định một mình chống lại hai kẻ lực lưỡng.

Hai tên trộm xông về phía Reginald, tay lăm lăm dao. Chưa kịp đâm hay chém, cả hai đã bị anh bóp cổ, ấn vào tường. Cô gái kêu cứu chỉ biết đứng trơ ra nhìn, run rẩy vì sợ hãi. Cô không tin nổi Reginald lại có thể tóm chúng nhanh và gọn đến thế.

– Còn nhìn gì nữa. Đi mau! – Reginald quát cô ta.

– C… Cảm ơn ngài. – Cô vội vã chạy đi.

– Một con bé tóc nâu, mắt xanh, không biết nói tiếng Anh. Các ngươi có nhìn thấy không? – Reginald nhìn vào mắt chúng.

– Bọn tao không nói đấy.

– Nói mau hoặc tao… – Đôi mắt Reginald chợt chuyển sang ánh đỏ quắc, cặp răng nhọn hoắt lộ ra dưới khóe miệng anh ta.

– Chúa ơi. Nó là… – Chúng hoảng sợ. – Hệt như lũ…

Reginald siết chặt hơn vào cổ chúng, gằn giọng:

– Nói!

– Chúng tôi không quen ai như thế cả. Làm ơn thả bọn tôi đi!

Reginald thả tay ra và chạm vào má hai kẻ đê tiện. Anh nhìn thẳng vào mắt chúng, ra lệnh:

– Nghe đây… Sau khi ta đi khỏi đây, hãy vào một quán rượu rẻ tiền nào đó và uống thật say. Khi đường đã vắng người, cả hai ngươi đi tới thung lũng, nhảy xuống suối tự vẫn. Hiểu chứ?

Ngay khi Reginald vừa rời khỏi con ngõ, hai tên đó lặng lẽ đi ra ngoài.

“Hai thằng ngu đó nói như vậy có nghĩa là ở Forest Hill này cũng có ma cà rồng khác. Nếu cảnh sát mà bắt được thì gay. Chết tiệt! Sao nhanh đến thế? Lũ ma cà rồng từ đâu ra?” – Reginald cảm thấy hoang mang. – “Như vậy càng phải tìm Olivia nhanh hơn. Nhưng, ở đâu?”

Một trận gió đưa mùi cháy khét lan ra xa, hướng về phía trung tâm thị trấn. Reginald đánh hơi thấy và nhìn lên bầu trời: một cột khói xám đang bốc lên giữa màn đêm đen. Anh chạy về phía đường lớn để nhìn cho rõ, chỗ khói ấy xuất phát từ khu rừng trên đồi.

“Mình có lẽ nên tới đó…”

– Ai vừa kêu cứu vậy? – Một viên cảnh sát từ xa chạy tới nơi phát ra tiếng la. Trước mắt ông, con ngõ trống trơn.

Reginald chạy thật nhanh về tòa lâu đài, túm lấy cái ô của mình rồi lại chạy đi. Trong lúc hướng về phía khu rừng, anh nhận ra một bãi nhầy đã khô lại kèm theo dấu chân nhỏ bỗng dưng biến mất, thay vào đó là vết giày rất lớn tại con đường dẫn từ chân đồi lên cao dần. Olivia đã nôn ra? Có phải con bé đã bị bắt đi mất? Tức tối, Reginald siết chặt bàn tay lại và đập lên đầu, tự trách bản thân sao không nghĩ ra sớm hơn. Anh đâu biết rằng Olivia có ý định lên đồi chơi, khi mà con bé mệt mỏi như vậy? Đáng lẽ ra anh đã có thể tiết kiệm được biết bao nhiêu thời gian thay vì đi lang thang một cách vô nghĩa ở ngoài thị trấn. Cũng đâu còn lâu nữa trước khi bình minh lại chuẩn bị xuất hiện. Nếu không nhanh lên, ánh mặt trời sẽ rút cạn của Reginald toàn bộ sức lực để đối mặt với những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

* * *

John-Michael ngồi dang rộng hai chân, ngắm nhìn cảnh Olivia run cầm cập vì lạnh với vẻ vô cùng khoái trá. Hắn muốn động chạm vào cơ thể nhỏ nhắn ấy và hiện thực hóa những hành vi bẩn thỉu đang diễn ra trong đầu mình, chợt có tiếng gọi ngoài cửa kia chợt vang lên đầy phá bĩnh:

“Michael! John! Mở cửa cho tôi.”

Tức tối đứng dậy, John-Michael đá vào cửa một cái rất mạnh rồi mới mở khóa, hất hàm:

– Mày chết ở chỗ nào mà giờ mới về?

– Xin lỗi. Tôi…

– Câm họng đi và thay tao trông con bé kia. Tao còn phải kiếm ăn!

– Được thôi. Tôi xin lỗi.

Olivia nghe được cuộc trò chuyện đó, tim cô bé hơi thắt lại khi cảm nhận được sự quen thuộc trong giọng nói của người vừa mới tới.

“Làm ơn đừng là…” – Con bé run rẩy cầu xin.

– Olivia! – Allan thốt lên khi nhìn thấy cô bé bị trói ở xó tường, liền chạy tới và kéo miếng vải ra khỏi mắt Olivia.

“Tại sao số phận mình lại hẩm hiu vậy?” – Olivia không thể tin nổi đồng bọn của Michael lại là Allan, người con trai mà cô bé từng cho là thân thiện và tốt bụng.

– Olivia, em ổn chứ?

– Cút đi! – Olivia hậm hực nói, không thèm nhìn cậu ta. Cô bé ngước lên, nhận ra mình đang ở trong một túp lều bằng gỗ vô cùng tồi tàn.

– Em đang lạnh và đói. – Allan đi tới chỗ cất đồ. – Để anh đốt chút củi và nấu gì đó cho.

Chàng trai chất một đống củi lớn vào lò sưởi. Cậu lấy từ túi quần mình ra hộp diêm, châm lửa đốt. Chẳng mấy chốc, toàn bộ túp lều trở nên dễ chịu hơn, và những làn khói dày đặc theo ống thoát bay lên trời…

Olivia mím chặt môi lại, nhìn khắp những ô cửa sổ đã vỡ rụng gần hết mọi mảng kính rồi nhìn xuống tấm sàn gỗ mục nát của túp lều, thấy mình sao thật ngờ nghệch và cả tin. Đứa trẻ cố cựa quậy trong lớp dây thừng ngứa ngáy, chúng thít chặt tới tức thở. Đôi tay nhỏ cố tìm cách gỡ nút thắt, bị cứa tới rỉ cả máu nhưng vẫn không thể nào nới lỏng ra được. Tình huống này, Olivia không biết nên chửi thề hay gào lên cho bõ tức!

Ngửi thấy mùi máu từ tay đứa con gái, John-Michael cười khoái trá.

– Bé yêu, anh đã bảo là không được rồi. Anh muốn bồng bé lên lắm, rồi ấn bé vào tường, hai tay bị trói như thế này này…

Olivia rùng mình khi tên bệnh hoạn đó liếm vào cổ mình.

– Thôi nào Michael, Olivia chỉ là đứa trẻ con!

– Chà, mày đúng là anh bạn đạo đức giả thật thà thánh thiện, phải không Allan! – John-Michael nhìn Allan bằng ánh mắt khinh thường, lấy hai tay ẩn mạnh vào ngực cậu. – Tao đang khát như điên đây và có lẽ tao nên cắn mày, như vậy có lẽ mày sẽ hiểu được cảm giác của ma cà rồng chứ?

Allan im lặng trước lời đe dọa của đồng bọn. Cậu hiểu điều tên bệnh hoạn ấy muốn ám chỉ là gì. Nếu như không có lệnh của ông chủ, có lẽ thằng John-Michael sẽ không ngần ngại giết chết cậu ngay tại đây, ngay lúc này với cơn khát máu đang cào xé ruột gan hắn.

– Michael, nhưng Olivia không… – Allan nhìn thấy mặt Olivia đang nhăn nhó lại.

– Con ranh đấy chỉ làm trò lừa chúng ta thôi! Mày không nhớ ông chủ đã nói gì về nó hả!

– Cô bé không khỏe, Michael! Nhìn đi! – Allan đưa tay về phía Olivia đang tím tái và đầm đìa mồ hôi. Cô bé ho lên vài tiếng, trông như sắp ngất xỉu đến nơi.

– Mặc kệ nó!

John-Michael khoát tay, vội vã bỏ ra ngoài để tìm máu, phó mặc Olivia ốm yếu cho Allan trông coi. Chờ hắn bỏ đi rồi, Allan cười gượng nhìn Olivia, ngỏ ý muốn bắt chuyện.

– Michael là ma cà rồng…

– Tôi biết. – Olivia ngắt lời. – Chỉ là…

– Anh ấy chỉ nóng giận vì không có máu thôi. Thật ra, nhiều lúc Michael cũng không đến nỗi nào đâu.

– Tôi cũng biết một ma cà rồng, ma cà rồng bất tử.

– Ma cà rồng bất tử? – Allan nhắc lại, tỏ ra không quá ngạc nhiên.

– Đúng thế! Ngài ấy rất mạnh và sẽ bẻ gãy từng chiếc răng nanh một của các người!

– Để anh đoán, “ma cà rồng bất tử” mà em nói là người đàn ông mặc đồ đen xì
đưa cho em chiếc ví đúng không?

Olivia giật mình, không nghĩ sẽ bị bắt thóp nhanh đến thế.

Allan cười nhẹ. Cậu ta đủ thông minh để biết Reginald và Olivia chẳng là gì của nhau.

– Anh gặp “cậu” của em ở trên đường, ông ấy đang đi tìm em đấy. Trông có vẻ rất vội và lo lắng.

“Reginald? Đi tìm mình?” – Olivia không ngờ Reginald lại đi tìm mình. Nếu đúng như Allan nói, vậy ngài ấy sắp sửa tới đây vào bất cứ lúc nào để cứu Olivia, và con bé không phải lo về tên Michael đáng khinh kia nữa?

Olivia thở phào, quyết định gợi chuyện gì đó để nói cho khỏi cô đơn. Dù sao Allan cũng đâu phải kiểu người xấu xa, và cô bé rất sợ việc phải im lìm một mình ở một nơi tối tăm, bẩn thỉu như thế này.

– Allan…

– Gì vậy?

– Anh không phải ma cà rồng. Tại sao anh lại đi cùng một kẻ như Michael?

– Về chuyện đó… – Allan gãi đầu, hai má cậu chợt hơi ửng hồng lên.

Olivia ho thành từng cơn, thấy cổ họng mình hình như có vị ngòn ngọt.

– Anh từng là con người. Năm mười chín tuổi, khi đi thăm trại ngựa, anh bị một con ngựa đá thẳng vào ức. Lúc ấy anh cứ tưởng mình sẽ chết… Nhưng may mắn làm sao, anh gặp được ông chủ. Ông ta biến đổi anh, đem anh về và giao anh cho Michael chăm sóc tới khi hồi phục hẳn. Số lần cắn đã khiến anh gần như không còn là con người, nhưng chưa đủ để anh trở thành ma cà rồng.

– Anh mang ơn hắn? Mang ơn họ? – Olivia chợt hiểu ra vấn đề của Allan. – Nhưng Michael đối xử với anh như rác rưởi vậy!

– Có thể em không tin anh, hoặc thấy hơi buồn cười — nhưng, ngoài Michael ra, chẳng có ai thật sự quan tâm hay ở bên cạnh anh những lúc ốm đói, thăng trầm cả… Anh ấy chỉ hơi nóng tính thôi… Olivia, làm ơn đừng hiểu lầm. Anh không muốn hành hạ em như thế này một chút nào!

– Thế còn bố mẹ anh? Họ không chăm sóc anh được sao? – Olivia thắc mắc.

– Không phải là họ không chăm sóc được anh, mà là họ không muốn chăm sóc anh… – Allan chợt nói nhỏ hẳn đi, giọng cậu ta bỗng run run và gằn xuống, giống như khi người ta muốn kìm lại cơn giận dữ và sự thù hằn sắp sửa bùng nổ.

– Em không ghét anh. Em chỉ muốn biết lý do tại sao thôi…

Allan trầm ngâm nhìn Olivia. Đôi mắt tròn và sáng long lanh sắc ngọc lam của đứa trẻ giờ sụp xuống đầy ủ rũ. Cậu thấy dày vò và lưỡng lự khủng khiếp giữa một bên là cô bé tội nghiệp với một bên là những người đàn ông đã cứu giúp mình. Công lao của họ, cả đời cậu không thể báo đáp hết. Nhưng, nghĩ đến số phận chênh chao của Olivia khi rơi vào tay ông chủ, Allan không thấy yên tâm chút nào.

– Allan, anh có thể nới lỏng dây ra một chút được không? – Giọng Olivia trở nên đục hơn. – Chỉ một chút thôi cũng được. Em không thở nổi nữa!

Allan nhìn cô bé bằng ánh mắt ái ngại. Cậu hoàn toàn có thể làm việc đó lúc này, nhưng còn John-Michael? Hắn sẽ phản ứng như thế nào khi trở về? Chợt nhớ tới liều thuốc mà Olivia đã mua buổi sáng hôm trước, cậu đặt tay lên trán cô bé, thấy nóng rực.

– Nếu chỉ một chút có lẽ không sao… – Allan cúi xuống, nới lỏng chỗ dây trói ra. – Em khó thở lắm à, chịu khó một chút đi. Ông chủ đã hứa sẽ không làm hại em, anh hy vọng vậy… Đừng mách ông ấy về Michael nhé!

Olivia hít một hơi thật sâu, cố gắng cử động đôi bàn tay tưởng như đã bị liệt vì tê cứng của mình. Allan lấy ra nồi súp cà rốt đã chín, múc vào hai bát cho mình và Olivia. Họ còn nói chuyện với nhau thêm một hồi lâu, rồi cơn buồn ngủ đến với cả hai.

* * *

“Làm ơn hãy vẫn bình yên, Olivia.”

Reginald cảm thấy vô cùng cắn rứt vì trước đó đã tỏ ra thờ ơ với Olivia. Anh thật sự quan tâm tới con bé, nhưng lại không muốn thừa nhận điều đó, càng không muốn Olivia biết được sự mềm yếu của mình. Dù có thế nào đi nữa, Reginald cũng sẽ không bao giờ tha thứ được cho bản thân nếu bất cứ điều xấu xa nào xảy ra với nó. Anh muốn đảm bảo rằng mình sẽ kiểm soát được mọi tình huống xấu nhất có thể tới, nhưng thực tế thì ngược lại. Reginald không thể nghĩ ra được điều gì một cách thông suốt, khi mà nỗi sợ mất Olivia cứ bủa vây lấy tâm trí anh.

* * *

Olivia hé nửa con mắt nhìn xung quanh, Allan vẫn còn đang ngủ say. Cơ hội này nếu không nắm bắt nhanh, John-Michael sẽ trở lại và con bé không thể trốn thoát được nữa.

Đứa nhẹ nhàng co chân phải của mình lại gần với tay, cúi gập người. Hơi khó để lấy được chiếc dao găm giấu dưới chân nhưng nó vẫn kiên trì kéo nó xuống dần dần. Olivia thầm cảm ơn Allan vì đã kéo dây lỏng ra, nếu không, chuyện này quả thật bất khả thi.

“Tuyệt lắm!” – Olivia mừng rỡ khi con dao đã trượt xuống phía mắt cá chân.

Nhóc đứng dậy với con dao sau tay, rón rén bước tới phía cái hòm gỗ ở góc đối diện, cố nhét chuôi dao vào giữa hai kẽ hở. Olivia hướng phần mũi dao lên trên, xen thẳng vào giữa lớp dây trói và chỉ việc mài dây thừng lên đó cho đến khi đứt thì thôi. Có lẽ do quá phấn khích với việc chạy trốn, hoặc việc kiểm soát hành động đằng sau lưng thật khó khăn, đứa trẻ làm rơi dao găm xuống đất. Một tiếng “cộp” vang lên. Olivia sợ hãi nhìn về phía Allan.

“Ôi không!”

Âm thanh làm Allan trở mình. Con bé hoảng hốt cúi xuống nhặt dao lên hòng phi tang. Chỗ dây buộc trên tay chưa đứt hẳn nhưng vết cắt đủ khiến nó lỏng ra, nó có thể dễ dàng luồn tay qua. May mắn làm sao, Allan không phải người ngủ thính. Sau cái trở mình, cậu tóc đỏ nhanh chóng nằm yên trở lại. Với đôi tay đã được giải phóng, Olivia cắt đứt nốt đoạn dây trói trên người mình. Con bé giấu con dao đi, nhẹ nhàng kéo cánh cửa túp lều và chạy ra bên ngoài.

Olivia nhận ra khung cảnh quen thuộc này, nhưng nó không biết lối đi ở đây. Thà rằng cứ chuồn thật xa, càng xa càng tốt rồi tìm đường về lâu đài còn hơn là chần chừ rồi bị bắt lại. Nghĩ như vậy, Olivia chọn bừa một hướng, cứ thế cắm đầu chạy, dù hơi thở và sức lực sắp không còn.

* * *

Reginald không rõ khu rừng trên đồi đã thay đổi sau bao nhiêu năm, nhưng anh biết có một túp lều gỗ nhỏ phát hiện ra được trong lúc đi kiếm củi lần trước. Nó cũ kĩ, bẩn thỉu và mục nát — chứng tỏ đã không có ai sống ở trong đó được một thời gian dài. Căn cứ vào cái “tài nghệ” đánh lửa của Olivia, khả năng người tạo ra đám khói là con bé không cao. Dấu chân kia đã dẫn Reginald đi hết gần nửa ngọn đồi, nếu Olivia bị giữ ở túp lều đó, anh sẽ đánh hơi thấy mùi máu nó.

* * *

Sau chuyến ghé thăm tới thị trấn kế bên mà chẳng kiếm được chút máu nào vì người dân ở đó đều khóa cửa đi ngủ từ rất sớm, John-Michael hậm hực quay trở lại túp lều. Nhìn thấy Allan đang ngủ, còn Olivia thì mất hút, hắn chửi bậy ầm ĩ. Bao nhiêu công sức giờ đã thành vô nghĩa. Tức tối, John-Michael đạp vào người Allan, túm lấy cậu mà gào lên:

– CON NHÃI KIA ĐÂU?

– Tôi… – Allan luống cuống khi nhận ra sự mất tích của Olivia.

– Đi tìm nó, mau! Trước khi lão giết cả hai chúng ta! – John-Michael cùng Allan xông ra ngoài.

– Tôi tìm hướng này, còn… – Allan chưa kịp nói xong thì đã bị Michael ngắt lời.

– Khỏi! Tao biết cách lần theo dấu vết trong rừng!

Và cả hai cùng chạy đi tìm Olivia…

* * *

Trong đầu Olivia lúc này chỉ nghĩ đến việc chạy và chạy tiếp. Đứa trẻ không quan tâm nó đã vượt qua bao nhiêu cái cây, nhảy qua bao nhiêu bụi rậm và vấp ngã bao nhiêu lần — chỉ muốn thoát khỏi đây, khỏi hai kẻ đã bắt cóc mình và trở về lâu đài thật nhanh, càng nhanh càng tốt. Nhưng, với tình trạng cổ họng thì bỏng rát, tim đập liên hồi, đôi chân bị gai cứa xước… Olivia thấy không thể cất bước nổi nữa.

Có cái gì đó vỡ tung ra trong ngực con bé rồi trào hết lên cổ họng, bốc mùi tanh tưởi. Olivia ngã xuống đất, ho vật vã. Từng cơn ho một mang theo cả những tia máu đỏ bắn xuống đám cỏ xanh.

“Cái gì thế này?” – Olivia hoảng sợ khi thấy thứ mình ho ra là máu.

* * *

– Tìm thấy rồi! – John-Michael mỉm cười, hít lấy hít để cái mùi máu người đang lan dần ra khắp khu rừng.

* * *

Reginald ngửi thấy trong không khí một mùi máu tanh thoang thoảng chút hương hoa oải hương. Anh kinh hãi nghĩ đến viễn cảnh tồi tệ rằng Oliva đã đổ máu, hoặc tệ hơn, bị giết.

“Không!”

* * *

Olivia choáng váng, thấy mọi thứ xung quanh mình dần tối sầm lại. Cơ thể nó trở nên rã rời, tới mức lết đi cũng không nổi. Olivia thở gấp. Những cơn tức ngực vẫn kéo tới khiến nó ho thêm, nhưng Olivia chẳng còn sức để làm như vậy nữa. Con bé bắt đầu khóc.

“Cố lên nào, Olivia! Đừng chết ở đây chứ!” – Olivia chống hai tay xuống đất, nâng bản thân dậy.

“Đúng rồi… Đứng dậy nào Olivia.” – Con bé bám vào gốc cây gần đó, vừa thở hổn hển vừa gượng bước đi.

– Vừa ho ra máu mà còn định chạy nữa hả? – Tiếng nói của Michael đằng sau lưng làm Olivia giật mình. Hắn ta nhanh đến vậy? Sao Olivia không hề nghe thấy tiếng bước chân nào?

John-Michael bế thốc Olivia lên vai, vác con bé quay ngược trở lại cùng Allan.

– BỎ RA! BỎ RA! – Olivia hét lên, khua tay đấm loạn xạ vào John-Michael trong vô ích. Tiếng hét cứ nhỏ lại rồi đuối dần.

Reginald tăng tốc hết cỡ, đuổi theo tiếng la thất thanh và cái mùi tanh tưởi mỗi lúc một nồng hơn kia. Khi anh tới nơi, tất cả chỉ là một vũng máu trên cỏ và những chiếc lá cây còn tươi được thả rải rác đường đi như một dấu hiệu từ Olivia.

“Olivia, cố lên!” – Reginald tự nhủ, chạy theo những chiếc lá xanh trên đất.

* * *

John-Michael quăng vật đứa con gái xuống đất. Hắn đấm Olivia, một bên mắt con bé thâm đen.

– Con ***, mày nghĩ mày có thể trốn đi dễ thế hả!

– Bâtard! (Thằng khốn nạn!) – Olivia nhổ vào mặt Michael.

Bị xỉ nhục bởi một đứa con gái, John-Michael đưa tay vuốt lẫy chỗ nước vừa bắn lên mặt, tức giận tát Olivia.

– Michael! Đừng đánh con bé nữa! – Allan giữ tay John-Michael lại.

– Còn mày nữa! – John-Michael đá vào bụng Allan. – Mày nghĩ vì mày nằm chung giường tao mà tao không dám làm gì mày hả! Con kia, mày có nói từng đấy thứ tiếng Pháp thì tao cũng chẳng biết và quan tâm đâu!

– Fuck you! – Olivia chửi hắn. Đó là câu tiếng Anh duy nhất nó biết.

Allan nghe thấy vậy, dù đau cũng không nhịn nổi cười.

John-Michael tức điên. Hắn túm lấy tóc Olivia, đập liên tiếp đầu con nhãi vào tường. Olivia quá mệt mỏi để có thể chống trả lại. Máu từ mũi nó chảy ra, tai nó ong lên, mọi thứ xung quanh tối sầm lại, đầu nó nhức khủng khiếp.

– Tao sẽ cắn nát cái cổ của mày ra nếu đó là việc cuối cùng tao làm, oắt con! Đáng lẽ hôm đó tao nên giết mày luôn mới phải!

Cánh cửa túp lều bị đạp tung, cả Allan, Olivia và John-Michael đều ngoái ra nhìn.

Máu trong người Reginald sôi sục lên khi nhìn thấy Olivia bị đánh đập như vậy. Anh xông vào đè John-Michael xuống dưới đất, đấm liên tiếp vào mặt hắn.

– Mày nói đúng! Tao đáng ra cũng nên giết mày hôm đấy mới phải! – Reginald rút cán ô, ấn vào cổ John-Michael.

– Cút ngay! – John-Michael co chân đạp Reginald ngã ra đất, thanh kiếm văng xa.

Reginald chạy tới, túm lấy cổ áo John-Michael, nhấc bổng hắn lên:

– Tao biết có kẻ đứng đằng sau sai khiến. Là ai?

– Mày biết là ai đấy.

– Đừng đùa với tao nhãi con! – Reginald đấm vào miệng hắn.

– Một ma cà rồng bất tử! Ông chủ tao có dặn trước về việc đề phòng mày rồi, thằng già. – John-Michael cười ha hả chọc tức Reginald. – Mà, có khi tao nên thử máu của mày. Tao thèm máu lắm rồi!

Đôi mắt Reginald long lên, anh đấm John-Michael văng nước miếng. Trong lúc hắn vẫn còn choáng váng, Reginald cố kéo hắn lại gần nơi chiếc cán ô bị rơi — nhưng John-Michael rõ ràng không vừa. Hắn khỏe hơn Reginald rất nhiều, chống trả vô cùng quyết liệt và nhất quyết không để cho gã ma cà rồng bất tử có cơ hội giết được mình.

John-Michael đạp Reginald đâm vào hòm, mạnh đến mức nắp hòm văng xuống đất, trôi về phía Olivia.

Nhìn thấy Reginald không chiếm ưu thế cho lắm, Olivia không nghĩ ngợi nhiều. Quên cả cơn đau, đứa nhóc lấy đà chạy về phía tấm gỗ, nhảy lên trên. Cái nắp trượt ra hướng Reginald, Olivia dùng mũi chân mình xoay một vòng. Phần đầu còn lại của miếng gỗ bênh lên, văng mạnh vào mắt cá John-Michael, hắn ngã đập đầu xuống đất.

Reginald không nói được câu nào, chỉ nhìn Olivia bằng đôi mắt mở to đầy kinh ngạc rồi vội vã cầm lấy cái cán ô. Biết mình vừa giúp Reginald một cách khá gọn gàng và đẹp mắt, Olivia cười tươi giơ ngón tay cái về phía anh, ngã gục xuống đất.

Vừa định nhỏm dậy, John-Michel bị giẫm đè lên ngực. Chĩa mũi kiếm vào hắn, Reginald nói bằng giọng vô cảm:

– Vĩnh biệt!

– MICHAEL! – Allan kêu lên đầy đau đớn.

Lưỡi kiếm của Reginald lê thẳng qua cái cổ gầy xanh lét của John-Michael. Dòng máu từ động mạch của hắn bắn tung tóe, văng ra khắp nơi. Tên ma cà rồng ấy chỉ kịp gào lên một tiếng rồi nhanh chóng nằm bất động. Reginald cầm chiếc cán còn chưa khô máu nhìn Allan, đi chậm rãi về phía cậu ta. Cậu tóc đỏ nhắm mắt, hy vọng sẽ được nhận một cái chết nhanh chóng và nhân đạo.

– Đừng, Reginald! – Olivia vội vã ngăn lại.

– Nhưng hắn cùng tên kia bắt cóc ngươi.

– Allan không bắt tôi đi, chỉ Michael thôi! Anh ấy là người tốt, thậm chí còn không phải là ma cà rồng.

Reginald chau mày nhìn Allan. Thì ra cái cảm giác khó tả đó là vì Allan không phải ma cà rồng, nhưng cũng không còn mùi máu của con người.

– Reginald, tôi xin ngài đấy, Allan là người đã sưởi ấm và cởi trói cho tôi! – Olivia túm lấy tay Reginald. – Anh ấy chỉ làm vậy vì ông chủ anh ta ra lệnh…

Reginald thở dài, quay mặt sang hướng khác, lau qua cán rồi lắp lại ô. Olivia đã cầu xin như vậy, anh cũng đâu muốn con bé phải chứng kiến cảnh giết chóc.

– Ta không muốn nhìn thấy mặt ngươi nữa. – Reginald nói nhỏ, bế Olivia ra ngoài.

– Cảm ơn ngài! Và tạm biệt em, Olivia! – Allan khóc mếu máo, vội vã chạy đi.

Nhìn gương mặt bầm tím của Olivia cùng những vệt máu khô lại trên mũi và miệng con bé, Reginald lấy khăn tay ra lau cho nó, nhỏi nhỏ:

– Ngươi có thể đi được về nhà không?

– Tôi sẽ cố. – Olivia khẽ ho và thở nông.

– Trèo lên. Ta cõng ngươi về.

Olivia ban đầu còn hơi bất ngờ, nhưng sau đó cũng đồng ý. Lúc này con bé không thể cất tiếng nói nổi chứ đừng nói là đi. Nếu Reginald không ngỏ lời như vậy, chắc nó sẽ ngất luôn tại chỗ mất.

* * *

Allan cắm đầu chạy băng qua rừng. Nghĩ đến cái chết của John-Michael và cơn thịnh nộ sắp tới từ ông chủ, có lẽ cậu nên trốn đi càng xa càng tốt. Một cảm giác bức bối chợt đến, Allan thất thần. Là ông ta! Ông ta ở đây!

– Chậc chậc, Allan bé nhỏ! John-Michael đâu rồi? – Một giọng nói vang lên, nhưng chẳng có ai ngoài đó cả.

– Thưa ngài. Tôi rất xin lỗi vì đã làm ngài thất vọng. – Allan nhìn xung quanh. – Tôi… Michael đã…

– Ta không thấy có cô bé nào ở đây cả! Ngươi có muốn giải thích không?

– Tôi đã thất bại! John-Michael bị giết bởi ma cà rồng bất tử… Ông ta đi cùng cô bé ấy. – Allan lắp bắp. – Ngài đã đúng. Tôi rất xin lỗi! Tôi xin chấp nhận mọi hình phạt.

Bước chân sột soạt trên cỏ từng nhịp đều đều tiến lại gần làm chàng trai trẻ kinh hãi. Một bàn tay đeo chiếc nhẫn vàng nhẹ nhàng đặt lên vai cậu.

– Ồ không, Allan yêu quý. Ngươi đã hoàn thành vượt mức rồi! – Hắn ta vỗ nhè nhẹ lên vai Allan. – Ta tạm thời cứ để cho cô bé nghỉ ngơi dưỡng sức đã…

Allan nín thở. Cậu rất sợ mỗi khi ông chủ nói như vậy. Ông ta chưa bao giờ nổi giận, chỉ có những hành động và lời nói đầy ẩn ý che giấu cho cơn cuồng nộ sôi sục bên trong.

– Vì vậy, ta có một phần thưởng cho ngươi… – Hắn ghé sát vào tai Allan và thì thầm.

– Thưa ngài, hoàn thành tốt nhiệm vụ là bổn phận của tôi. Không cầ…

Trên nền cỏ xanh, lại từng giọt máu đỏ rỉ xuống. Allan ngã xuống đất với khuôn mặt vẫn còn nguyên sự đau đớn và hoảng sợ. Tim cậu ngừng đập, hơi ấm từ người cậu mỗi lúc một tàn lụi dần.

* * *

Lo sẽ không kịp về trước khi trời sáng, Reginald cõng Olivia đi rất nhanh, không thể ngừng nghĩ về kẻ đã sai Allan và John-Michael bắt cóc Olivia. Hắn là ai? Tại sao hắn lại làm vậy? Anh nhất định phải tìm cho ra! Nhưng trước đó, cần phải lo cho đứa bé ốm yếu này đã. Cái xác của Michael có thể mang đi giấu sau cũng được.

– Reginald… – Olivia lại ho.

– Bớt cái miệng và giữ sức đi. – Reginald quở trách. Thật ra, anh chỉ sợ con bé sẽ lại ho tiếp.

– Cảm ơn vì đã đi tìm tôi… – Olivia nói khẽ. – Tôi đã rất bất ngờ khi Allan kể rằng ngài lo cho tôi.

Reginald im lặng. Anh không biết nên nói lại thế nào cho hợp lý.

– Nói gì đó với tôi đi. – Olivia không chịu được sự im lặng từ Reginald.

– … Được rồi, ta có một câu hỏi. – Reginald thở dài. Đằng nào thì anh cũng phải nói ra điều mình đã trăn trở từ khi mới biết đứa nhóc ấy. – Olivia van Schoolderwalt, đó có phải là tên thật của ngươi không?

– Tại sao ngài hỏi tôi như vậy? – Olivia thắc mắc.

– Cứ trả lời đi.

– Nếu tôi nói không? – Olivia dù mệt vẫn cứ đùa cợt.

– Thì ta sẽ cho ngươi một ít tiền và gửi ngươi vào bệnh viện rồi đường ai nấy đi. Chúng ta chia tay nhau tại đây. – Reginald trả lời không chút giấu diếm. Nếu Olivia bị bỏ mặc vào lúc này, cái chết là điều con bé không thể tránh khỏi.

– Còn nếu đó là tên tôi?

– Ta…

– Ngài làm sao?

– Ta sẽ để ngươi tùy ý quyết định.

Olivia im lặng một lúc, suy nghĩ điều gì đó. Reginald cũng không muốn hối thúc con bé trong tình trạng này.

– Câu trả lời là có và không. – Olivia thú nhận. – Tôi không biết tên thật của mình. “Olivia” chỉ là cái tên người khác đặt cho tôi.

– Còn họ của ngươi?

– Van Schoolderwalt là cái tên duy nhất đi theo tôi từ lúc sinh ra. Người ở trại mồ côi kể lại rằng khi họ phát hiện ra tôi ở ngoài đường, tôi được bọc trong một chiếc áo khoác thêu chữ “van Schoolderwalt” .

– Cảm ơn, Olivia. – Reginald cảm thấy bồn chồn. Giọng anh ta chợt dịu đi lạ thường.

Olivia không thể hiểu nổi sự thay đổi thái độ đột ngột của Reginald. Con bé nhớ lại những dằn vặt với chính bản thân về những điều đã muốn nói cho anh.

– Reginald, có điều này tôi muốn nói cho ngài.

– Là gì vậy?

– Tôi rất cảm kích vì những thứ ngài đã làm cho tôi và cách ngài đối đãi tôi những ngày qua. Ngài rất tốt và chính vì thế tôi không muốn lợi dụng lòng tốt của ngài thêm một phút nào nữa.

– Ý ngươi là…?

– Tôi không muốn trở thành gánh nặng cho ngài. Tôi sẽ đi.

– Nhưng ngươi đang mang bệnh, lại không một xu dính túi. – Reginald chợt thấy hụt hẫng. – Ngươi định sẽ đi đâu?

Olivia lau nước mắt. Tận sâu trong lòng, nhóc biết mình căm ghét cái gì nhất.

– Có lẽ tôi sẽ về quê nhà tôi, Pháp.

Reginald không có bất cứ lời nói hay phán xét nào cho quyết định của Olivia. Dù đứa bé khỏe mạnh hay ốm đau, có thể tự bảo vệ mình hay không, hay chính Reginald bắt đầu có tình cảm với Olivia như thế nào, gã biết mình phải tôn trọng nhóc. Nếu cứ khăng khăng giữ nó ở lại bên mình, như vậy chẳng khác nào bắt cóc người.

Reginald cõng Olivia về lâu đài và đưa cô bé lên trên phòng, sau đó xuống nhà bếp chuẩn bị gì đó. Olivia nằm trên giường, cố gắng không ho nữa theo như lời khuyên.

* * *

– Uống ngay cái này đi. – Reginald mở cửa phòng, bê theo một khay đựng chiếc cốc nghi ngút khói tới giường Olivia. Hoảng loạn trước tình trạng của bản thân, đứa trẻ ngây thơ hỏi Reginald:

– Reginald, tôi có bị bệnh sắp chết không?

– Không, chỉ là viêm phổi. Cứ nghỉ ngơi và được chăm sóc tốt thì sẽ hồi phục. – Reginald đặt tay lên trán Olivia.

– Thật chứ? Sao ngài biết?

– Vì… ta từng làm bác sĩ Quân y. – Reginald chỉ vào những đốm nhỏ trên trán đứa nhóc. – Những người lính sau khi bị cảm lạnh kéo dài rất nhiều trường hợp đã biến chứng thành viêm phổi. Ta đã để ý các triệu chứng của ngươi từ lâu rồi: sốt cao, chịu lạnh kém, nhanh mệt mỏi, thở gấp… chưa kể chức năng thận suy giảm.

– Tôi biết mà! – Olivia bật cười. Con bé luôn tin rằng dù gặp phải những tình huống đen đủi, vẫn sẽ luôn tìm ra vận may trong đó. Gặp được Reginald cũng tương tự như vậy.

Reginald khẽ lắc đầu. Anh đáp trả Olivia bằng cái cười gượng:

– Tạm thời cứ nghỉ đi. Ta phải đi ra ngoài…

Sau đó anh đóng cửa phòng và rời đi.

“Reginald cũng hỏi tên mình và sau đó thì cũng cư xử với mình dịu dàng hơn…” – Olivia kéo chăn lên cao và nhắm mắt lại để nghỉ ngơi. Cô bé hồi tưởng quãng thời gian trước đây của mình cùng sự nghi ngờ Reginald dấy lên ngày một lớn.

* * *

Reginald quay trở lại túp lều trên đồi với khăn lau, thuốc tẩy và một chiếc xẻng nhỏ trong tay. Cho rằng khu rừng này là nơi hiếm người qua lại, hơn nữa không thể mang một cái xác lớn như vậy đi đâu xa, Reginald quyết định chôn luôn John-Michael gần túp lều. Trận mưa hôm nọ khiến bề mặt đất trở nên nhão và dính, việc đào xới không chỉ khó khăn mà còn vô cùng bẩn thỉu. Anh kéo John-Michael ra ngoài, bắt đầu đào một cái hố thật lớn và sâu. Sau khi vùi cái xác ấy dưới ba tấc đất, anh quay trở lại bên trong lau chỗ máu đi, rồi dùng cành cây xóa hết dấu chân.

Xong phần việc cuối cùng, Reginald tiện lấy xẻng gạt bớt đám bùn dính trên giày. Chợt, sau lưng anh ta là tiếng bước chân ai đang tiến lại gần.

– Muốn gì? – Reginald hỏi mà không buồn quay đầu lại.

– Reg! Đó là cách cậu chào người bạn lâu ngày không gặp sao?

– Tên tôi là Reginald.

– Phải rồi, cái tên Reginald nghe vương giả và cao sang hơn nhiều phải không? Cậu ghét đến mức còn không cho phép người khác gọi mình là “Reg” hay “Reggie” mà! – Hắn ta nói bằng thứ giọng đầy khiêu khích.

– Cậu đã bám theo bọn tôi bao lâu rồi? – Reginald chột dạ. – Có liên quan gì tới việc bắt cóc con bé đi cùng tôi chứ?

– Nói như vậy thì nặng lời quá. Cậu lúc nào cũng nghĩ xấu về tôi! – Hắn vỗ vào vai Reginald. – Tôi chỉ đơn giản tới nước Anh vì có chuyện riêng cần giải quyết thôi. Giờ chuyện đó xong rồi, tôi cũng chẳng thiết tha gì cái xứ này. Đồ ăn thật là tệ hại, chỉ toàn là khoai tây và cá mòi. Nếu được phục vụ một đĩa mỳ Ý sốt Pesto thì tuyệt biết mấy!

Reginald siết chặt tay lại, cố gắng kiềm chế cơn giận. Đôi vai anh run lên, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Từng lời, từng câu nói, hắn ta đều móc mỉa Reginald.

– Nào nào bạn mến, có gì mà phải tức đến thế! Sự trở về lần này gây cho cậu nhiều căng thẳng và áp lực quá?

– Mau cút về nước Ý đi! – Reginald bỏ đi.

Chưa chịu buông tha, hắn ta túm lấy tay Reginald lại.

– Tôi tự hỏi trái tim sắt đá của cậu đã tan chảy vì một đôi mắt xanh lam nào đó chưa. Cá chắc là có, nhiều lần là đằng khác. Chúng ta vẫn luôn hợp cạ với nhau về quan niệm thẩm mĩ và gu thưởng thức mà, nhỉ?

Nghe những lời ấy, Reginald giằng tay ra khỏi hắn và bước đi thật nhanh, không thèm ngoái lại dù chỉ một nửa cái đầu.

Kẻ đó nhìn theo bóng đen Reginald đi xa dần, lặng lẽ mỉm cười. Kế hoạch của hắn coi như đã phần nào thành công.

– Tôi sẽ chờ và xem, bạn yêu quý ạ. – Những ngón tay của hắn mân mê vài chiếc lá xanh. Đâu còn lâu nữa trước khi mặt trời sắp sửa mọc, hắn cũng nên nhanh nhanh rồi trở về nơi của mình.

– – – – – – HẾT PHẦN 6 – – – – – –


"Phần 7. Những người hàng xóm" bởi iamDage
– Giữ lấy tay nó! – Tiếng nói the thé của một gã hút nhiều thuốc phiện cất lên. Hắn đè một cô bé xuống sàn nhà, giữ chặt chân tay em.

– KHÔNG! TÔI CHẾT MẤT! THẢ CHO TÔI ĐI!

Cô bé hét thảm thiết. Mái tóc nâu xõa xượi trên gương mặt nhỏ, dính bết lại vì nước mắt và mồ hôi. Lũ người xấu xa giữ em nằm rất lâu, thỉnh thoảng lại chuyền tay nhau chỗ dao kéo, tạo ra những tiếng lạch xạch rợn người mỗi khi va vào chiếc khay kim loại gỉ hết bốn cạnh. Cô bé gào khóc nức nở, cố quẫy đạp rồi dần đuối sức trong vô vọng. Dưới nền đất bẩn thỉu là những vũng máu tanh tưởi.

– Ai đó, cứu tôi với…

* * *

Hơn hai tuần trôi qua, Olivia gần như đã hồi phục hoàn toàn và có thể làm được một số việc nhẹ nhàng. Thời gian đầu, con bé quá mệt đến độ không thể nhấc nổi mình ra khỏi giường. Tình trạng bệnh tật ngày càng nặng thêm. Cứ tới nửa đêm, Olivia lại rên rỉ những lời vô nghĩa trong cơn mê sảng. Nhiệt độ từ người nó tỏa ra khiến cả chiếc giường tưởng như bị đặt trên lò lửa. Reginald không biết làm gì hơn ngoài đem thức ăn và thuốc tới cho đứa trẻ, nắm lấy đôi tay nhỏ chốc lại co giật liên hồi và lau mồ hôi cho con bé. Cuối cùng, nhờ sự kiên nhẫn và tận tình của anh, Olivia dần tiến triển theo chiều hướng tích cực hơn. Tần suất ho và sốt ngày một bớt đi đồng nghĩa với việc tán gẫu và những câu hỏi chẳng đâu vào đâu mà Olivia dành cho Reginald ngày một tăng, khiến gã vốn đã mệt mỏi lại càng thêm bực.

– Chào buổi sáng, Reginald. – Olivia trượt xuống từ tay vịn cầu thang, nhìn thấy người cứu mình khỏi John-Michael đang ngồi chơi cờ vua một mình.

– Chào buổi sáng, Olivia. – Reginald hơi ngẩng lên nhìn cô bé một chút rồi lại ngắm nghía bàn cờ.

Olivia tới ngồi bên cạnh Reginald, nắm nhẹ lấy cẳng tay anh, nở nụ cười có phần rụt rè và ngờ nghệch. Cô bé muốn thể hiện sự biết ơn; nhưng, đáp lại tình cảm vô tư ấy, Reginald gạt ra, tiếp tục di chuyển từng quân cờ một.
Lại là thái độ xa cách đó!

– Reginald, ngài chơi như vậy không thấy chán sao?

– Không.

– Hãy làm gì đó cả hai chúng ta có thể cùng chơi. Tôi cứ ngồi một mình thế này chán lắm. – Olivia than thở.

Reginald đặt bàn cờ ra giữa mình và Olivia.

– Tại sao ngài lại thích những thứ nhàm chán như này thế?

– Vậy ngươi có thể giặt quần áo của ta, sau đó ra vườn và nhổ cỏ dại, rồi đi quét hết bụi trong phòng đọc sách, đuổi lũ chuột trên gác mái…

– Được thôi! Tôi sẽ chơi cờ! – Olivia vội vã ngắt lời. Chỉ nghĩ đến đống việc nhà khủng khiếp kia thôi con bé đã không thể bình tĩnh nổi.

Reginald kéo hết chỗ quân cờ sang hai bên rồi nhặt đống Tốt đen và trắng trước. Olivia kéo cao hai tay áo của mình, để lộ cổ tay trái đầy vết sẹo ngang dọc. Reginald nhìn thoáng qua, anh nhận ra, nhưng lẳng lặng lờ đi.

– Đây là Tốt. Giống như lính, chúng phải đứng ở hàng đầu tiên.

– Rồi rồi, tôi biết hết rồi. Kia là Hiệp sĩ, kia là Vua, kia là Hậu. Hậu đứng cạnh Vua, người cầm quân trắng được đi trước… et patati et patata (blah blah blah)! Khi Vua hết đường đi thì thua.

– Vậy thì tốt… – Reginald nhún vai, không ngờ đứa trẻ thiếu kiên nhẫn như Olivia cũng biết về cờ vua.

Olivia vừa chơi vừa ngáp. Với nhóc, chạy nhảy ở bên ngoài thú vị hơn nhiều việc ngồi ở một xó và cầm những con cờ đen trắng đặt đi đặt lại trên một tấm ván được sơn trắng đen. Nhưng, so với hoàn cảnh hiện tại; có lẽ thà đánh cờ còn hơn chẳng có việc gì để làm, hoặc làm những việc không nên làm. Cô bé định sẽ chỉ chơi với Reginald một ván cho vui.

– Chiếu tướng. – Reginald đặt quân Tượng vào ô C41. Anh thắng chỉ trong vòng chưa tới mười phút.

1

Bàn cờ vua được chia ra làm 2 phần – số và chữ. Chiều ngang là những chữ cái từ A đến H, chiều dọc là các con số từ 1 đến 8. Căn cứ vào chúng để đọc vị trí của các ô có trong bàn.

– Sao nhanh thế! – Olivia kêu lên, nhìn nhanh khắp thế trận, không tin mình lại thua nhanh đến vậy. – Nhất định phải chơi lại!

– Được. Lần này nhường ngươi đi trước. – Reginald xếp lại bàn cờ.

Hơn hai mươi phút trôi qua, Olivia vừa cầm quân cờ vừa lấy tay lau mồ hôi trên trán. Lần này con bé đã tập trung hơn hẳn. Reginald lùi Tốt đen lại một hàng, Olivia tiến về vị trí đó và ăn luôn. Là một đứa trẻ hiếu thắng, nó muốn biết khả năng chơi cờ của mình so với Reginald ra sao. Con bé tiến quân Hậu trắng tới phía đối thủ.

– Chiếu tướng. – Reginald đặt quân Hậu đen vào ô F2.

– Không công bằng! Ngài chơi gian lận. – Olivia cau có chỉ tay về phía Reginald.

– Lấy lại danh dự chứ, Olivia? – Reginald nhếch mép cười, có ý rủ rê đứa nhóc chơi thêm.

– Quyết trả thù! – Olivia giật lấy “Vua” của mình từ tay anh.

Màn gỡ gạc thứ hai của Olivia diễn ra vô cùng gay cấn. Con bé tính toán từng khả năng có thể xảy ra, quan sát kỹ càng thế trận và cố gắng phán đoán những cái bẫy mà Reginald sắp đặt. Reginald có vẻ rất thích cho lui quân, đặc biệt là dùng Tốt thí làm mồi nhử Hiệp sĩ của Olivia. Lông mày Olivia quạu sát, mặt nhóc đỏ bừng, mồ hôi trán toát ra không ngừng. Lúc này, hai Hiệp sĩ đen và trắng đang quay mặt về phía nhau, cách nhau chỉ một hàng chéo về bên trái theo ô C7. Sự cố gắng có vẻ cuối cùng cũng được đền đáp, khi mà Reginald đã bị ăn tới ba quân Tốt và một quân Xe.

“Lần thứ ba là bùa may, Olivia!” – Đứa nhóc cảm thấy tự tin, nghĩ rằng mình đã đoán ra được lối chơi của đối thủ. Nó reo lên đầy mừng rỡ:

– Ngài không thể lừa tôi lần này nữa đâu! Còn một nước nữa thôi, Reginald.

Reginald nhìn vào con Tốt Olivia vừa kéo sang, lặng lẽ đặt Hiệp sĩ lên thế chỗ. Anh cười nhẹ, giọng đùa giỡn:

– Đây là một nước đi đơn giản, không lừa lọc gì hết. À, thật ra trước đó thì có. Ta lừa ngươi tự chặn đứng đường đi của Vua. Vì thế, chiếu tướng.

– Reginald! – Olivia giận dỗi đấm thùm thụp lên ghế. – Không công bằng!

– Ta đâu có phạm luật…

– Ngài lớn hơn tôi, ngài chơi giỏi hơn tôi. Ngài biết tôi không thích cờ vua mà vẫn bắt tôi chơi!

Reginald đứng dậy, mang theo bàn cờ đi. Nếu Olivia đã phản ứng như vậy anh không nên ép con bé chơi thêm. Dù sao cũng còn nhiều việc phải làm.

– Đó, lại còn dỗi nữa! – Olivia cho rằng việc Reginald bỏ đi thật là trẻ con.

– Ngươi nói không thích chơi cờ, vậy ta cất cờ đi. Việc nhà còn một đống kia, nếu không đứng dậy làm thì bao giờ mới xong.

– Sao ngài không thuê quản gia? – Olivia lại ngáp, mặt vẫn phụng phịu.

– Ta không tin tưởng giao việc cho người ngoài.

Reginald tháo cặp găng tay trắng. Ngón tay của anh ta khá dài nhưng vuông vuông, trông không được đẹp và ra dáng tay nhà quý tộc cho lắm. Olivia vô tình nhìn thấy trên mu bàn tay trái của người ấy có những dải màu đen dọc và ngang kéo dài từ đầu ngón đến cổ tay, giống như các dòng hoa văn hay biểu tượng gì đó. Con bé trước đó không hề để ý rằng Reginald luôn luôn đeo găng. Nó từng nghĩ ngài ấy chỉ làm thế vì muốn tỏ ra sang trọng, nhưng mọi chuyện có lẽ không đơn giản đến vậy.

– Cái gì trên tay ngài đấy?

– Hình xăm thôi mà. Không có gì đâu. – Reginald vội đút tay vào túi áo và lỉnh đi.

– Hình xăm?

Olivia ngồi chơi tại chỗ trong khi Reginald đang bận làm việc. Nhóc cho rằng mình đã sống ở đây quá lâu so với dự kiến và số tiền Reginald đã mất cho mình – một kẻ không phải người trong gia đình, cũng chẳng phải bạn bè thân thiết của ngài ấy – chắc chắn không hề ít ỏi. Reginald chưa bao giờ đòi hỏi một lời cảm ơn hay nhắc đến món nợ mà Olivia có với anh, điều đó khiến con bé càng cảm thấy mặc cảm hơn.

Nhìn vào cổ tay đầy vết sẹo lồi của mình, Olivia hơi chớp mắt để giấu đi giọt lệ nhỏ. Nó đâu muốn bị Reginald ghét bỏ hay lợi dụng, nhưng cũng chẳng hề muốn phải bước ra khỏi tòa lâu đài này và đối mặt với không biết bao nhiêu điều xấu xa từ thế giới tàn nhẫn ngoài kia. Dù đã trăn trở từ rất lâu, Olivia vẫn bế tắc trong việc tìm ra giải pháp phù hợp. Nó hết đứng lên, đi loanh quanh phòng khách rồi lại ngồi xuống, băn khoăn với việc sẽ nói gì với Reginald và làm gì với chính bản thân.

* * *

Reginald ở trong nhà tắm, cố gắng giặt thật sạch những chiếc áo trắng nay đã bị ố đi vì máu. Anh ta chà rất mạnh lên vải, ánh mắt vẫn nhìn vào chậu nước nhưng tâm trí thì trôi dạt đi tận đâu.

“Con bé đó là người nhà van Schoolderwalt. Không còn bàn cãi gì nữa…”

“Lũ ma cà rồng có ở khắp nơi. Olivia ở bên cạnh mày cũng chẳng an toàn hơn là bao, Reginald.”

“Reginald, tại sao mày lại phải lo cho nó? Đến bản thân mày cũng đang gặp phải nguy hiểm.”

“Nhưng, nếu Olivia có làm sao… Dù gì thì lời hứa cũng là lời hứa. Mày đã hứa rồi.”

“Thừa nhận đi, đứa bé đó đáng yêu mà. Nó cũng đáng thương lắm…”

Những suy tư, trăn trở cứ đến rồi lại đi trong đầu Reginald. Gã ma cà rồng cảm thấy việc chăm sóc cho Olivia ốm yếu thâu đêm suốt sáng có lẽ còn không mệt mỏi bằng thói quen tự đày đọa bản thân trong mớ suy nghĩ rối mù như mớ bòng bong này. Đứng trước đứa trẻ ấy, Reginald luôn cảm thấy không biết nên cư xử ra sao cho phải. Sự nhiệt tình và vô tư của con bé khiến gã rất muốn hùa theo trêu chọc nó; nhưng khoảng cách quá xa vời về mặt tuổi tác, địa vị và trách nhiệm lại ngăn cản Reginald.

* * *

Reginald giặt xong quần áo, định mang chúng đem phơi. Nhìn thấy anh ta đi qua phòng khách, Olivia liền gọi lớn:

– Reginald!

– Gì vậy?

– Chúng ta nói chuyện một lúc được không?

Reginald chần chừ một lúc, nhưng cuối cùng vẫn tới ngồi xuống cạnh Olivia. Cô bé nửa muốn nói ra nhiều điều, nhưng cùng lúc thấy việc này sao thật khó khăn.

– Tôi đã quyết định rồi, tôi chỉ muốn nói cho ngài biết rằng tôi sẽ đi về Pháp.

Reginald không ngạc nhiên, nhưng anh thấy hụt hẫng. Anh vẫn chưa có cơ hội được làm bạn với đứa nhóc này một cách thật lòng.

– Khi nào vậy?

– Có lẽ là ngày mai. – Olivia nói mà không dám nhìn thẳng vào mắt Reginald. – Ngài, ngài đừng hiểu nhầm ý tôi. Tôi rất biết ơn những gì ngài đã làm cho tôi từ khi chúng ta mới gặp nhau. Có lẽ cả đời tôi cũng không đền đáp hết được. Nhưng…

– Đừng lo, ta hiểu và ta tôn trọng quyết định của ngươi. Chúc may mắn, Olivia.

Olivia nhìn gương mặt xanh xao của Reginald, đôi mắt vô cảm cô bé từng thấy trước đây giờ trùng xuống và u ám một cách đáng sợ, giống như lúc ngài ấy phát hiện ra rằng mình bị lừa dối vậy. Có phải Reginald lại trách móc con nhóc này trong lòng?

Reginald không biết chuyện gì đã xảy ra với bản thân. Cứ như có một lực kéo vô hình lấy đi hết mọi thứ trong lòng anh, khiến anh cảm thấy trống rỗng và trơ lì với mọi thứ. Lúc này, anh chỉ muốn được ngồi im một chỗ, một mình, trong tĩnh lặng.

– Đừng buồn! – Olivia chạm vào vai Reginald. – Tôi biết ngài quan tâm tới tôi mà!

– Ta không buồn và ta cũng không quan tâm tới ngươi. – Reginald đáp bằng thứ giọng thản nhiên, không muốn Olivia nghĩ mình là kẻ ủy mị.

– Tôi cứ tưởng… – Olivia chống tay lên cằm. Rõ ràng Reginald quan tâm và lo cho con bé rất nhiều, vậy mà lại nói lời khó nghe đến thế.

Reginald tự hỏi điều gì khiến cho đứa nhóc này lo âu và cuống cuồng rời khỏi chỗ này. Gã chưa bao giờ nghĩ tới việc sẽ bắt Olivia phải cảm thấy mang ơn. Gã biết hành động của mình đối với đứa trẻ ấy luôn xuất phát bất chợt, trái ngược hẳn với sự so đo thiệt hơn và bản tính hoài nghi của gã. Nếu lúc này Olivia lại rơi vào nguy hiểm, Reginald vẫn sẽ cứu con bé, không do dự. Hay, gã đã nói (và làm) điều gì đó khiến nhóc chạnh lòng?

Cảm thấy bầu không khí lúc này thật nặng nề, Olivia lên tiếng:

– Reginald, chúng ta nói chuyện khác cho đỡ buồn đi.

– Ngươi muốn làm gì cũng được.

Con bé nghĩ ngợi một lúc. Muốn hỏi chuyện Reginald không phải dễ. Ngài ấy lúc nào cũng tìm cách lảng tránh hoặc trả lời cụt lủn với thái độ vô cùng khó ưa. Một ý nghĩ lém lỉnh chợt lóe lên, Olivia mỉm cười tinh nghịch:

– Lý do cho dòng hoa văn đen xì và xấu xí trên bàn tay ngài thì sao?

– Nếu ngươi nói cho ta về vết sẹo trên cổ tay ngươi, có lẽ ta sẽ kể. – Reginlad nhìn vào tay Olivia, nơi cô bé cố kéo áo che đi những vạch ngang dọc hằn rõ trên da.

Câu nói của Reginlad làm Olivia lúng túng. Cô bé chợt hiểu ra cảm giác bị người khác hỏi về bí mật không thể kể ra của mình nó khó xử đến nhường nào.

– Cái này, tôi không muốn nói về nó.

– Với ta thì tốt thôi. Ngươi mang chỗ quần áo đi phơi hộ ta luôn được không?

Những tiếng gõ cửa đều đều chợt vang lên, phá tan bầu không gian tĩnh lặng.

– Tôi mở cho. – Olivia nhân cơ hội này nhanh nhảu đứng dậy, chạy đi.

Reginald vắt tréo chân, khoanh tay thu mình lại trên chiếc ghế dài.

Cánh cửa mở ra, mang theo cả luồng ánh sáng và không khí từ bên ngoài vào trong lâu đài của Reginald. Trước mặt Olivia là một người đàn ông cao lớn có nụ cười hiền hòa và mái tóc đen ngả xám ở hai bên mai. Ông ấy mặc đồng phục màu thẫm của cảnh sát, đeo đôi găng tay trắng, trông rất oai nghiêm và đứng đắn. Chỉ có điều, người ông hôi nồng mùi khói thuốc lá.

– Xin chào. Cho phép tôi được hỏi đây có phải là ngôi nhà của người đàn ông vừa mới chuyển tới? – Đôi mắt ông ta lướt qua phòng khách và dừng lại một thoáng với cái bóng đen ủ rũ trên ghế.

Không rõ ông cảnh sát đang nói gì, Olivia quay về phía Reginald, ánh mắt cầu xin sự trợ giúp.

Reginald hiểu chuyện chỉ trong vòng chưa đầy ba giây, cảm giác lo lắng và bất an ngay lập tức kéo đến. Cả hai kẻ ẩn nấp trong lâu đài này đều đang cố gắng chạy trốn khỏi quá khứ của chính mình, việc cảnh sát tới báo hiệu sẽ có sự chẳng lành. Reginald đứng dậy, tiến vào vùng có bóng đen in xuống mặt đất của tấm cửa gỗ. Anh ta không thể bước ra xa hơn nữa.

– Tôi là chủ tòa lâu đài này. Có chuyện gì không, thưa ngài cảnh sát?

– Rất vui được gặp, ngài…? – Viên cảnh sát chìa tay phải về phía Reginald.

– Reginald Arthur. Làm ơn cứ gọi tôi là Reginald.

Người ấy tầm vóc chỉ ngang với Reginald. Ông ta thì hốc hác, Reginald thì lưng còng. Cả hai mặt đối mặt.

– Rất vui được gặp ngài, Reginald Arthur. Tôi là Joseph “Thuan Van” Phan, nhiều người gọi tôi là Joe. – Joseph lắc mạnh tay Reginald. – Tôi là cảnh sát trưởng ở thị trấn này, được giao nhiệm vụ trông coi an ninh cho khu vực. Thay mặt toàn bộ người dân ở đây, chào mừng ngài đến với Forest Hill.

– Cảm ơn ông. – Reginald đáp lại một cách dè dặt.

– Còn cô bé đáng yêu này là? – Joseph nhìn Olivia.

– Đó là Olivia. Con bé là… – Reginald lúng túng nhìn nó.

– Je suis la fille de Reginald. (Cháu là con gái của Reginald.) – Olivia nhanh nhảu đáp.

– Ồ, cháu nói tiếng Pháp hả? – Joseph ngạc nhiên. – Tu as quel âge, Olivia? (Cháu bao nhiêu tuổi rồi, Olivia?)

– Làm ơn, chờ tôi một chút nhé. – Reginald kéo Olivia vào trong, bỏ mặc cảnh sát trưởng đứng bên ngoài.

– Con gái? – Reginald mắng mỏ. – Ta tưởng ngươi không hiểu tiếng Anh?

– Tôi chỉ muốn câu chút thời gian để ngài nghĩ ra cái gì đó thôi mà… – Olivia bối rối gãi lên đầu. – Ai mà ngờ được ông ta cũng biết tiếng Pháp.

– Vậy ngươi không nghĩ tới hậu quả rồi! Nếu ngươi bảo Joseph rằng ngươi là con ta, ngươi nghĩ ông ta sẽ làm gì nếu phát hiện ngươi không còn ở thị trấn?

– Tôi… – Olivia chợt nhận ra mình đã hơi bốc đồng.

Cảnh sát trưởng đứng ngoài nhìn cảnh hai “cha con” Reginald cãi nhau, cảm thấy thật lạc lõng và khó xử. Không biết làm gì để giết thời gian, ông tựa một bên vai vào cửa, lấy thuốc lá ra hút.

– Xin lỗi đã để ông phải đợi. – Reginald vội vã trở lại.

– Ồ không có gì đâu. – Joseph cười xòa. – Tôi cũng có lỗi vì đã không tới đây sớm hơn, lại còn đường đột nữa.

– Ý ông là sao? – Reginald thắc mắc.

– Nhiều gia đình ở Forest Hill có truyền thống mời những người hàng xóm mới chuyển tới dùng bữa tối. Tôi đã định mời ngài sớm hơn nhưng bận việc quá. Ngài không thấy phiền chứ, vì dù sao cuộc sống của cả hai có vẻ đều ổn định rồi mà? – Joseph nhìn Olivia và Reginald, không ngại che giấu sự mong chờ.

– Tôi không biết nữa… – Reginald hơi chau mày lại, cố tìm một lý do nào đó để thoái thác.

– Reginald, tôi khăng khăng mời hai cha con đấy! – Joseph thẳng thắn tiếp lời. – Tôi chỉ muốn hiểu thêm về hàng xóm của mình. Chẳng phải giúp mọi người thêm gắn bó cũng là một cách để duy trì sự an toàn ở đây?

Reginald cho rằng có hàm ý ẩn chứa trong lời nói của Joseph, hay chỉ là do anh ta đã quá đa nghi? Nhìn vào đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ của Joseph, Reginald cảm thấy đây rõ ràng là một kẻ đáng phải đề phòng.

“Một bữa tối chắc không hại gì. Còn hơn để hắn nghi ngờ.” – Reginald nghĩ như vậy.

– Tôi và con gái sẽ tới. Cảm ơn ông, cảnh sát trưởng.

– Tuyệt vời! Hẹn ngài và Olivia vào lúc mười chín giờ. – Joseph mừng rỡ bắt tay Reginald. – Nhà của tôi không xa lắm đâu. Đứng từ khu vườn ở tòa lâu đài này hướng xuống, ngài sẽ thấy một ngôi nhà nhỏ hai tầng màu trắng có hàng rào phủ hoa tầm xuân ở hướng tay trái của ngài. Nhà tôi đó. Tôi rất mong ngài tới!

Reginald nhìn theo bóng cảnh sát trưởng khuất dần theo con dốc bằng ánh mắt hoài nghi, sợ rằng sẽ xảy ra vài chuyện không hay nào đó.

– Ông cảnh sát kia nói gì vậy?

– Ta và ngươi tới nhà ông ta ăn tối.

– Ngài đồng ý chứ?

– Ta đâu còn sự lựa chọn nào khác. – Reginald bực bội đáp và đóng sầm cửa lại. – Ta có linh cảm ông cảnh sát này nghi ngờ về thân phận của chúng ta.

– Vậy tại sao ngài còn đến?

– Vì nếu không đến, Joseph sẽ còn nghi ngờ hơn.

* * *

– Con yêu, hôm nay chúng ta có vị khách đặc biệt tới đấy. – Joseph hơi cúi thấp người xuống bên chiếc ghế trong phòng khách, nơi con gái ông đang ngồi đọc sách, vẻ mặt ông háo hức.

– Vâng. Ông ta đồng ý chứ?

– Tất nhiên rồi. Hãy nhớ chuẩn bị món “đặc biệt” cho những vị khách “đặc biệt” và đừng làm hỏng mọi chuyện, con nhé!

– Con hiểu rồi.

– Yêu con! – Joseph hôn lên trán con mình, sau đó tiếp tục đi làm.

* * *

Olivia và Regiald ngồi trên chiếc ghế, cùng nhau nhìn về phía cửa sổ được kéo rèm lên, từng hơi thở một của họ kéo dài trong hồi hộp. Ánh hoàng hôn cứ mỗi lúc một sa xuống và nhạt dần đi.

– Ngài có chắc là sẽ lừa được cảnh sát trưởng?

– Ta nghĩ cứ bám sát theo kịch bản…

– Lỡ có sự cố xảy ra?

– Tùy cơ ứng biến thôi…

Nhớ lại chuyện hồi sáng — khi Olivia trả lời Joseph rằng mình là con của Reginald — cô bé chợt cười khì khì, phá vỡ sự yên lặng nơi phòng khách. Có bao nhiêu mối quan hệ trong một gia đình lớn để bịa đặt, tại sao Olivia lại chọn làm con? Điều này Olivia cũng không rõ, chỉ buột miệng nói ra thôi.

– Sắp tới giờ “thẩm vấn” của ông cảnh sát đó rồi. Ngài đã sẵn sàng chưa? – Olivia cầm theo bó hoa đã được chuẩn bị cho bữa tối, nở nụ cười quỷ quyệt không kém phần đáng yêu.

– Đi nào, con gái của ta! – Reginald xoa đầu đứa nhóc, cũng cười theo.

* * *

Reginald và Olivia nhận ra ngay ngôi nhà xinh xắn có hoa hồng leo trên hàng rào trắng từ đằng xa. Họ đi qua khu vườn của nhà Joseph, liếc nhìn những khóm hoa rực rỡ. Trước khi gõ cửa, Reginald chỉnh lại trang phục của mình một chút.

– Buổi chiều tốt lành ngài Reginald. Tôi và con gái đã chờ mãi! – Joseph mở cửa mời hàng xóm vào trong nhà. – Tôi thiết đãi hai người những món khá “đặc biệt”, hy vọng không ai bị sốc hay gì…

– Bonsoir, Monsieur! (Buổi chiều tốt lành, thưa ngài!) – Olivia mỉm cười, nhanh nhảu đưa cho cảnh sát trưởng bó hoa hồng trắng đỏ được Reginald chuẩn bị.

– Bonsoir, Olivia. Merci beaucoup! Asseyez–vous s’il vous plaît. (Buổi chiều tốt lành, Olivia. Cảm ơn cháu rất nhiều! Mọi người ngồi đi.) – Joseph đem cắm món quà vào lọ. Ông rất vui khi người hàng xóm mang tới cho mình một bó hoa. Joseph là một người yêu hoa, đặc biệt là những loài hoa mang sắc thái của sự cao quý và thanh khiết.

– Không cần thiết phải nói tiếng Pháp đâu, cảnh sát trưởng. – Reginald ngại ngùng, sợ rằng việc ấy sẽ vô hình chung khiến Olivia nói ra những điều anh cho là nguy hiểm.

– Tôi chỉ muốn khoe khoang một chút ấy mà! Cũng lâu rồi tôi chưa có cơ hội nói. – Joseph đáp lời.

Olivia ngồi cạnh Reginald, đối diện với anh là cảnh sát trưởng.

– Con bé ấy làm gì lâu quá không biết! Jules, con yêu, mau ra trò chuyện cùng khách của chúng ta chứ! – Joseph gọi lớn.

– Con ra ngay!

Sau tiếng nói lớn vọng từ nhà bếp, một cô gái chừng mười bảy tuổi chạy ra ngoài. Cô hớt hải vuốt mái tóc ngắn hơi rối lại, vẫy tay chào hàng xóm:

– Xin chào ngài và…

– Đó là con gái của ngài Reginald. – Joseph kéo con lại gần. – Cô bé là Olivia.

– Chào Olivia. Tớ là Jules “Hoa” Phan. – Jules bắt tay Olivia. – Chào mừng tới Forest Hill.

Olivia im lặng.

– Sao vậy, Olivia? – Jules ngạc nhiên.

– Mong ông và con mình thông cảm, Olivia của tôi chỉ biết nói tiếng Pháp. – Reginald nói nhỏ. – Nhưng, tôi…

– Vậy mà ngài không nói sớm! Như vậy càng có lý do để chúng ta nói tiếng Pháp rồi. Jules bé nhỏ của tôi nói khá tốt đó! – Joseph hướng bàn tay về phía con.

Con của cảnh sát trưởng mỉm cười thân thiện với Olivia. Biết bạn mới vẫn còn ngại giao tiếp, Jules vỗ vai an ủi.

– Đừng lo! Cậu bao nhiêu tuổi rồi?

– Tháng Mười hai này tớ sẽ đủ mười bốn.

– Tớ mười bảy rồi. Mà, cậu trông bé quá, Olivia! – Jules ngạc nhiên khi biết Olivia đã là vị thành niên. Cô bé ấy trông vừa còi lại vừa thấp, giống như một đứa trẻ mười hai hơn.

– Cảnh sát trưởng, chú bao nhiêu tuổi rồi? – Olivia tò mò.

– Đừng khách sáo như vậy, cả hai người. – Joseph cười lớn. – Tôi đã bảo cứ gọi tôi là Joe mà. Nếu thích thì gọi là Thuan cũng được.

– Tho–an? – Olivia chau mày với cái tên khó phát âm ấy.

– Đọc là “Thuận”. Đó là tên Việt Nam của chú.

– Tên Việt Nam? – Reginald chợt thấy tò mò.

– Bố tôi là một thợ làm gốm rất khéo tay người Việt Nam. Một thương nhân người Anh đã ngỏ ý mời ông tới London để lập nghiệp. Ông đồng ý, thế là ông định cư tại mảnh đất này, lấy vợ và có tôi đây. Tôi sinh ra ở Anh, là người Anh, nhưng bố tôi bảo dù sao thì quê cha vẫn là quê cha. Cũng có lí riêng của ông ấy, phải không.

– Tôi nghĩ thế. Vậy ông bao nhiêu tuổi, Joseph?

– Bốn mươi lẻ một năm nhé. – Joseph vui vẻ trả lời. Sau đó ông quay sang nhìn Olivia. – Bố cháu bao nhiêu tuổi?

– Tôi ba mươi tuổi. – Reginald nói nhỏ.

Jules mang những đĩa thức ăn ra và bày chúng lên bàn. Cô ngạc nhiên vì Reginald làm cha ở tuổi khá sớm. (Tuổi kết hôn trung bình ở Anh thời điểm đó là hai mươi mốt. Nếu Olivia 14 và Reginald 30, tức là Reginald làm cha khi mới 16 tuổi.)

Olivia nhìn cách các món ăn được sắp xếp, cảm thấy khó hiểu. Cùng một lúc bày nhiều như vậy sao có thể ăn hết được?2 Nhận ra sự bối rối của cô bé khách mời, Joseph mỉm cười, cố giải thích mọi thứ một cách ngắn gọn nhất:

– Cứ tự nhiên chọn món cháu thích, mỗi loại ăn một chút. Hầu hết đều là những món của Việt Nam, hoặc được tôi mang một chút “hương vị Việt Nam” vào đó.

2

Cách bày thức ăn của người châu Á, trong đó có Việt Nam, thường là đặt hết tất cả các món (dishes) lên và để mọi người chọn tùy ý trong khi người châu Âu lại phục vụ từng món một (course); bắt đầu từ món khai vị, món chính, sau đó tới tráng miệng.

Những cái đĩa nhỏ xinh đang được bày ra trước mắt Olivia trông đơn điệu đến lạ. “Hương vị Việt nam” không lẽ chỉ có mỗi cơm gạo trắng và…

– Cái đó là muối lạc vừng, ăn với rau củ thôi cháu. – Joseph vội ngăn Olivia lại khi thấy cô bé với tay ra đĩa bột nâu vàng. – Cháu có dị ứng với lạc không?

– Không. – Olivia lắc đầu.

– Vậy thì tốt. Cháu hãy thử “cá kho” này, đó là món chính đấy. – Cảnh sát trưởng chỉ vào chiếc bát lớn đựng vài khoanh cá đắm mình trong nước sốt màu nâu đỏ, phía trên rắc hành lá cùng chút ớt và hạt tiêu. Không để cho cô bé phải lên tiếng, Joseph nhấc giúp một miếng cá cho Olivia, tưới nước sốt lên trên đĩa cơm. Hương thơm của hạt tiêu làm dậy lên mùi cá, hơi cay nhưng không hề khó chịu. Cô bé đoán trong nước sốt ấy có vị ngòn ngọt của đường, một chút đậm đà của muối, và vài thứ gì đó không rõ nữa; nhưng cảm giác được ngậm trong miệng mình miếng cơm nóng hổi cùng nước sốt cá này, Olivia thấy ấm lòng hẳn. Reginald ngồi cạnh đó, mùi “cá kho” cứ lâng lâng lạ thường.

– Ngon quá chú ạ! – Olivia chìa cái đĩa sạch trơn trước mặt mình cho cảnh sát trưởng xem, người chủ nhà cảm động trước tình cảm chân thật của cô bé đối với món ăn ông đã hết lòng chế biến.

– Ở Việt Nam, người ta trồng nhiều nhất là lúa nước. Người nông dân không giàu lắm, được ăn miếng thịt lợn chắc chỉ có vào dịp lễ đầu năm âm lịch. Đến mùa mưa, ra đồng lội bắt được cả bầy cá nhỏ thì đem về bỏ vào nồi đất, om lên ăn cũng được ba ngày nếu nhà không đông con… Đó là bố chú kể như thế. – Joseph nói khẽ, mắt hướng về tô cá kho, vẻ man mác buồn. Reginald nhìn ông cảnh sát, tự phác họa nhanh trong đầu mình một vài bức tranh về con người ở đó. Món ăn nào mà chẳng chứa đựng một câu chuyện đằng sau. Reginald không cần phải sống trong một gia đình như vậy, vào hoàn cảnh như vậy để hiểu được cảm giác nhớ nhà; mùi hương lâng lâng vẫn giúp anh thấy ấm lòng, hệt như Olivia.

– Thứ lỗi cho tôi. – Joseph bật cười, rồi quay ra phía “người cha”. – Reginald, tôi có thứ đặc biệt cho ngài.

Sự mập mờ của cảnh sát trưởng khiến cả Olivia lẫn Reginald lạnh gáy.

– Ối! – Olivia thốt lên.

Reginald không thể nói nổi một từ nào khi nhận ra cái đĩa đựng thứ gì đỏ lòm mà cảnh sát trưởng bê ra nồng nặc mùi máu tanh. Joseph đặt đĩa xuống cùng một cái bình nhỏ bằng đất sét.

– Đây là “tiết canh”, món khai vị cho những cuộc vui. – Joseph mỉm cười với Reginald.

“Joseph muốn mình ăn thứ này? Ý đồ của hắn là gì?” – Reginald nhìn vào đống chất lỏng đặc quánh, cảm thấy nghi ngờ. Có khi nào cảnh sát trưởng đã biết Reginald là ma cà rồng và muốn trêu đùa gã?

– Cảnh sát trưởng, cho phép tôi được hỏi…

– Ngài cứ tự nhiên.

– Đây là máu?

– Đúng vậy. Ngài có muốn ăn thử không?

Nhìn ánh mắt Reginald và phản ứng dữ dội từ “con gái” anh ta, Joseph hiểu ngay ra vấn đề. Ông hơi cúi đầu xuống, mỉm cười ngượng.

– Xin lỗi vì đã làm ngài và con mình hoảng sợ. Tôi đáng lẽ không nên mang thứ này ra mời người chưa có nhiều trải nghiệm với ẩm thực Việt Nam…

– Đó là máu của con gì vậy? – Olivia rùng mình mỗi khi nhìn vào cái đĩa đặc sệt. Có biết bao nhiêu thứ để ăn, tại sao lại chọn máu?

– Có thể là của lợn, gà, vịt, hoặc là máu hải sản tươi sống. – Jules giải thích thay cho bố mình. – Cậu nên dùng với các loại rau có vị cay và rượu này để cân bằng vị giác.

– Xin lỗi. – Reginald ái ngại. – Tôi phản ứng hơi thái quá.

– Không có gì đâu. Ngài còn hứng thú với “tiết canh” nữa không? – Joseph vẫn hỏi với điệu bộ ngại ngùng ấy.

– Có lẽ tôi sẽ đánh cược với hệ tiêu hóa và thử một chút.

– Tin tôi đi, thưởng thức nó cùng với rượu này sẽ là một trải nghiệm ngài không thể quên! – Joseph mở bình ra, rót đầy hai chén.

Joseph quan sát vẻ e ngại của Reginald từ khi anh ta cắn miếng đầu tiên; rồi cảm giác đó mất dần đi và thay vào là sự thích thú, thèm thuồng mà Reginald ngày càng thể hiện rõ hơn trên ánh mắt. Anh ta xúc mỗi lúc một nhiều và nhanh hơn, chẳng mấy chốc cái đĩa đã sạch bong.

– Món này thật sự rất ngon! – Reginald nói trong khi đặt thìa xuống. Anh nhìn vào cái đĩa hết nhẵn, tỏ ra tiếc nuối. – Cảm ơn cảnh sát trưởng.

– Ngài muốn nữa chứ? Tôi còn nhiều lắm. – Joseph hứng khởi.

– Làm phiền ông quá!

Reginald là một ma cà rồng, tất nhiên gã sẽ thích máu hơn những thứ khác. Tuy nhiên, chưa bao giờ trong đời Reginald lại thấy mình bị mê hoặc bởi một chút máu động vật như vậy. Anh thấy hơi khó hiểu, nhưng, có lẽ đó chỉ là do cách chế biến và kết hợp tinh tế giữa các loại gia vị cay, mặn của cảnh sát trưởng đã kích thích cảm giác thèm thuồng mà thôi.

Olivia lén rót chút rượu của cảnh sát trưởng ra uống. Hơi rượu nồng xộc lên tận mũi và vị cay xé lưỡi khiến con bé nhăn mặt lại, vội vã đặt chén ra xa. Nó nhận ra sắc mặt của Reginald trông có vẻ tốt lên và thoải mái hơn sau khi ngài dùng “tiết canh”. Trước đó, Reginald trông xơ xác như một kẻ bị bỏ đói lâu ngày vậy.
Joseph tiếp tục ăn uống và trò chuyện vui vẻ với hai người hàng xóm mới. Olivia nhận ra Reginald cười nhiều hơn và tỏ ra rất “hợp cạ” với cảnh sát trưởng, khác hẳn thái độ dửng dưng mà ngài ấy luôn dành cho mình. Chỉ toàn trao đổi về chuyện tiền nong và chiến tranh tẻ ngắt thì đâu cần phải tỏ ra hứng thú đến thế. Sau một hồi bàn luận sôi nổi và cả hai đã chán mấy chủ đề trên, Joseph đề cập tới hai tên say rượu bị chết đuối dưới suối mới được tìm thấy gần đây.
Đang nói cười, khóe miệng Reginald trùng lại dần rồi lặng thinh.

Chờ con gái bưng chiếc khay đựng vài bát nhỏ tới rồi đặt nó lên bàn, Joseph lên tiếng:

– Ai muốn món tráng miệng không?

– Đó là gì vậy? – Olivia ngó vào trong.

– Một loại bánh ngọt. Olivia, cháu muốn thử chứ?

Olivia nhìn những chiếc bát nhỏ mà Joseph vừa đặt xuống. So với món máu tươi đầy hãi hùng và món “cơm lam” với muối lạc vừng kia, những chiếc bánh trắng tròn ngập trong thứ nước trong suốt thoang thoảng mùi hoa thật ngộ nghĩnh và hấp dẫn. Cô bé xúc thử một miếng, cảm nhận đầu tiên là thứ nước thơm đặc sánh đó rất ngọt.

– Ngọt quá! – Olivia nhìn Reginald, hồ hởi reo lên. Cô bé rất thích chiếc bánh mềm và hơi dính này.

Reginald im lặng, mắt lướt nhanh qua bát bánh rồi mỉm cười lấy lệ với cảnh sát trưởng.

– Chú mừng vì cháu thích nó. Jules lúc nào cũng đòi tới bát thứ ba. – Joseph phấn khởi trước phản ứng của Olivia, nhưng hơi chạnh lòng với vẻ thờ ơ của gã hàng xóm. – Ngài Reginald?

– Thôi, tôi xin phép bỏ qua! – Reginald lắc đầu. – Tôi có thể vào nhà tắm một chút?

– Jules! Chỉ chỗ cho khách đi. – Joseph gọi con mình.

* * *

Reginald té một chút nước lạnh lên mặt để tìm lại sự tỉnh táo. Cả căn phòng dường như đang quay tròn.

* * *

Chờ Reginald quay trở lại, cảnh sát trưởng gợi ý một ván cờ vua giao hữu. Reginald lập tức đồng ý cùng ngồi xuống với Joseph tại phòng khách và “tỷ thí” trong khi Jules và Olivia dạo chơi ngoài vườn. Sau bữa ăn đầy cảm xúc hỗn hợp đó, cảnh sát trưởng và vị khách lớn đều đồng ý nên có hoạt động gì mang tính thư giãn hơn để mọi người cùng lấy lại cân bằng.

– Tôi rất vui vì ngài đồng ý nán lại chơi cùng tôi cờ vua. – Joseph mỉm cười.

– Vâng… – Reginald thấy chao đảo trong đầu. Anh đã định ra về ngay sau bữa ăn nhưng lại không muốn bất lịch sự với hàng xóm. – Tôi không biết có nên nói ra điều này không, nhưng, tôi rất thích và lấy làm tò mò về món “tiết canh” của ông.

– Ngài muốn biết cách làm?

– Vâng. Nếu được thì rất cảm ơn. – Reginald ngại ngùng.

Nhận ra sự hứng thú từ phía Reginald, Joseph không ngần ngại chia sẻ:

– Đơn giản thôi, ngài cứ lấy máu tươi của con vật nào đó tùy ý. Sau đó thì cho một chút muối vào để tránh bị đông lại. Thành phần chính là máu nên việc nêm gia vị hay rau thơm, lạc, sụn lên trên hoàn toàn do sở thích cá nhân, ngài không nhất thiết phải cứng nhắc làm theo đâu. Nhưng, tôi cá ngài sẽ không bao giờ có được cảm xúc giống như khi ăn của tôi.

– Hẳn là ông có bí quyết gì đó để khiến nó trở nên đặc biệt? – Reginald đi trước một nước cờ.

– Đúng là thế, nó như một loại “công thức bí mật” của gia đình vậy. – Joseph cười lớn. – Tôi không biết nên chia sẻ cho người khác hay không vì ngài có vẻ là người Anh duy nhất thích món ăn “kinh dị” này, bên cạnh tôi ra.

– Tôi không ép ông đâu. – Reginald chợt thấy có cái gì đó vương vướng trong họng.

– Nói nhỏ cho ngài nghe, đội cảnh sát chúng tôi vừa bắt được một tên tội phạm bị truy nã sau hơn hai tuần tìm kiếm. Hắn bị hội đồng tòa tuyên án tử hình bằng cách chặt đầu3… Tôi thường là người trực tiếp giám sát và quản lý những vụ hành quyết. Những lúc như vậy tôi lại mang theo một cái xô…

3

Việc hành quyết bằng cách chặt đầu kéo dài tới tận những năm 1970.

Reginald rùng mình. Lúc này, điều duy nhất trí tưởng tượng dẫn anh tới là cảnh một chiếc xô hứng đầy máu của kẻ phạm tội, rồi anh lại nghĩ tới hương vị lạ lùng của đĩa máu mà mình đã ăn. Reginald chắc chắn đó không phải là máu người. Máu người không có vị đó, nhưng món tiết canh lại bổ dưỡng hơn máu động vật nhiều. Rốt cuộc đó là máu từ đâu?

Nhìn gương mặt thất thần của Reginald, Joseph vội vã giải thích:

– Reginald, ngài không sao chứ? Đừng nói với tôi ngài nghĩ rằng tôi cho ngài ăn máu người chứ?

– Ồ không, không phải. – Reginald lắc đầu.

– Tôi chỉ đùa ngài chút thôi. Cái xô đó được dùng để hứng đầu lại mà! – Joseph cười lớn. – Rất xin lỗi nếu làm ngài hoảng.

– Tôi cũng nghĩ vậy. – Reginald lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán. – Vậy là công thức bí mật mãi vẫn là bí mật?

– Còn tùy. Nếu ngài thắng được tôi ván cờ vua này.

Họ người ngồi đối diện nhau, bàn cờ đặt giữa. Đã lâu lắm rồi Reginald mới tìm được một đối thủ “ghê gớm” như Joseph. Cả hai đều cố gắng không bộc lộ bất cứ một cảm xúc nào trên mặt mình trong trận cờ căng thẳng này.

– Tôi không muốn làm kẻ tọc mạch, nhưng ngài có thể giải thích tại sao Olivia không nói được tiếng Anh không? – Joseph vừa nói trong lúc suy nghĩ các nước cờ.

– Mẹ của Olivia là người Pháp, tôi và cô ấy đã chia tay nhau từ lâu vì lý do gia đình hai phía. Nhưng Charlotte vừa mới qua đời vì bệnh viêm phổi, tôi thấy mình phải có trách nhiệm đón Olivia về nuôi dạy.

– Tôi rất lấy làm tiếc. Khoảng cách về thứ bậc trong xã hội đúng là rào cản lớn, nhất lại là với những con người yêu nhau. – Joseph nhìn về phía Olivia và Jules. Căn cứ vào câu chuyện mà Reginald thêu dệt, cảnh sát trưởng tưởng tượng ra mẹ của Olivia là một cô gái xinh đẹp nhưng nghèo khổ trót đem lòng yêu chàng Reginald quý tộc hết thời. Bị mê mẩn bởi cái thần thái lãng mạn và bí ẩn kia, cô nhắm mắt trao cho anh ta mọi thứ, những tưởng sẽ được đổi đời mà nào ngờ…
Nghĩ tới đó, Joseph ngừng lại. Cuộc tình ấy nghe cứ như được lấy ra từ tiểu thuyết yêu đương nào của Pháp vậy. Tốt nhất ông không nên suy xét nhiều về đời sống riêng của người khác, như vậy đâu có hay cho lắm. Cảnh sát trưởng đổi lại tư thế ngồi cho thoải mái, khẽ hỏi Reginald:

– Ngài có cảm thấy trùng hợp không khi tôi nói rằng mẹ của Jules cũng tên là Charlotte và là người Pháp?

– Tôi không biết nữa. – Reginald nhún vai. – Vậy vợ của ông đâu rồi?

– Cô ấy cũng qua đời rồi. – Joseph thở dài.

– Tôi rất tiếc. – Reginald đi nước tiếp theo. – Việc nuôi con một mình hẳn là khó khăn…

Olivia được Jules dẫn đi dạo quanh khu vườn rực rỡ do chính hai bố con Joseph chăm sóc. Ngắm những loại cây hoa xinh xắn được sắp thành những hàng thẳng tắp, khoe sắc một cách hài hòa trên thảm cỏ xanh, cô bé thích thú vô cùng và trầm trồ khen ngợi không hết lời.

– Kia là cây gì vậy? – Olivia chỉ vào những khóm hoa nhỏ màu hồng và xanh tím.

– Đó là Sweet William (Hoa cẩm chướng lùn). Nó có nghĩa là “Hãy ban cho tôi một nụ cười”.

– Tớ thích nó lắm! Nhưng, đến lúc chúng nở ra thì chắc chỉ có mình tớ là người được thưởng thức vẻ đẹp thôi.

– Sao lại thế? – Jules ngạc nhiên. – Bố cậu không thích hoa à?

– Có lẽ vậy… Reginald khó tính lắm, chắc chắn sẽ mắng tớ vì tội nghịch đất bẩn trước khi ông ta kịp nhìn thấy những bông hoa.

– Sao cậu lại gọi bố mình bằng tên? Như thế không hay lắm đâu. – Jules hơi chau mày lại. Cô cho rằng Olivia có mối quan hệ không mấy hòa hợp với cha ruột, căn cứ vào sự thờ ơ của người hàng xóm và cách xưng hô của con gái ông ta.

* * *

– Đúng vậy. Sau khi Charlotte qua đời, tôi gần như đã không còn là chính mình… Nhưng, cảm ơn cô ấy đã để lại món quà quý giá nhất cho tôi: Jules — báu vật đã đánh thức tình yêu và niềm hy vọng trong tôi. – Joseph tâm sự trong trạng thái nửa buồn nửa vui. Sự ra đi của người vợ là một mất mát rất lớn với cảnh sát trưởng, ông đã phải mất rất nhiều năm mới vượt qua được nỗi đau đó.

– Tôi nghĩ vợ ông sẽ rất mãn nguyện khi biết chồng mình và con gái vẫn sống hạnh phúc. – Reginald nói nhỏ, siết chặt bàn tay đang ướt đẫm mồ hôi lại.

– Vậy còn ngài, Reginald? Ngài có nhớ Charlotte của mình chứ? – Joseph nhìn vào đôi môi mỏng khô nứt của Reginald. – Ai cũng có một số thói quen mà họ vô tình thực hiện khi lo lắng hay buồn bã, ngài biết đấy: cắn móng tay, cắn môi, vò tóc… Tôi thì phải hút vài điếu để giải khuây.

– Tôi vẫn nhớ về Charlotte, trong những giấc mơ… – Reginald tự cười trong lòng trước độ giả dối của bản thân, không ngờ lại trúng phải một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến đáng sợ như vậy.

– Vậy chúng ta, hai người đàn ông cùng say đắm những người phụ nữ của đời mình, hãy nâng li. – Joseph rót thêm rượu ra và mời Reginald. – Vì Charlotte!

– Vì Charlotte… – Reginald nói nhỏ.

* * *

Bữa tiệc nào rồi cũng đến hồi kết thúc. Nhận ra thời gian trôi đi được khá lâu, Reginald xin phép trở về. Joseph cũng còn công việc của ông ấy.

– Cảm ơn ngài đã dành một chút thời gian tới đây với chúng tôi. – Joseph lắc mạnh tay Reginald. – Con tôi và tôi rất vui. Hy vọng một ngày nào đó sẽ lại được vinh dự cùng ngài gỡ hòa ván cờ hôm nay.

– Hy vọng là vậy. Tạm biệt cảnh sát trưởng và Jules. – Reginald nói nhỏ. – Làm ơn giữ gìn sức khỏe, cảnh sát trưởng ạ.

– Tôi sẽ chăm sóc cho bản thân tốt hơn. Cảm ơn ngài. – Joseph gật đầu. – Hai người đi đường cẩn thận.

* * *

– Ngài đau ở đâu à? – Olivia nhìn gương mặt nhăn nhó của Reginald khi cùng anh ta đi bộ.

Reginald chỉ lắc đầu, cố bước đi thật nhanh. Lúc ấy trời đã tối muộn nhưng Olivia không còn cảm thấy buồn ngủ hay mệt mỏi nữa, bởi căn bệnh viêm phổi kia cuối cùng đã chấm dứt. Cô bé còn quá nhiều băn khoăn và do dự trong đầu để có thể yên tâm nhắm mắt. Về tới lâu đài, Olivi ngồi cạnh Reginald tại phòng khách, ba hoa đủ thứ linh tinh, không để ý rằng Reginald đang vã mồ hôi như tắm và cố nén sự khó chịu lại một cách tối đa.

– Từ lúc ở nhà Joseph về ngài cư xử kỳ lạ lắm.

– …

– Đừng nói với tôi là ngài thích ông cảnh sát đó nhớ. – Olivia trêu chọc. – Joseph có vẻ là người dễ gần đấy chứ. Món “tiết canh” hơi kinh dị nhưng mà…

– Ta đang khát. – Reginald chống hai tay lên trán.

Nhìn thấy mặt Reginald đỏ bừng, Olivia lo lắng hỏi:

– Ngài bị sốt hả? Tôi pha trà nhé?

– Thôi! – Reginald gằn giọng.

– Tôi cá ngài và Joseph đã có khoảng thời gian vui vẻ với nhau, nhìn thấy thái độ của ngài với ông ta là tôi biết mà. Tôi cũng quý Jules lắm!

Olivia vô tình nhìn xuống tay mình: ngón trỏ bị sứt một mảnh da, phần đầu móng tay bị mẻ. Có lẽ là do đêm qua cô bé đã vô tình cắn móng tay trong lúc ngủ mê.

– Tôi bị xước măng rô rồi. – Olivia nói, lấy tay giật mạnh phần da thừa. – Ối!

Reginald đánh hơi thấy mùi máu từ Olivia. Bình thường thì cũng chẳng có gì to tát, nhưng với trạng thái khó chịu như lúc này, anh chợt không thể kiềm chế nổi mà gắt lên:

– Đừng có làm thế nữa!

– Làm gì cơ? – Olivia giật mình.

Reginald rút trong túi áo anh ta một chiếc phong bì gấp làm hai, ném xuống bàn.

– Cầm lấy!

– Đây là…? – Olivia không hiểu chuyện nổi gì đang xảy ra, nhất là với sự thay đổi tâm trạng liên tục của Reginald.

– Chỗ tiền ta cho ngươi để lo liệu việc đi lại và ăn uống trong vài ngày.

Olivia nhìn chiếc phong bì rồi nhìn Reginald. Hành động vừa rồi như xéo lên lòng tự trọng của cô bé. Olivia cần tiền thật, nhưng cô bé không muốn bị đối xử như vậy.

Reginald đi ra ngoài và đóng sầm cửa lại. Đôi mắt Olivia cụp xuống đầy buồn bã.

* * *

Reginald đi lang thang ở thị trấn, đưa mắt tìm kiếm khắp nơi. Anh nhìn thấy một người đàn ông trẻ đang đi bộ dưới phố, nhanh chóng lẻn tới từ phía sau, đánh ngất rồi lôi nạn nhân vào trong con ngõ bị màn đêm đen nuốt chửng.

Reginald tỉnh khỏi cơn mê. Anh chàng xấu số kia nằm dài dưới đất, bên vũng máu loang ra từ cổ. Dù đã hút máu, Reginald vẫn cảm thấy không hề thỏa mãn.

“Mình bị làm sao thế này?” – Reginald tự trách móc vì đã không thể khống chế được cơn khát bên trong mình. Thật may mắn vì đã rời đi kịp thời! Lỡ gã làm gì đó tổn hại tới Olivia. Nếu điều này còn xảy ra một lần nữa, con bé cũng không ngoại lệ.

Reginald ngồi xuống gốc cây, mắt thẫn thờ nhìn bầu trời đêm: hôm nay có trăng tròn.

Gã ma cà rồng còn quá bận với những mặc cảm tội lỗi của bản thân để có thể nhận ra được một bóng người bí ẩn nấp sau lùm cây cách đó không xa.

“Quả nhiên ta đã đúng.” – Joseph bặm môi lại, cảm thấy lo lắng. – “Reginald, ngươi cũng chỉ biết hành động theo bản năng như bao con quỷ hút máu khác thôi sao?”

Cảnh sát trưởng lặng lẽ bỏ đi.

* * *

Cảnh sát trưởng rút chìa khóa ra khỏi ổ, bật ngọn đèn nhỏ lên để thắp sáng cho căn nhà. Từng tiếng bước chân trên cầu thang làm ông ta lo lắng.

– Mẹ đi đâu rồi hả bố? – Jules vừa đi vừa nói, trong khi hai mắt vẫn nhắm nghiền.

– Con yêu, bố đưa con trở về phòng nào. – Joseph dắt tay cô con gái mộng du trở về phòng ngủ.

– Mẹ đang làm gì thế bố? – Jules siết chặt vào tay bố mình.

– Bố đây, con yên tâm. – Joseph buồn bã. Ông đưa con mình trở lại giường, hôn lên má con và đắp chăn cho con.

“Reginald hẳn là kẻ dày dạn kinh nghiệm nên mới không để lộ tung tích dễ dàng đến thế. Tuy nhiên dù cố đến mấy, bản chất của quỷ hút máu vẫn là phải tìm đến nguồn nuôi dưỡng sự sống của chúng. Một khi đã cần đến máu để tồn tại, kiềm chế sẽ chỉ càng khiến cho hắn thêm điên cuồng khi sự thèm khát đã vượt quá giới hạn.” – Joseph rút một điếu thuốc lá từ túi áo ra và hút. – “Bốn đêm thức trắng và hao hụt một chút sức lực, xem ra cũng chỉ là một trong những cái giá nho nhỏ ta phải trả để buộc một con quỷ hút máu lộ diện.”

Khẽ đóng cánh cửa phòng của con mình rồi khóa nó lại, Joseph đi ra ngoài đường, hướng đầu về phía tòa lâu đài của người hàng xóm.

“Reginald Arthur, ván cờ mới chỉ bắt đầu thôi.”

– – – – – – HẾT PHẦN 7 – – – – – –


"Phần 8. Bí mật nho nhỏ" bởi iamDage
Olivia bỏ chiếc va li xuống đất, ôm chầm lấy Reginald. Cô bé nhìn lên đôi mắt buồn bã của anh ta, mỉm cười bẽn lẽn:

– Tạm biệt, Reginald. Cảm ơn vì tất cả.

– Ngươi không giận ta chuyện hôm qua chứ? – Reginald lúng túng.

– Không. Tôi quên nhanh lắm! – Olivia lắc đầu. Cô bé từ trước đến nay luôn dễ dàng bỏ qua và thông cảm cho người khác.

– Nhóc, ngươi nên đi nhanh đi kẻo muộn. – Reginald xoa đầu đứa trẻ.

Olivia khoác vội áo và chạy ra ngoài, không quên ngoái đầu lại nhìn Reginald lần cuối. Cầm chặt va li trong tay, cô bé nói to:

– Tôi sẽ không bao giờ quên ngài đâu!

–Thượng lộ bình an! – Reginald mỉm cười, hơi nhấc tay lên chào tạm biệt. Chắc chắn gã cũng không thể nào quên Olivia, quên gương mặt trẻ trung với đôi mắt xanh lấp lánh luôn toát lên vẻ thánh thiện này. Nó đúng là một đứa nhóc kỳ lạ. Một đứa nhóc ngọt ngào, hấp tấp, hậu đậu; thỉnh thoảng lại vô tình nói ra đôi điều ngốc nghếch và cả tin đến ngờ nghệch mà lắm lúc tài lanh, bướng bỉnh đến không ngờ. Mỗi lần con bé hồn nhiên nở nụ cười, khóe miệng nhỏ lại cong lên, để lộ ra cặp răng cửa lớn trông hệt như chú thỏ con ngỗ nghịch; khiến tim anh tan chảy, khiến anh chỉ muốn véo lấy cặp má Olivia và ôm nó vào lòng để yêu thương, vừa yêu thương vừa quở mắng nó vì bao rắc rối nó gây ra cho mình.

Đứng từ cánh cửa lâu đài, Reginald nhìn theo cái bóng bé nhỏ đi xa dần. Đột nhiên, những đầu ngón tay anh bắt đầu ngứa ngáy râm ran; hơi thở mỗi lúc lại thêm nặng nề. Reginald linh cảm có chuyện gì đó không hay sẽ xảy ra. Có lẽ anh ta chỉ đang tự dối lòng, có lẽ anh chỉ quá lo lắng và không dám chấp nhận sự thật rằng mình đã muốn Olivia ở lại đây.

Olivia xem tờ giấy chỉ đường cầm trên tay trong lúc đi bộ. Reginald đã vẽ và giải thích tỉ mỉ bằng những số liệu và chú thích lối đi, thậm chí còn viết cả ra những câu nói xin giúp đỡ đề phòng trường hợp cô bé gặp khó khăn — vì anh ta đoán có khả năng rất cao đứa trẻ ấy coi “bản đồ” chẳng là gì ngoài một bức vẽ nhịt nhằng. Đang mải chau mày theo cái nét chữ vừa thưa vừa loằng ngoằng lên xuống của Reginald, Olivia nhận ra có hai người đàn ông mặc áo khoác dài kín mít đi ngược chiều với mình, liếc nhanh qua mình rồi lại bước tiếp về phía con dốc nhỏ. Cô bé ngoái đầu theo hướng mà hai kẻ kia đang tới, nhủ thầm:

“Thật kỳ lạ!”

Con dốc đó chỉ dẫn tới một lối duy nhất: lối vào lâu đài của Reginald.

* * *

Joseph đi loanh quanh trong căn phòng ở đồn, thỉnh thoảng lại tự tát mình vài cái. Đầu của cảnh sát trưởng liên tục nhắc ông ta không được ngủ gật, nhưng hai mí mắt nặng trĩu của ông lại khăng khăng muốn làm trái lời.

“Có lẽ phải làm một hơi cho tỉnh.” – Joseph nghĩ vậy và mở tủ đồ, lấy một cái ống lớn đem ra ngoài.

Một tiếng rít kéo dài cùng với làn khói dày đặc lan ra khắp bầu không khí. Joseph tựa lưng vào bức tường ở đồn cảnh sát, trút hơi thở dài trong nhẹ nhõm.

– Cảnh sát trưởng! – Viên cảnh sát trẻ giơ tay chào ông.

– Chào Brook, cậu tới sớm quá.

Brook nhìn cái ống lớn trong tay Joseph, theo dải khói hôi khét lẹt thoát ra. Dù đứng trong không gian mở, cậu vẫn ho sặc lên vì độ nặng mùi của nó. Một thứ thuốc thật kinh khủng!

– Chờ nốt tên kia tới kí là xong nhỉ Joe. – Brook nói bâng quơ giết thời gian, mắt vẫn hơi vương nước vì mùi thuốc.

Joseph vỗ vai Brook.

– Chắc cậu ghét thứ này lắm?

– Ông có cái tẩu kỳ lạ quá, Joe. – Brook nhìn cái ống vàng óng bằng ánh mắt hiếu kỳ. – Thứ thuốc đó là gì vậy?

– Đây là cái điếu cày. Thứ thuốc khó ngửi tôi hút là “thuốc lào”1. – Joseph khẽ đung đưa chiếc ống. – Một sản phẩm ưa dùng của người Việt Nam đấy.

– Tôi tưởng nó phải thơm như hoa nhài chứ nhỉ?2 – Brook gãi đầu. – Tôi cũng từng muốn thử một lần cho biết, mà có lẽ tôi không nên thì hơn.

– Cậu nhầm với cây gì rồi chứ. Thứ này nặng lắm, cả mùi lẫn vị luôn! – Joseph lắc đầu. – Cậu mà say thuốc thì ai sẽ trông đồn đây?

– Có thật không? – Brook nghi ngờ.

– Thật đó. – Joseph nói đến đó thì người thứ ba tới đồn. Sau khi đã hoàn tất thủ tục như mọi khi, cảnh sát trưởng cũng ra về.

1

Tên khoa học là Nicotiana Rustica, cùng họ với cây thuốc lá (Nicotiana Tabacum). Loài này có nguồn gốc từ Mexico và được đưa tới châu Âu.

2

Brook nhầm với cây Nicotiana Alata ở vùng Trung Đông – hay còn gọi là Jasmine tobacco (thuốc lá hương nhài). Đây là một trong những nguyên liệu dùng để làm Sisha hoặc Narghile, Hookah…

Brook nhìn theo cấp trên, khẽ lắc đầu cười. Joseph là một người nghiện thuốc lá vô cùng nặng, ông ta đã cố gắng bỏ hút suốt ba năm nay nhưng cuối cùng thì đâu vẫn lại vào đó. Brook thỉnh thoảng cũng hút thuốc, cậu biết tại sao người ta hút rồi lại hút nhiều hơn. Việc Joseph tái nghiện và ngày càng trở nên thảm hại không quá khó hiểu với cậu; chỉ có điều, thứ mùi từ người ông ta tỏa ra thật khủng khiếp quá!

Joseph trở về nhà cùng cái điếu cày, vừa đi ông vừa tung lên xuống bao diêm trong tay.

* * *

Những ánh ban mai của ngày mới ló rạng dần. Trong lúc chờ tàu tới, Olivia ngồi, đung đưa chiếc va li nhỏ, bàn tay nắm chặt tờ vé tàu hỏa. Nụ cười tinh nghịch thường thấy khi ở cạnh Reginald giờ không còn nữa, cô bé lo sợ những điều sắp xảy ra với mình, lo sợ cuộc sống vốn đã chẳng yên ổn cho lắm lại tiếp tục bị đảo lộn. Đứa trẻ nhìn theo những toa tàu nối tiếp nhau tiến mỗi lúc một gần hơn, hy vọng khoảng thời gian ấy sẽ kéo dài lâu thêm một chút nữa. Đoàn tàu dừng hẳn, đôi mắt nó chợt ngừng lại trước một nhóm người mặc áo khoác đen bước xuống. Có gì đó trông quen quen ở họ. Gã đàn ông có gương mặt dài thượt và xanh lét cho tay vào túi áo, rút ra một cái tẩu. Trước khi châm lửa hút, hắn quay người về bên trái nhổ một bãi, vô tình nhìn thấy Olivia.

“Sao lại…” – Olivia giật mình.

“Này! Kia có phải là…” – Tên to béo nói với gã hút thuốc. Hắn chỉ tay về phía cô bé đang ngồi tại ghế chờ cách chúng không quá xa.

Tên gầy gò đưa đôi mắt ti hí của hắn nhìn Olivia. Hắn ta nhe hàm răng đã ố vàng vì ám khói thuốc lâu ngày, hai khóe miệng ngoác lên một nụ cười đê tiện, tiến nhanh về phía đứa con gái đang ngồi tại hàng ghế.

Olivia đứng bật dậy, lùi lại vài bước. Cô bé vội vã nhìn xung quanh, cố gắng tìm kiếm một sự trợ giúp trong vô vọng. Olivia van Schoolderwalt này đã thoát khỏi lũ người đê tiện đã đẩy cuộc đời nó vào vũng lầy, và nó sẽ không đời nào chết chìm trong đó thêm lần nữa đâu!

– Của nợ khốn kiếp! Mày đã trốn đi đâu suốt? – Hắn rít lên bằng cái giọng the thé, túm lấy cái cổ tay Olivia. – Mày biết vì mày mà ông ta hành hạ bọn tao như nào không?

– Thả tôi ra! – Olivia hét lên. – Các ông là ai?

– Khỏi phải giả vờ! Theo bọn tao, ngay! – Tên béo đánh vào mặt Olivia.

Olivia sút vào hạ bộ của tên nghiện hút, đập va li vào mặt kẻ còn lại. Vừa lúc tên hút thuốc thả tay, cô bé chạy luôn.

– Đuổi theo nó, mau! – Hắn gào lên trong đau đớn, ra lệnh cho cái bị thịt kia đuổi theo Olivia, tay vẫn ôm lấy của quý.

Vóc người nhỏ nhắn của Olivia nhanh chóng lỉnh mất, biến khỏi tầm mắt của tảng mỡ di động lặc lè. Tên béo dừng lại. Vừa thở hắt, hắn vừa chửi thề…

* * *

Olivia chạy mãi, chạy mãi, cắm đầu mà chạy. Chân tay cô bé run lẩy bẩy, hai mắt nhòe đi, hơi thở mỗi lúc một gấp gáp và hỗn loạn hơn. Cô bé lao vào một con ngõ nhỏ ẩm ướt, ho gắt lên và nôn khan vì mất nước. Ngồi trốn đằng sau những chiếc thùng rác, Olivia nhận ra tim mình đang đập mạnh tới mức muốn văng ra khỏi ngực. Màn rượt đuổi vừa nãy đã khiến cô bé mất hết cả hồn vía lẫn sức lực.

“Thằng nghiện vẫn còn ở nhà ga. Nếu mình quay trở lại, chúng sẽ bắt mình mất!”

Olivia sợ hãi, cắn vào móng tay liên hồi.

“Không thể tin mình lại làm việc này!”

Olivia rón rẻn nhỏm dậy, từ trong ngõ ngó ra hai bên. Không thấy có kẻ nào bám theo, nhóc bắt một chiếc xe ngựa và trở về thị trấn Forest Hill.

* * *

Olivia chạy băng qua thị trấn, chạy lên con dốc từ chân đồi; vừa chạy vừa thở hồng hộc quên cả mệt mỏi. Đi qua cánh cổng dẫn vào lâu đài, cô bé mở toang cửa, hy vọng tìm thấy Reginald — người duy nhất Olivia biết, người duy nhất Olivia có thể cầu cứu.

– Reginald!

Olivia gọi lớn nhưng không có ai trả lời. Trước mặt cô bé, Reginald đang nằm dài ở phòng khách. Máu từ cổ anh ta chảy xuống nền nhà thành vũng lớn, vẫn còn ướt, dính nhớp nháp và bốc mùi tanh tưởi đến buồn nôn. Olivia chạy tới, tát mạnh lên mặt người đàn ông nhưng anh ta không tỉnh lại. Chuyện gì đã xảy ra sau khi đứa trẻ này rời đi? Olivia thử kéo Reginald dậy, anh ta quá nặng.

– Reginald! Ngài không sao chứ? – Olivia hét lên. – Reginald, đừng dọa tôi!

Olivia cầm lấy tay Reginald, nắm chặt lại. Cô bé gục đầu xuống mặt ghế, run rẩy khóc trong bất lực.

* * *

Khu vườn của nhà cảnh sát trưởng lúc nào cũng trong trạng thái lung linh sắc màu và hoàn hảo nhất có thể, tất cả là nhờ bàn tay khéo léo của Joseph và sự cần mẫn chăm sóc của cả hai bố con Phan. Nếu bố bận, Jules sẽ cố thay ông chăm sóc vườn hoa. Đang tưới nước cho cây, cô nhìn thấy Olivia hớt hải chạy tới.

– Chuyện gì vậy? – Jules lo lắng hỏi, đặt bình tưới xuống.

– Bố cậu có nhà không, Jules? Tớ cần giúp!

– Bố tớ giờ này vẫn ở đồn. Cậu kể cho tớ được không? Nếu giúp được gì tớ sẽ cố hết khả năng.

Olivia hít một hơi dài, cố lấy lại bình tĩnh và chuẩn bị cho lời giải thích. Cô bé tội nghiệp vẫn đang bị khủng hoảng tinh thần.

– Reginald, ý tớ là bố tớ bị chảy máu rồi ngất. Tớ tát ông tớ gào tên ông tớ không biết phải làm sao để ông tỉnh lại đây. Tớ không mang đi viện được nên nếu bố cậu có ở đây tớ sẽ rất cảm ơn.

– Để tớ…

Jules nhìn theo cái miệng liến thoắng không ngừng của Olivia, bối rối tới quên cả chớp mắt. Chưa kịp dứt lời, cô nhận ra cảnh sát trưởng đã trở về.

– Bố! Nhà Olivia có chuyện. Cậu ấy cần bố! – Jules reo lên, chạy ra ngoài kéo lấy tay cảnh sát trưởng.

– Sao vậy? – Joseph ngạc nhiên.

– Bố cháu ngất vì mất máu. Chú có thể… – Olivia thở hổn hển.

– Chú tới ngay. Jules, vào nhà lấy cho bố bộ sơ cứu!

* * *

Joseph vừa bước vào phòng khách, cảnh tượng trước mắt không làm ông ngạc nhiên hay hoảng sợ. Rất nhanh chóng và chuyên nghiệp, Joseph ép mạnh vào vết thương trên cổ Reginald và băng nó lại rồi nâng anh ta bằng hai tay.

– Phòng của bố cháu ở đâu?

– Ngay trên tầng…

– Chờ ở đây nhé Olivia. Để chú lo mọi việc cho. – Joseph nói trong khi nhìn Olivia, ánh mắt ông ta trông bình thản như thể đó chẳng là chuyện gì to tát.

Bản thân Joseph thật ra vô cùng mệt mỏi. Sau những đêm thức triền miên đi tuần cùng với những điếu thuốc lá làm bạn đồng hành, có lẽ kiệt sức mới là từ chính xác để miêu tả trạng thái của ông lúc này. Nhưng Joseph là cảnh sát, trách nhiệm của ông là phải giúp đỡ mọi người trong thị trấn, và ông không mong đợi sẽ có ai hiểu hay thông cảm cho những người như mình.

Khẽ đẩy cửa phòng của Reginald, cảnh sát trưởng nhẹ nhàng đặt anh ta lên giường, cởi bớt quần áo bên ngoài của Reginald ra. Ông cầm lấy cổ tay Reginald, nhận thấy mạch đập rất nhanh.

– Reginald, ngươi có nghe thấy ta nói gì không? – Joseph nói nhỏ, nhìn gương mặt trắng bệch đang nằm trên giường.

Cảnh sát trưởng ngồi xuống bên cạnh Reginald. Ông ôm lấy đầu, cảm thấy choáng váng và rã rời chân tay.

– Không có nó ngươi sẽ không tỉnh lại, phải không? – Joseph thở dài. – Ngươi cần, ta cần, ai cũng cần…

* * *

Olivia ngồi bần thần bên chiếc ghế đã được chính mình lau sạch những vết máu, đôi mắt lộ rõ sự hoảng loạn. Hai bàn tay cô bé cấu chặt lấy những chiếc móng, gặm liên hồi ngón tay mình tới mức chảy máu.

– Đừng lo lắng quá! – Một giọng nói trầm nhẹ nhàng cất lên sau lưng Olivia. – Bố cháu sẽ ổn thôi.

– Chú Joseph! – Olivia giật mình.

– Chú xuống đây để tìm một chiếc bát, cũng muốn xem tình hình của cháu nữa.

– Cháu ổn. – Olivia quay mặt đi vì ngại. Giọng nói của Joseph rất ấm áp, cứ như ông ta đang an ủi con gái mình vậy.

– Olivia, chú cũng là một người cha, chẳng lẽ chú lại không biết chuyện gì đang xảy ra và cách để xử lý nó? – Joseph nói nhỏ. – Chú muốn cháu bình tĩnh lại, được không?

Joseph lấy trong túi áo mình ra vài viên tròn nhỏ bọc trong giấy. Ông đặt vào tay Olivia — bàn tay bên dưới có chi chít sẹo — và xoa đầu cô bé.

– Kẹo chanh. Chú định để dành lúc về thì ngậm, nhưng có lẽ cháu cần hơn.

– Cháu… – Olivia ấp úng. – Cảm ơn chú…

– Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Thưởng thức chúng và làm một giấc đi, bố cháu đã có chú chăm sóc rồi.

Olivia mỉm cười nhìn cảnh sát trưởng. Bàn tay ấm nóng và rắn chắc của ông nhẹ nhàng xoa lên đầu cô bé. Trong giây lát, Olivia thấy chú cảnh sát không đáng sợ như mình vẫn nghĩ.

– Rẽ trái ở phía cuối sảnh, bát được đựng trong tủ ở nhà bếp.

– Cảm ơn cháu, Olivia. – Joseph mỉm cười lại.

“Ông ta cần bát để làm gì?”

Olivia nhìn theo Joseph đi về nhà bếp, cảm thấy khó hiểu. Ngay sau đó cảnh sát trưởng nhanh chóng trở ra với một cái bát bốc khói. Thấy vậy, cô bé mới yên tâm không nghi ngờ gì thêm.

Joseph lại bước vào phòng Reginald. Ông uống hết chỗ nước nóng trong bát rồi đặt nó lên mặt bàn.

“Ngươi nợ ta nhiều lắm đấy!”

Ông cảnh sát lặng lẽ rút con dao nhỏ từ chiếc bao đeo bên thắt lưng.

* * *

Reginald choàng tỉnh, ôm lấy vết thương ở cổ theo bản năng, cảm thấy mình như một con nghiện vừa trải qua cơn say vật vã sau khi thuốc đã hết tác dụng. Đánh hơi thấy thoang thoảng mùi tanh của máu và nhận ra gương mặt tái nhợt đang ngồi ngủ gật trên bàn là Joseph, anh hoảng hốt:

– Cảnh sát trưởng?

– Ngài tỉnh lại rồi? – Joseph giật mình vì bị đánh thức.

– Ông ở đây đã bao lâu rồi? Thật xin lỗi đã làm phiền ông.

– Không có gì đâu. Giúp hàng xóm là chuyện đương nhiên mà.

Reginald lấy tay quẹt lên miệng mình. Nhìn thấy trên bàn có chiếc bát dính máu, gã nghi ngờ Joseph chính là tác giả, cảm thấy lo lắng. Không ngoài khả năng tay cớm đã phát hiện ra gã là ma cà rồng.

– Ông đã biết?

– Tôi biết cái gì? – Joseph tỏ ra không biết chuyện gì hết.

– Cái bát kia… Có phải ông đã cho tôi…

Joseph nhìn những vệt máu khô sậm lại trên bát, bật cười.

– Ngày bé tôi nghịch dại lắm, nên từng bị ngã rách đầu… – Vừa nói, Joseph kéo phần tóc trên đỉnh đầu của ông sang một bên, để lộ ra vùng sẹo lồi mà tóc không mọc được. – Bố tôi làm thế nào tôi cũng không tỉnh lại, thế là ông cắt cổ một con gà cho tôi vì ông nghĩ tôi thích tiết canh. Vậy mà ai ngờ ăn xong tôi tỉnh lại đấy! Tôi nghĩ thế nên cũng tò mò làm thử cho ngài.

– Cách chữa ngất của gia đình ngài độc đáo thật. – Reginald hơi cười, muốn cảnh sát trưởng nghĩ rằng mình thật sự tin vào lời giải thích đó. Gã ma cà rồng nhìn Joseph mà thấy sởn gai ốc, cố gắng tự nhủ cảnh sát trưởng chỉ là một người bình thường. Joseph luôn đem lại cho Reginald cảm giác không thoải mái, bất chấp sự nhiệt tình ông ta vẫn thường thể hiện ra.

– Reginald, chúng ta trao đổi với nhau một chút được không? Dù sao tôi cũng là cảnh sát trưởng và tôi cần được biết rõ về chuyện này. Hy vọng ngài hợp tác.

– Ông muốn biết điều gì? – Reginald ngập ngừng.

– Đã có kẻ nào đột nhập vào đây hay tấn công ngài?

– Là tôi để họ vào.

– Họ? Họ là ai? – Joseph chất vấn.

– Những người bạn chiến đấu cũ của tôi…

– Vậy, trước đây ngài từng đi lính, Reginald?

– Đúng vậy, nhưng đó là chuyện khác. – Reginald gạt đi, tỏ ý không muốn kể chi tiết hơn nữa.

– Tất nhiên rồi. Nhưng tại sao ngài lại bị tấn công?

– Tôi—không nhớ rõ lắm. Khi tỉnh lại thì tôi thấy mình ở đây. – Reginald không muốn tỏ ra lảng tránh những câu hỏi của Joseph. Nếu ông ta phát hiện ra có điều gì đó bất thường thì thật nguy hiểm.

– Được rồi. Ngài hãy giữ gìn sức khỏe và chăm sóc Olivia hơn một chút. Con gái ngài có vẻ không được ổn định cho lắm… Cô bé hay la hét và khóc nhỉ?

– Cảm ơn ông. Tôi tiễn ông nhé?

– Thôi, cảm ơn. Ngài cứ giữ sức. – Joseph từ chối, vội vã ra về.

“Ý ông ta là sao?” – Reginald cảm thấy hoang mang. Olivia đâu còn ở đây nữa. Nếu gã có cơ hội thứ hai để quan tâm tới con bé nhiều hơn thì gã đã làm rồi.

Reginald bước xuống tầng dưới, trước sự ngạc nhiên của mình, Olivia ngồi trong phòng khách, trên bàn lăn đầy những viên kẹo vàng. Thấy gã, con bé mỉm cười ngại ngùng, lấy tay lau đi vài giọt nước nhỏ ở khóe mắt. Rồi nó vội vã đứng dậy, chạy về phía chân cầu thang, ôm chầm lấy gã. Reginald không biết làm gì hơn ngoài dang tay đỡ Olivia, vỗ nhẹ lên lưng nó mà an ủi, không rõ chuyện gì đã xảy ra.

* * *

Joseph cố gắng trở về nhà nhanh nhất có thể. Tai ông ù đi, mặt ông tối sầm lại vì mất máu. Vừa bước tới cửa, cảnh sát trưởng gục ngã xuống nền nhà.

– Bố! – Jules chạy tới và đỡ ông lên chiếc ghế.

– Bố chỉ hơi mệt thôi. Con vào bếp và mở tủ đựng thức ăn ra đi, đừng lo.

Jules không biết phải làm gì hơn. Bố cô chẳng nói chẳng rằng, cứ thế ngủ thiếp đi. Cánh tay Joseph buông thõng xuống. Có gì đó trên cổ tay cảnh sát trưởng, lấp ló sau tay áo ông, giống như một vết cứa mới khô lại.

Jules choàng tấm chăn mỏng lên người bố và đi vào bếp như lời ông nói. Cô mở tủ, lấy ra một chiếc hộp nhỏ đựng bánh với mẩu giấy đặt bên dưới, nhấc nắp ra xem.

“Xin lỗi đã mừng trung thu muộn, con yêu. Dạo này bố bận quá. Đừng giận bố nhé?”

– Bố! – Julse bật cười vì xấu hổ. – Con có phải trẻ con nữa đâu!

* * *

Reginald thật sự rất mừng rỡ ngay khi nhìn thấy gương mặt của Olivia, nhưng vẫn cố kìm nén nụ cười hạnh phúc của bản thân lại. Anh không muốn tạo ra thêm bất cứ sự quyến luyến ủy mị nào cho cả hai bên, như vậy chỉ càng khiến mọi thứ thêm rắc rối. Sau cái ôm vụng về ấy, Reginald thả Olivia xuống, lạnh nhạt hỏi:

– Sao giờ này ngươi còn ở đây?

– Tôi lo cho ngài. – Olivia gãi đầu, tỏ ra bối rối trước thái độ lạnh nhạt của Reginald. Cứ như là ngài ấy không muốn con bé này vậy.

– Nhưng lúc…

– Tôi đã quay lại.

– Số tiền ta đưa ngươi không đủ?

– Không! Chỉ là… – Olivia ngập ngừng. Cô bé không muốn nói ra sự thật chút nào, vì xấu hổ, sợ hãi và đau đớn. – Tôi sợ họ sẽ bắt tôi đi, lần nữa.

– “Họ”? – Reginald ngồi xuống bên cạnh Olivia. – Những tên ma cà rồng giống như lần trước?

– Không! Bọn buôn người.

Reginald như bị đánh mạnh một cú vào đầu. Anh lặng đi.

– Chúng đã từng bắt tôi phải làm gái bán dâm. Khi phát hiện tôi không còn giá trị, chúng khắc lên tay tôi thứ này và tống tôi vào một nhà chứa rẻ tiền ở Rouen. Tôi trốn thoát được, tôi đi ăn cắp khắp nơi, rồi tôi tới nước Anh và… – Vừa kể chuyện, cô bé chìa tay mình cho Reginald. Kết thúc bằng một câu nói dang dở, Olivia đưa ánh mắt ngấn nước nhìn anh.

– Chúng bắt ngươi ở Paris? – Reginald nhìn vào những đường vạch hằn trên da Olivia.

– Sao ngài biết?

– Vì ta đã từng thấy thứ này rồi. Quá khứ của ngươi không đẹp đẽ gì, ta hiểu lý do ngươi không muốn ai biết chuyện đó. Nhưng ngươi cần được giúp đỡ!

– Reginald… – Olivia không dám nhìn vào mắt anh ta thêm một giây nào nữa. Cô bé đưa tay lên mặt, cố ngăn những giọt nước mắt vô dụng đừng rơi.

Reginald nhận ra những ngón tay của Olivia trầy xước và rớm máu, con bé hay gặm móng tay nó mỗi khi gặp chuyện không vui — giống như gã hay cắn vào môi mình. Reginald biết mình không giỏi ăn nói và an ủi, nhưng gã sợ Olivia sẽ lại khóc. Gã luôn cảm thấy không thoải mái khi phải ở cạnh những cô gái trẻ hoặc người phụ nữ đau buồn. Nước mắt của họ còn đáng sợ hơn cả việc bí mật ma cà rồng bị phanh phui.

– Đừng buồn. Như đã hứa, ta sẽ kể cho ngươi về bàn tay xấu xí của ta. Được chứ? – Reginald xoa đầu Olivia.

– Thật không?

Reginald biết Olivia tò mò những câu chuyện riêng tư mà mình vẫn cố giấu kín. Gã đâu còn cách nào khác để giúp nhóc thoát khỏi tâm trạng hiện giờ hơn là đánh lạc hướng.

– Ngài kể đi! – Olivia thúc giục.

– Được. Ta từng là một người lính…

– Của quân đội Hoàng gia Anh? – Olivia chen ngang vào.

– Không, ta làm lính Lê dương3. Vì những kẻ phạm tội, sống không mục đích hay những người không rõ lai lịch không được phép vào quân đội chính thống của quốc gia.

3

Binh đoàn Lê dương Pháp (tiếng Pháp: Légion étrangère, tiếng Anh: French Foreign Legion): một đội quân đánh thuê chuyên nghiệp được tổ chức chặt chẽ, có chuyên môn cao, trực thuộc Lục quân Pháp. Được thành lập năm 1831, đây là đơn vị đặc biệt của quân đội Pháp vì các binh sĩ là những người nước ngoài tình nguyện chiến đấu cho nước Pháp (việc tuyển lính nước ngoài cho quân đội Pháp đã bị cấm từ sau năm 1830).

– Chuyện đó thì liên quan gì tới tay ngài?

– Ta chưa nói hết, Olivia! – Reginald bực bội vì bị làm gián đoạn. – Trong khoảng thời gian ở châu Phi, ta sinh sống cùng với một bộ lạc này. Trong lúc rảnh rỗi, ta giúp người người lớn trong bộ lạc dựng nhà, giúp con cháu của họ phòng và chữa trị bệnh tả. Ngưỡng mộ trước sức khỏe phi thường và hành động của ta, họ gọi ta là Chidike (đọc là Chi–dike), đối xử với ta như người nhà. Trước ngày từ biệt, họ xăm lên tay ta biểu tượng của sự bất tử và biến đổi — như một lời cầu nguyện giúp ta có thể đánh bại mọi thế lực xấu xa.

– Chà! – Olivia trầm trồ với câu chuyện không rõ thực hư ấy. – Mà Chidike nghĩa là gì?

– Ta không thể tiết lộ được.

– Thôi mà, Reginald! – Olivia nài nỉ.

– Ta không thể tiết lộ vì nó mang ý nghĩa tâm linh, Olivia. Nếu nói ra, nó sẽ “mất thiêng” đấy. – Reginald khẽ cười vì lời nói dối ấy, nhưng anh muốn giữ cái biệt danh cho riêng mình.

– Ra vậy… – Olivia gật gù, tỏ ý đã hiểu. – Cái hình xăm ấy sẽ bị mờ đi chứ?

– Cũng hơi mờ rồi.

– À… Tôi hiểu rồi. – Olivia lại gật đầu.

Reginald bỗng im bặt, quặp chặt lông mày. Sực nhớ ra một điều vô cùng quan trọng, anh vội túm lấy Olivia, hỏi bằng thứ giọng hung hăng:

– Olivia, khi ngươi trở lại có gặp kẻ nào đi ra từ trong này không?

– Không có ai cả… Ý ngài là có người đã vào đây?

– Mẹ kiếp! – Reginald chửi thề.

– Có phải là hai người đàn ông tới đây vào lúc sáng sớm? – Olivia nép sát vào chiếc ghế, cảm thấy sợ hãi.

– Lúc này mới sang chiều… Từ khi “chúng” đến đây tới bây giờ không thể nào ra ngoài được. Như vậy tức là “chúng” vẫn lởn vởn quanh đây, trong tòa lâu đài này. Thậm chí nghe hết tất cả những điều chúng ta nói…

Olivia đứng bật dậy. Trải nghiệm với ma cà rồng khiến cô bé không có mấy thiện cảm với những anh bạn hút máu. Reginald vẫn giữ im lặng. Anh ta ra hiệu cho Olivia ngồi yên, còn mình thì bỏ đi.

Reginald xuống tầng hầm của tòa lâu đài – nơi Olivia chưa từng đặt chân vào. Ngoại trừ nhà bếp và nhà tắm, toàn bộ những nơi khác ở tầng một đều đã bị khóa cửa. Joseph đã vào bếp và vẫn vô sự, chứng tỏ không có ai ở đó. Trong lúc Reginald rón rén bước từng bước một, hai bàn tay trắng dần hiện ra từ trong bóng tối, định tóm lấy anh.

Reginald quay người. Anh túm chúng, vặn xoắn. Kẻ ẩn nấp kêu lên. Nhanh chóng, Reginald bế xốc hai chân hắn, lia về phía đống đồ gỗ mục nát. Bụi cùng những mảnh vụn văng ra tung tóe. Hắn bò về phía Reginald, túm chân anh giật ngã xuống đất…

Olivia đang ở trong phòng khách mà vẫn nghe rõ những âm thanh lục đục. Cô bé đứng dậy, vừa định tìm Reginald để giúp đỡ thì chợt thấy ớn lạnh. Nhóc nín thở, cố gắng lắng nghe tiếng bước chân rất nhỏ đang chậm rãi tiến dần về phía mình, rồi quay đầu lại…

* * *

Tên ma cà rồng ngồi đè lên lưng Reginald, kẹp ghì cánh tay vào cổ anh. Reginald ngạt thở, cố tìm cách thoát ra. Anh lết tới bậc cầu thang để lấy đà, húc khuỷu tay vào mặt kẻ ở trên liên tục.

– Chỉ có thế thôi sao? Gã vạm vỡ tao từng biết đâu rồi? – Hắn khiêu khích Reginald, cố cản lại những cú huých. – Mày đánh như một ông già vậy!

Reginald cuối cùng cũng chui được ra. Anh giữ lấy một cánh tay của tên ma cà rồng trên vai mình, văng mạnh lưng hắn xuống giữa những bậc thang. Sau cú đòn hiểm như vậy, tên ma cà rồng mất sức. Hắn nằm sấp dưới đất, tạo điều kiện để Reginald túm lấy hai cẳng chân đang buông sõng soài.

Reginald kẹp chân trái của hắn, vòng chân phải ngược lại và xoay thân tên ma cà rồng lên. Anh giẫm mạnh lên lưng hắn, đồng thời kéo hai cánh tay hắn về phía sau. Bị Reginald khóa chặt và bẻ cong như chữ “C”, hắn không ngừng kêu đau và giãy giụa trong vô vọng.

– Tyson đâu?

– Tự đi mà tìm ấy! – Hắn cười lớn, cố tỏ ra ngạo nghễ.

– Đừng đùa với tao, Mich! Tyson đâu? – Reginald tiếp tục kéo lưng hắn về phía mình, tưởng như cột sống Mich có thể gãy bất cứ lúc nào.

Tên ma cà rồng lại kêu lên, nhưng nhất định không chịu khai.

– Đừng để tao khiến mày tàn tật suốt đời! – Reginald nghiến chặt hàm răng.

– Tao đã thành ma cà rồng giống mày, tao sẽ hồi phục lại nhanh thôi. Cùng lắm là gãy vài cái xương chứ gì, Alexander!

Reginald không thể giữ bình tĩnh nổi. Anh túm lấy tứ chi Mich như người ta túm một con lợn, kéo lê lên tầng trên.

– Con bé đi cùng mày tên là Olivia hả? Đáng yêu đấy. – Mich cười đê tiện. – Nếu không phải vì gã cảnh sát tới, có lẽ bọn tao đã được vui vẻ một chút rồi.

– Câm ngay! – Reginald đập đầu hắn vào tường.

– Đau quá, Alexander! Tao không nghĩ Olivia của mày còn ở đó đâu.

Reginald chợt sững người, vội vã chạy lên trên cầu thang. Anh trở lại phòng khách và nhận ra Olvia đang đứng im trong bất lực, đằng sau cô bé là đồng bọn của Mich.

– Tao đã nói rồi mà. – Mich lại phá lên cười.

– Tyson, thả con bé ra! – Reginald ra lệnh cho kẻ đang bịt miệng Olivia.

– Nhìn xem mày đang làm gì Mich đi đã. Hay là thế này nhé, Alexander: chúng ta trao đổi con tin? Mày trả bạn tao, tao trả mày con búp bê nhỏ này?

Tyson kêu lên khi Olivia cắn vào tay hắn. Hắn bóp vào hàm cô bé.

– Reginald! Một mình ngài đánh lại hai tên đó như thế nào đây? – Olivia hét lên.

– Olivia, ta không muốn chúng làm gì ngươi. – Reginald lo lắng.

– Tôi sẽ tự thoát được, giết hắn đi! – Olivia giãy giụa trong vô ích. Tyson rất khỏe, không đời nào hắn lại thả con tin có sức uy hiếp Reginald hữu hiệu như thế này.

Reginald không có gì trong tay ngoài một tên ma cà rồng lắm mồm đáng ghét. Anh nhìn hắn rồi nhìn Olivia, hai vai run lên bần bật vì giận dữ.

– Mày mà giết Mich, tao sẽ cho con bé này cạn máu ngay lập tức! – Tyson bóp cổ Olivia.

– Reginald! – Olivia rít lên.

– Nhóc! Đừng gào tên ta nữa! – Reginald gắt. Anh lo cho tính mạng của Olivia, nhưng tiếng hét của con bé chỉ càng gây rối bời thêm.

– Nào nào oắt con, để Alexander tự quyết định chứ. – Tyson bóp lấy má Olivia và cười nhả nhớt, cố ý thách thức Reginald. – Làm gì đây, Alexander?

Reginald lúc này đang đứng giữa hai gã ma cà rồng và hai lựa chọn. Anh biết một mình mình không đủ mạnh, cơ hội tiêu diệt một tên thì đang ở ngay trong tay. Nhưng còn Olivia thì sao?

– Nhanh nào, Alexander! – Tyson hối thúc.

Olivia lần tìm hai ngón út của Tyson, luồn tay mình vào trong, bẻ mạnh. Tyson đột ngột thả tay ra theo phản xạ. Tiện đà, Olivia đá ngược vào giữa đáy quần Tyson. Cô bé trượt về phía gầm bàn túm lấy chiếc ô của Reginald, chĩa vào Tyson.

– Giỏi lắm nhóc! – Reginald reo lên mừng rỡ.

– Tôi bảo với ngài là tôi tự thoát được mà! – Olivia cười nhăn nhở. – Giờ ngài chỉ tôi cách mở cái ô này chứ?

Olivia loay hoay nhưng không thể rút được phần lưỡi kiếm bên trong. Nhân cơ hội Reginald và đứa con gái bị phân tâm, Tyson sút vào mặt Reginald. Reginald ngã xuống, Mich cùng Tyson vội tháo chạy ra ngoài.

– Ta cần biết ai đã… – Reginald nhặt cái ô lên, rút cán ra.

Nhìn Reginald tức tốc đuổi sau hai kẻ đã tấn công mình, Olivia ngơ ngác. Nghĩ mình nên giúp đỡ gì đó còn hơn là ở lại đây, cô bé vội chạy theo anh. Trời sẩm tối, hai tên ma cà rồng kéo nhau chạy thoát thân khỏi một đứa con gái và một ma cà rồng khác. Chúng bị mất đà, ngã lăn theo con dốc.

* * *

Tỉnh dậy sau giấc ngủ ngắn, Joseph rót một cốc nước nhấp cho đỡ khô miệng. Ông vẫn thấy mệt, nhưng vì đã quen với thời gian làm việc thất thường nên cũng chẳng thể nằm được lâu. Nhân lúc con mình không để ý, cảnh sát trưởng ra ngồi trước vườn hoa nhỏ xinh cùng chiếc điếu, muốn hút một chút cho bớt uể oải.

“Olivia bị ép bán dâm ở Paris? Con bé còn nhỏ quá!” – Joseph nhớ về vết sẹo trên cổ tay của Olivia, ống điếu lọc xọc nước.

– Có con bé người Pháp nào ở đây không? – Hai tên một béo, một gầy, hất hàm hỏi Joseph.

“Chúng tìm Olivia?”

Cảnh sát trưởng chau mày lại trước thứ tiếng Anh lơ lớ nặng nề khẩu âm Pháp ấy. Nnén cơn giận lại, Joseph chậm rãi nhả khói và nhìn chúng, cười xòa:

– Các quý ông, bình tĩnh nào.

Thứ mùi kinh khủng bốc ra, vừa khét lại vừa hắc, hôi nồng nặc tới chảy nước mắt.

– Thằng đần này! Bọn tao không có thời gian. – Tên béo túm lấy cổ áo Joseph.

– Không có thì đi luôn cho khuất mắt người khác! – Cảnh sát trưởng nói, thái độ khinh thường.

– Thằng *** mày muốn chết hả! – Gã gầy đấm vào người Joseph.

– Lỗi tại tôi!

Toàn bộ chỗ nước trong điếu, theo cái nảy của Joseph, văng hết vào người hai kẻ lỗ mãng. Chúng kêu ầm ĩ lên, định xông vào đánh ông cảnh sát trưởng.

– *** con mẹ thằng này! Mày đổ cái gì vào bọn tao vậy? Tởm quá!

“Chạy mau! Alexander mà bắt được sẽ đâm chết chúng ta mất!” – Nghe có tiếng nói thất thanh, cảnh sát trưởng giật mình.

Thấy Joseph, Reginald vội lắp lại ô.

Cả Joseph, hai tên buôn người đều nhìn về phía tay trái, nơi đang diễn ra “trò chơi đuổi bắt” kỳ cục, quên mất chuyện đang cần giải quyết.

– Có phải là… – Tên béo kéo áo gã gầy, chỉ về phía Olivia và Mich.

– Chúng ta nên chuồn nốt! – Tên gầy vội vã lôi đồng bọn đi.

Joseph mặc kệ cho chúng bỏ chạy. Chờ Reginald tới nơi, ông mới đưa tay ra ngăn hàng xóm.

– Tôi không quan tâm chuyện gì đã xảy ra giữa mấy người, nhưng hãy cân nhắc. Chúng gây thương tích cho ngài nhưng mọi chuyện sẽ phức tạp hơn nếu ngài cũng là kẻ gây ra thương tích đấy.

– Xin lỗi vì đã làm mất trật tự. – Reginald bất đắc dĩ đứng lại. Cơn giận lúc này đang sôi sục, hối thúc anh phải bắt được Mich và Tyson để truy hỏi kẻ đã ra lệnh cho chúng; nhưng, Reginald cũng không muốn gặp rắc rối nào với tay cảnh sát.

– Tốt lắm. Những việc như thế này cứ để tôi và đồn cảnh sát lo thì hơn. – Joseph gật đầu. – Hai người nên nghỉ đi.

“Alexander hả?” – Joseph nhìn theo Reginald khi anh ta bỏ về, tự hỏi tại sao một người lại cầm theo chiếc ô cho thêm vướng víu trong lúc đuổi nhau.

* * *

Olivia và Reginald trở về tòa lâu đài, ngồi thần mặt ở phòng khách mà trút tiếng thở dài đầy mệt mỏi. Reginald gợi ý cả hai hãy cùng uống trà. Anh cảm thấy cần phải nói với Olivia điều mình vẫn giữ kín bấy lâu nay, hy vọng con bé sẽ mủi lòng một chút. Biết đâu, sau khi đã hiểu thêm về nhau hơn, cả hai sẽ có thêm sự đồng cảm, dù chỉ là rất mong manh và hời hợt.

– Olivia. – Reginald lên tiếng.

– Gì vậy?

Tiếng gọi của Reginald làm cô bé thấy lạ. Chưa bao giờ ngài ấy là người mở lời trước cả.

– Ngươi còn muốn đi nữa không? Sau những gì đã xảy ra, ta…

– Thật lòng thì, không. – Olivia lắc đầu.

– Ngươi là một đứa trẻ đáng thương, Olivia. Ngươi xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn.

– Không sao đâu! – Olivia mỉm cười và đặt tay lên vai Reginald. Đôi mắt linh hoạt thường ngày của con bé lúc này phảng phất một nỗi buồn khó nói ra. Olivia không muốn kể thêm về cuộc sống của mình trước đó thêm chút nào nữa. Sực nhớ ra cái tên Alexander, nhóc nhanh chóng chuyển chủ đề:

– Hai tên kia là ai vậy? Sao chúng cứ nhắc tới cái Alexander thế? Tôi không hiểu tiếng Anh lắm, chỉ nghe được từng đó thôi.

– Alexander là ta.

– Alexander? – Olivia cảm thấy khó hiểu. – Ngài có bao nhiêu cái tên vậy?

– Chỉ có một thôi. – Reginald xoa đầu cô bé. – Tên đầy đủ của ta là Reginald Alexander Arthur Donovan Dracula.

Olivia chìa từng ngón tay một ra đếm theo số tên Reginald nói, thấy muốn đứt hơi theo.

– Dài thế! – Olivia thốt lên.

– Ta muốn giấu thân phận và tên thật của mình với những người xa lạ, ngươi biết đấy. Mà nói mới nhớ, tại sao ta lại tiết lộ với ngươi nhỉ? – Reginald nói nhanh. Anh không mong Olivia sẽ hiểu được những chuyện riêng của mình.

– Tại sao chúng muốn cắn ngài? – Olivia băn khoăn, xoay qua lại viên đường nhỏ trước khi bỏ vào chén trà.

– Có lẽ vì chúng muốn trở thành ma cà rồng bất tử giống ta? – Reginald rót thêm trà vào chén. – Máu của ma cà rồng bất tử có thể khiến những ma cà rồng bình thường cũng trở thành bất tử.

Olivia suýt chút nữa thì làm rơi cái chén trên tay. Sau lần bị bắt cóc bởi John-Michael, cô bé vẫn chưa hiểu được lý do tại sao hắn lại đem mình đi, cho rằng hắn chỉ đơn thuần là một con quỷ thích hút máu trẻ em và phụ nữ. Nhưng giờ Reginald đã tiết lộ điều đặc biệt về mình, có khi nào anh ta mới chính là mục tiêu mà chúng nhắm tới? Reginald là người có vẻ ngoài hiền lành và ngại giao tiếp, nhưng trở nên rất đáng sợ mỗi khi tức giận. Liệu lũ ma cà rồng đó biết không thể hạ gục ngài ấy trực tiếp nên mới dùng cô bé như con tin? Nếu như vậy, Olivia cũng không biết nên thấy mừng hay lo, vì chẳng phải những phản ứng của Reginald đã chứng minh cho cô bé thấy rằng anh ta thật sự quan tâm tới cô bé, đằng sau những lời nói dối, hành động tảng lờ và cái nhìn trống rỗng ấy?

Olivia nhớ lại lần đầu tiên gặp người đàn ông này, nhớ lại thái độ của những tên mà cà rồng trẻ và cả những hành động, phản ứng của Reginald: cố tìm cách giấu nhẹm mọi thứ về bản thân, mất hết bình tĩnh khi gặp những kẻ khả nghi, chỉ mong tìm được một chỗ ẩn nấp… sao mà thật quen thuộc. Có phải không chỉ cô bé, mà Reginald cũng có những bí mật đen tối của riêng mình mà ngài ấy không muốn ai được biết?

– Reginald, tôi không có ý gì đâu… – Olivia uống một ngụm hết sạch tách trà. – Ngài cũng đang chạy trốn?

– …Đúng vậy. Ta sợ bị truy đuổi rồi bị giết bởi chính đồng loại. – Reginald cười nhạt. – Chắc ngươi nghĩ ta hèn lắm.

– Tôi cũng chạy trốn… Tôi không nghĩ ngài hay tôi hèn, chỉ là không đủ khả năng… Mà này, chúng ta là một đội diệt ma cà rồng ăn ý đấy chứ. Chúng ta nên giúp nhau đi!

Reginald nhìn gương mặt vô tư của Olivia và niềm hy vọng ánh lên trong đôi mắt trong veo của nó, cảm thấy ngại ngùng. Một tên ma cà rồng chỉ giỏi chạy trốn và ẩn nấp với một đứa nhóc chưa chắc đã rụng hết răng sữa, điều gì khiến con bé tin vào sức mạnh đồng đội giữa hai người đến vậy? Những câu nói ngớ ngẩn của Olivia luôn khiến gã bực mình, nhưng chính sự ngô nghê đó cũng giúp Reginald có được những giây phút thả lỏng ít ỏi, để rồi thấy quý mến nó hơn.

– Ngươi tự tin thái quá đấy nhóc. – Reginald ẩn vào đầu Olivia.

– Tôi chỉ muốn làm người có ích thôi mà! – Olivia nhăn nhó, làm má mình phồng lên.

Reginald xếp đống ấm chén lại vào khay. Anh nhìn Olivia, thở dài:

– Nghe này, nếu ngươi ở đây, ta không thể đảm bảo được sự an toàn cho…

– Ở ngoài đó cũng đâu khá hơn. Ít nhất khi ở cạnh nhau, chúng ta cũng có nhau làm bạn. – Olivia cắt ngang lời Reginald. – Ngài cho tôi ăn và một nơi ấm áp để ngủ mà không hề đòi hỏi hay… Với tôi như vậy là tuyệt rồi.

– … Nhưng ta sẽ cố hết sức. Vì vậy, cứ làm theo những gì ngươi cảm thấy là đúng và tốt nhất cho mình.

– Ý ngài là tôi có thể ở lại đây và sống với ngài? – Olivia mừng rỡ.

– Đúng vậy. – Reginald gật đầu.

– … như vợ chồng?

– Không! – Reginald giơ tay lên dọa, chút nữa thì đấm vào đầu Olivia vì tội nói lung tung.

– Cảm ơn, Reginald! – Cô bé ôm lấy vai anh. – Tôi đùa với ngài ấy mà!

– Được rồi nhóc, bỏ ra đi… – Reginald lúng túng vì sự tiếp xúc đột ngột. – Nghe này, nếu ở đây, chúng ta phải tuân thủ một số “Luật ngầm của Reginald”.

– Được, ngài cứ nói. – Olivia gật đầu.

– Thứ nhất, ta ghét động chạm.

– Rồi… – Olivia thả tay ra.

– Thứ hai, mỗi người có một thế giới riêng. Của ngươi là ban ngày, còn ta là ban đêm. Không ai được can thiệp vào cuộc sống của nhau, hiểu chứ?

– Rất rõ!

– Thứ ba, đừng bao giờ bày bừa, ta ghét nhất là sự bừa bộn. Chỉ cần thấy một con kiến, gián hay chuột nào dạo chơi quanh đây, ta sẽ dọn ngươi cùng đống rác ra ngoài ngay lập tức.

– Cái đó… – Olivia hơi bối rối. Cô bé biết mình là người bừa bộn và thật sự rất ghét làm việc nhà.

– Cuối cùng, đây là nước Anh. Vì vậy ta khuyên ngươi nên bắt đầu học tiếng Anh đi. Ta sẽ dạy ngươi.

– Đồng ý! – Olivia hào hứng.

* * *

Tối hôm ấy, đồn cảnh sát của Forest Hill ồn ã vì những lời quát tháo qua lại. Cảnh sát trưởng và cấp dưới của ông tranh cãi liệu rằng có nên hay không đăng thông báo mất tích người.

* * *

– Một lũ ăn hại! Dẹp ngay thứ mùi ghê tởm này đi!

Hai tên buôn người cùng hai gã ma cà rồng co rúm lại trước một người phụ nữ tóc vàng đang lên cơn giận dữ. Lấy tay bịt mũi, ả quát tháo:

– Ta chỉ có một yêu cầu rất đơn giản cho các ngươi: Hai tên ma cà rồng bắt một ma cà rồng, hai kẻ người thường bắt một con bé người thường, rồi mang chúng về cho ta. Như thế, ta hỏi các ngươi, có quá đáng lắm hay không?

– Dạ, không! Tất nhiên không! – Chúng hoảng hốt.

– Vậy tại sao các ngươi phải chạy trốn? Nếu người của ta không bắt các ngươi lại, có phải các ngươi đã chuồn êm cùng nửa số tiền ta giao trước?

– Chúng tôi không dám, chỉ là Alexander hung hãn quá! – Mich kêu lên.

– Vâng! Cả con bé đó cũng kinh khủng không kém! – Tyson nối lời.

– Nó còn đánh cả chúng tôi nữa, thưa cô! – Tên gầy thấy vậy thì chen miệng. – Nó đúng là đứa côn đồ!

Ả tóc vàng đưa mắt nhìn những tên dối trá mà mình đã thuê. Khi mới gặp ả, chúng khoác lác về việc hiểu rõ Reginald và Olivia như thế nào, chúng sẽ thực hiện kế hoạch mang hai người đó về cho ả. Nhưng kết quả thì… Thật nhục nhã! Ả cũng chẳng hề tin tưởng đám người này, toàn một lũ ba hoa và hèn hạ không hơn không kém. Nhưng ngoài mấy tay đó ra, chẳng còn ai biết về Olivia hay Reginald để có thể thay ả làm việc bẩn thỉu cả.

– IM HẾT CHO TA! – Ả quát, át cả tiếng bọn chúng. – Mich, Tyson! Ít ra thì các ngươi lấy được máu Reginald rồi chứ?

– Vâng. Máu của hắn rất ngon và lạ. Cô đúng là người có khẩu vị tinh tế! Tôi cảm thấy ngập tràn sinh lực như người lính thời sung mãn nhất vậy, tuy rằng, tuy rằng… – Mich dẻo miệng. – Dù sao niệm vụ chúng tôi đã hoàn thành một nửa rồi. Quý cô làm ơn giảm nhẹ hình phạt được không?

– Tốt lắm. – Ả mỉm cười. – Hai thằng người, ta không có nhã hứng, nhất là với thứ mùi kinh tởm đấy. Để làm món ăn vặt cho người của ta vậy.

– Đừng, thưa cô! Chúng tôi… – Tên béo chưa kịp dứt lời, lũ tay chân của ả tóc vàng đã xông tới xé toang cổ họng bọn buôn người.

Mich và Tyson chứng kiến tận mắt lũ ma cà rồng tay sai bu vào rút cạn tới giọt máu cuối cùng của hai tên người phàm. Mich sợ đến mức tiểu cả ra quần, lo rằng số phận của bản thân rồi sẽ bị trừng phạt tương tự.

– Còn hai ngươi… – Ả nhìn lũ ma cà rồng. – Ta chưa xử lý vội…

– Ôi, tạ ơn quý cô! – Mich và Tyson thở phào.

– Các ngươi muốn biết tại sao ta phải lấy máu Reginald qua kẻ trung gian là các ngươi không?

Ả đàn bà quay lưng lại và hất mái tóc vàng óng ả của mình. Cô ta bước vài bước ngắn, sau đó dừng lại hẳn.

– Vì đối phó với các ngươi dễ dàng hơn nhiều so với một ma cà rồng mạnh như Reginald… Nay các ngươi đã là ma cà rồng bất tử, ta chỉ việc lấy máu của các ngươi thay vì có nguy cơ chết dưới tay anh ấy.

Giờ thì Tyson cũng tiểu nốt ra quần vì quá sợ hãi. Cả hai tên ấy nhận ra chúng đã bị lừa gạt và lợi dụng ngay từ đầu. Lúc này, số tiền thưởng ả tóc vàng hứa trả cho Mich cũng không quan trọng bằng việc được rời khỏi đây lành lặn và toàn mạng.

– Con bé đó, ta căm ghét nó! Nếu không phải vì cần thiết, ta giết quách rồi! Còn về Reginald, ta chỉ không hiểu…

“Con mụ này điên thật rồi!” – Mich và Tyson nhìn nhau.

– Ta không giỏi thôi miên như Reginald, sức lực cũng thua xa. Nhưng ta biết một người có thể làm được điều đó cho ta.

– Alexander không phải là kẻ mạnh nhất sao? – Tyson thắc mắc.

– Tất nhiên là không! Còn một ma cà rồng trẻ hơn, khát máu hơn, đê tiện hơn và trên tất cả, mạnh hơn. Tên của anh ta ngoài những người như ta và Reginald, không một ai dám nhắc tới: con quỷ Mamo.

Nhìn ánh mắt lẳng lơ đầy nhục dục của người đàn bà lật lọng có giọng nói đưa đẩy, Mich và Tyson nuốt khan, lờ mờ tưởng tượng ra người mà ả tóc vàng nói tới. Và nếu một kẻ như Reginald còn thua kém, vậy tên “Mamo” này, mức độ tàn bạo và man rợ của hắn còn tới đâu?

* * *

“Joseph rốt cuộc là người như thế nào?” – Reginald nghĩ như vậy trong lúc đem khay trà đi rửa. – “Và ai là người đã hồi sinh cho Mich và Tyson, khiến chúng trở thành ma cà rồng tay sai?”

– Reginald, tôi đi ngủ trước đây. – Olivia nói vọng ra khi cô bé đứng ở cầu thang.

– Ngủ ngon, Olivia.

Reginald đi xuống dưới tầng hầm để dọn dẹp lại bãi chiến trường hồi chiều, hồi tưởng về sự tái ngộ của những người bạn cùng chiến tuyến sau khi Olivia rời đi. Nếu không được tiếp máu, chắc chắn anh ta không thể đủ sức đánh lại chúng và đứng đây vào lúc này. Reginald vẫn còn cảm nhận được chút dư vị sót lại khi tỉnh dậy: nó khá giống máu người nhưng anh không dám chắc đó là máu của Joseph hay ai. Ông cảnh sát ấy lúc nào cũng sực nức mùi khói thuốc.

Reginald đứng như người mất hồn bên cánh cửa, chợt có tiếng gõ làm gã giật mình. Olivia mới rời đi chưa đầy một tiếng mà gã đã bắt đầu cảm thấy nhớ. Trong một thoáng suy không sáng suốt, Reginald đã nghĩ và hy vọng rằng đó là con bé quay trở về.

– Ngươi… – Reginald vội vã mở cửa, định sẽ mắng Olivia vài câu để hù dọa và trêu đùa.

– Ngạc nhiên không, Alexander! – Trái với kỳ vọng của Reginald, trước mắt anh ta là hai người đàn ông to cao, khoảng hơn ba mươi tuổi. Họ reo lên đầy mừng rỡ như thể là những người anh em lâu ngày chưa được gặp lại của nhau.

– … Hai người là?

Reginald đứng ngây ra, không biết nên nói hay hành động ra sao cho đúng. Gã đã sống quá lâu và gặp quá nhiều người. Những kẻ này, hình như gã từng thấy ở đâu đó rồi thì phải, nhưng không thể nào nhớ ra. Cái tên “Alexander” phần nào giúp loại đi những giai đoạn mà gã không sử dụng nó.

– Là Tyson và Mich đây!

Reginald chau mày, vẫn chưa mường tượng ra được chút gì cụ thể hơn.

“Tyson và Mich? Đúng là mình có nghe đâu đó…”

– Sao cứ nhìn bọn tôi như vậy? Thật là bất lịch sự! Mời chúng tôi vào nhà và tiếp trà đi chứ! – Mich nhanh nhảu.

– Thôi được. Vào đi. – Reginald ái ngại.

Reginald ngồi đối diện hai vị khách không mời, mối băn khoăn và nghi ngờ cứ lớn dần lên trong lòng. Anh vốn được ban cho gương mặt lãnh đạm và có phần “khinh người” nên càng trông kém hiếu khách và thân thiện hơn.

– Alexander, anh thật sự không còn nhớ gì về bọn tôi sao? – Mich bỏ vài viên đường vào tách trà. – Có lẽ chuyến khai phá Algérie4 sẽ làm anh nhớ ra.

Algérie có gợi cho Reginald nhiều thứ, hầu hết là những kỷ niệm chẳng đẹp đẽ gì.

– Có phải các cậu thuộc nhóm lính Lê dương người Anh còn lại?

– Đúng rồi! – Tyson kêu lên. – Trí nhớ cậu tệ quá, ông già!

4

Giai đoạn Pháp cho lính Lê dương sang chinh phục và biến Algérie thành thuộc địa (1830 – 1847).

Hai chữ “ông già” của Tyson như có ma thuật. Reginald giật mình. Hàng loạt sự kiện ùa về trong trí nhớ Reginald, gã không thể tin mình lại bỏ qua một chi tiết quan trọng đến thế.

– Đợi đã! Chẳng phải các cậu đã chết vì sốt thương hàn?

Tyson và Mich đứng bật dậy. Cả hai tiến về phía Reginald.

– Từ đó tới giờ cũng hơn sáu mươi năm rồi. Nếu hai người trông không khác mấy so với hồi đó…

– Đúng đó, Alexander! Bọn tao đã trở thành ma cà rồng. – Mich cười nham hiểm. – Và bọn tao cũng đã biết chuyện mày là ma cà rồng bất tử.

“Chết tiệt!” – Reginald rủa thầm, nhận ra chiếc ô hiện tại không ở cạnh mình, mà là dưới gầm bàn, gần chân của Tyson. Gã không thể nào kịp bò tới đó nhặt nó lên được!

– Bọn tao tới đây để lấy máu mày, Alexander. Còn lời trăn trối nào không? – Tyson xô ngã Reginald, vừa nói hắn vừa giữ chặt hai tay anh lại.

– Chỉ một câu hỏi thôi: Ai là kẻ có thể ra lệnh cho chúng mày? – Reginald nhìn vào mắt Mich.

– Mày là đứa thông minh và nhiều mưu mẹo, Alexander. Bọn tao cá mày sẽ tìm ra thôi… – Tyson cười ha hả. – Chỉ là, mày còn sống đến lúc đó hay không.

– Gợi ý nhé, một con tóc vàng… – Mich và Tyson chỉ nói như vậy. Chúng túm lấy tay và chân Reginald, ghì chặt anh xuống.

Cuộc trò chuyện và hoài niệm chóng vánh, những bí mật không muốn chia sẻ cho ai… Đó là tất cả những gì Reginald còn nhớ và nhận thức được trước khi máu từ cổ anh chảy ra xối xả, rồi bất tỉnh hoàn toàn.

Nghĩ về Olivia, Reginald bất giác mỉm cười. Gã biết Olivia cũng có tình cảm tương tự dành cho mình; nhưng điều gã không ngờ, là con bé đã muốn ở lại, chỉ vì mặc cảm mà quyết định rời đi. Chẳng phải đây chính là cơ hội thứ hai để Reginlad có thể chăm sóc Olivia như đã mong muốn, để thực hiện lời hứa của mình? Thật tuyệt khi có Olivia, nhưng cũng thật nguy hiểm cho cả hai. Reginald muốn bảo vệ đứa trẻ ấy, nhưng gã lo sợ cho chính bản thân mình vẫn đang bị đánh lừa bởi cảm xúc cùng những mong muốn cá nhân.

Và phải rồi, cả cái áo khoác thêu chữ “van Schoolderwalt” đó nữa.

* * *

“Reginald có thể tốt với mình lúc đầu, ai chẳng như vậy. Một thời gian sau nữa thì sẽ ra sao? Tất cả bọn họ đều thay đổi, hoặc bỏ rơi mình. Mình không muốn bị bỏ rơi.”

Olivia ngồi trên giường, lưng tựa vào tường, lại cấu những chiếc móng tay nham nhở chưa kịp lành ra.

“Không! Mày đã lớn hơn rồi, mày có thể tự lo cho mình được. Nếu có chuyện gì xảy ra, mày phải giải quyết. Không được sợ hãi, Olivia!”

– – – – – – HẾT PHẦN 8 – – – – – –


"Phần 9. Forest Hill" bởi iamDage
Vẫn là một buổi sáng le lói ánh bình minh ở thị trấn Forest Hill như bao ngày khác. Ánh mặt trời yếu ớt đi từ từ lên tới đỉnh đồi, không đủ để chiếu sáng toàn bộ dân cư được bao phủ bởi một khu rừng xanh rì dày đặc cây thông và sồi. Tại đây, sương mù thường xuyên bủa vây, cùng những đợt gió lớn chốc chốc lại làm lay động những hàng cây yên ắng, đem tới cho mảnh đất ngoại ô vùng Tây-nam London này bầu không khí lạnh lẽo lạ thường.

Như thường lệ, mọi người thức dậy từ sớm để chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Họ mặc lên bộ đồng phục, chuẩn bị bữa sáng cho gia đình, không quên hôn lên trán những đứa con trước khi đi làm. Từng cánh cửa của mỗi ngôi nhà được mở ra; người già, người lớn cho đến trẻ em đều mỉm cười hoặc chào hỏi nhau, chào hỏi cảnh sát trưởng nếu họ gặp ông, như một phép lịch sự bình thường. Cảnh sát trưởng luôn là người dậy sớm hơn tất cả và trở về nhà sau cùng.

– Buổi sáng tốt lành, Olivia. – Joseph vẫy tay, mỉm cười với cô bé đang đi từ phía con đồi nhỏ xuống thị trấn.

– Good morning, shérif.1 – Olivia cười lại với ông.

– Ồ! Xem ai đang nói tiếng Anh kìa. – Cảnh sát trưởng thốt lên đầy ngạc nhiên.

– Cháu mới học được một chút thôi. – Olivia bẽn lẽn trả lời. – Phải đi học đây ạ.

1

Sheriff là tiếng Anh, còn Shérif là tiếng Pháp.
Viết như vậy với mục đích chỉ ra rằng cách phát âm tiếng Anh của Olivia vẫn nặng nề tính “Pháp”.

Cảnh sát trưởng nói lời tạm biệt, tiếp tục con đường đi tới đồn. Sau vài lần tiếp xúc ông thấy Olivia cũng chỉ là một đứa trẻ bình thường. Ngoài việc mau nước mắt và dễ hoảng hốt ra, không cần bận tâm quá nhiều về nhóc. Kẻ mà ông tò mò là “bố” nó – Reginald, anh bạn trẻ bí ẩn luôn tỏ ra xa lánh mọi người và chẳng bao giờ rời khỏi nhà vào mỗi sáng.

Olivia đi tới trường học của thị trấn, nơi con bé được dạy chữ – điều mà nó đã biết từ lâu – và một vài thứ khác mà chỉ nghe cái tên thôi, nó đã cảm thấy đầu mình nặng trĩu muốn gục xuống bàn. Ánh nhìn hiếu kỳ không mấy thiện cảm từ những học sinh nét mặt mờ mờ hao hao nhau trao cho Olivia làm con bé nuốt khan. Không khí xung quanh đây còn đáng sợ và bức bách hơn cả trong lâu đài của Reginald.

– Xin chào các quý cô và các quý cậu. Hôm nay, trước khi buổi học bắt đầu, tôi muốn giới thiệu cho các cô một thành viên mới đến từ nước Pháp… – Bà giáo già cất giọng cao kiểu cách, kéo một cô bé rụt rè đứng trong góc lớp ra. – Hãy chào mừng Olivia van Schoolderwalt.

“Eo! Nhìn nó kìa!”

“Tớ gặp nhiều người Pháp rồi, họ chẳng giống nó chút nào đâu! Có chắc nó là người Pháp thật không?”

Những tiếng bàn tán xôn xao trong lớp lọt vào tai Olivia. Có câu con bé hiếu được, có câu thì không.

– Thưa cô McAngus, chúng ta nên nhắc cho học sinh mới quy định về trang phục và đầu tóc chứ? – Một đứa con gái tóc màu vàng đất giơ tay. Nó trông cũng xinh nếu đánh giá từ quan điểm thông thường của người lớn đối với những thiếu nữ thành thị sành điệu. Tuy nhiên, nó đang ở ngoại ô.

– Đúng vậy. Cảm ơn Catherine. – Bà McAngus nhìn Olivia. – Cô van Schoolderwalt, trường học là một nơi đòi hỏi rất cao về tính kỷ luật, tự giác và tập thể. Ở đây, chúng tôi yêu cầu mọi cô gái và chàng trai phải cư xử đúng mực, bắt đầu từ việc ăn mặc chỉnh tề và để tóc gọn gàng.

Olivia trông khắp căn phòng: tất cả đều mặc những bộ trang phục na ná nhau, để giống nhau, thậm chí tư thế ngồi hai chân song song — tay trái vuông góc với tay phải, đặt giữa mặt bàn — cũng giống nhau một cách quá chính xác. Thật sởn gai ốc! Cái thứ quy tắc này còn gò bó hơn cả những điều Reginald đặt ra!

– Van Schoolderwalt, sao còn chưa vén tóc lên? – Lũ con gái cười cợt.

Olivia miễn cưỡng cầm lấy chiếc dây chun từ tay bà McAngus. Cô bé bặm chặt môi, túm mái tóc xoăn lên.

– Mau! – Catherine giục giã.

“Ối! Quái vật!”

Lũ con gái hét toáng, và đám con trai bụm miệng cười. Trước mặt chúng bây giờ không phải là một con bé người Pháp mắt xanh lam, gầy còm và lùn tịt nữa; mà là một đứa mắt lác, sống mũi lấm tấm đốm tàn nhang, gầy còm và lùn tịt. Olivia nín thở, nghiến chặt lấy móng tay, cố gắng không để nỗi mặc cảm bùng nổ vào lúc này. Chuyện mắt lác là một trong những bí mật nho nhỏ mà nó đã muốn giấu khỏi mọi người bằng mái tóc lòa xòa. Giờ thì bí mật đã được bật mí, dựa vào thái độ mà đám nữ sinh giành cho mình, con bé biết từ giờ trở đi nó sẽ được hưởng một chuỗi những ngày tháng vô cùng tồi tệ ở cái nơi mà người ta vẫn tin tưởng gửi con cái tới để được giáo dục này.

“Xấu xí thảm hại!” – Olivia nghe thấy Catherine thì thầm điều này với đứa con gái ngồi cạnh, cố tình để Olivia nghe thấy. Hành động ấy không được “quý cô” cho lắm.

“Xấu đau xấu đớn!” – Và những tiếng cười lầm rầm lại vang lên.

* * *

Cảnh sát trưởng đẩy cánh cửa đồn, bật công tắc điện và đặt tấm thẻ tên của mình lên bảng phân công. Ông sắp xếp lại bàn một chút trước khi ngồi xuống, lấy từ ngăn kéo ra cuốn sổ theo dõi. Đưa mắt liếc nhanh qua cột của những ngày trong tháng Mười, ông điền tiếp vào các ô trống:

“Tháng Mười, 12, 1906 – Số lượng truy nã: 00 – Số lượng mất tích: 01 – Đối tượng: Allan Harrison – Tình trạng: chưa tìm thấy(…)”

Joseph tạm ngừng bút, lấy ra một điếu thuốc lá. Khẽ hít một hơi, cảnh sát trưởng chép miệng vài cái với vị chát nơi đầu lưỡi. Thuốc lá là người bạn gần như không thể tách rời với ông. Nó xoa dịu ông khi ông căng thẳng, nó rũ sạch ông khỏi cơn buồn ngủ và giúp ông tạm thời quên mất sự hiện diện của nỗi cô đơn khi đi tuần một mình trong đêm vắng. Forest Hill có vẻ là một nơi bình lặng và yên ắng, nhưng không phải vì thế mà các cảnh sát viên được thảnh thơi. Thỉnh thoảng vẫn có những tên nghiện hút, say xỉn hoặc trộm cắp lai vãng nơi đây; tuy nhiên, số lượng của chúng cũng chẳng đáng lo ngại là bao. Giờ, sự mất tích khó hiểu của chàng cảnh sát bán thời gian Allan báo hiệu cho cảnh sát trưởng biết: một Forest Hill an toàn và yên bình (mà ai cũng muốn) chỉ là mong ước xa vời.

* * *

Những lúc rảnh rỗi hoặc cảm thấy bế tắc, hay buồn tẻ; tôi lại làm một điếu thuốc, đi dạo vòng quanh khu rừng trên núi và vùng lòng chảo bên kia. Giờ này, trẻ em nhỏ ở nhà chơi cùng người già và mẹ, trẻ em lớn hơn thì đến trường, người ở thung lũng vẫn chăm sóc cho đàn bỏ trong trang trại, cảnh sát vẫn ngồi hút thuốc ở đồn để giết chết sự nhàm chán… Mọi thứ ở Forest Hill cứ đơn giản như vậy, kéo dài từ ngày này qua ngày khác. Ngắm nhìn những cuộc sống bình dị ở đây là một trong những thú vui nho nhỏ của tôi, chia sẻ thật lòng đó.

* * *

Kết thúc buổi học, Olivia giật đứt sợi dây đang thít chặt lấy cái cục bù xù trên đầu, bới tung mái tóc. Tờ giấy báo cáo mất tích của cảnh sát treo ở quảng trường thu hút sự chú ý của nhóc. Nhóc nhìn vào, giật mình vì nội dung. Con bé đang rất bực, chỉ muốn về càng nhanh càng tốt. Nó muốn xông vào phòng mà hành hạ những cái gối, và nó cũng cần phải về nói với Reginald về tờ báo cáo.

– Ối!

Olivia va phải một người phía trước, mạnh đến nỗi người con bé bị bật ngược ra sau.

– Đi cẩn thận chứ. Cháu có sao không? – Một giọng nói trầm và nhẹ nhàng, hơi khàn, có vẻ là của người cao tuổi. Người đàn ông phủi lại quần áo, đặt bàn tay lên đầu Olivia.

Đứa trẻ vụng về ấy ngước lên, ông già mỉm cười với nó. Khóe miệng rộng của ông chếch lên khiến nụ cười trông rất tự nhiên và hiền lành, nhưng vóc dáng cao lênh khênh của ông đã dọa nó sợ. Con bé chạy vụt.

* * *

Jules mở khóa cửa phòng bố mình, lẻn vào trong. Cô cần làm rõ một số điều trước khi ông về nhà vào buổi tối muộn. Lục lọi khắp các ngăn kéo, tủ, túi áo quần… tất cả những gì Jules tìm được là một con số không. Rồi cô chợt nhớ ra…

Jules chạy tới cửa sổ, nơi đặt một khung ảnh đen trắng bên cạnh bình hoa cắm những nhành loa kèn heo héo. Cô kéo cửa, trèo ra ngoài lan can, nhìn về hướng bồn hoa. Có phần đất trong bồn bị hụt một góc, Jules cầm xẻng làm vườn đào chỗ đó lên. Chứng kiến tận mắt vật thể được giấu bên dưới, đứa con chỉ biết vứt xẻng đi mà khóc.

* * *

Sau sức nóng ban trưa, lớp màn sương tan đi, để lại một bầu trời quang mây rực sắc đỏ cam. Hàng triệu tia nắng len lỏi từng ngôi nhà, đổ bóng đen ra phía sau ngọn đồi rậm rạp cây xanh. Những con người đang làm việc vất vả cũng cố gắng đẩy nhanh tiến độ hơn, biết họ sắp tới lúc được trở về. Bất cứ ai có đủ kiên nhẫn chờ tới hoàng hôn đều sẽ được chứng kiếm khoảnh khắc ấy, đặc biệt rõ thấy nhất vào mùa thu.

Về tới lâu đài, Olivia thấy Reginald đã thức dậy.

– Reginald, người mất tích hai tuần nay…

Reginald nhìn lướt qua tờ giấy, chính là cậu thanh niên tên Allan mà Olivia và gã đã gặp lần trước.

– Chuyện này ta đọc báo rồi.

– Tức là ngài đã biết?

Reginald gật đầu.

– Ta rất tiếc vì chuyện của cậu Harrison. Nhưng, có thứ quan trọng hơn nhiều, Olivia.

Ánh mắt khó đăm đăm của Reginald làm Olivia thấy lo lắng theo. Đứa nhóc ngờ nghệch không hiểu được rằng, một khi cảnh sát đã bắt tay đi tìm Allan, họ sẽ điều tra ra được tất cả những gì dính líu đến cậu ta — bao gồm John-Michael, sau đó tới kẻ đã giết hắn, và cuối cùng là Olivia. Nhóc lùn ấy cũng không nằm ngoài phạm vi.

* * *

Ánh hoàng hôn cuối cùng vừa tắt, nhắc nhở đã đến lúc mọi người cần phải quay về nơi trú ẩn của họ, và cũng là lúc Forest Hill trở về với phần tối của nó. Người ta hối hả trở về, có thể vì họ mong được cùng gia đình vây quanh chiếc bàn đầy cá và súp rau, cũng có thể vì chuyện khác. Họ đóng chặt hết cửa, thắp lên vài ngọn đèn tỏa bóng sáng tròn qua tấm rèm. Sự kết hợp của tiếng đổ vỡ và tiếng cãi nhau tạo thành một thứ điệp khúc chói ta cứ chốc chốc lại vang lên quanh khu dân cư. Thật may mắn vì lâu đài của Olivia ở cách khá xa, nhóc không phải giật thót như những đứa con trong các hộ gia đình mỗi khi cha mẹ chúng cất lên bài ca bạo lực.

Olivia ăn tối một mình. Từ bãi cỏ xanh mướt của lâu đài cũ nát, phóng tầm mắt ra là đã có thể chiêm ngưỡng những mái nhà ngói nâu gạch lác đác giữa cảnh rừng mờ ảo bảng lảng sương khói phía bên dưới. Nhưng, cảnh tượng con bé không thể thấy, là những con người đang sống chung dưới bao mái nhà ấy có thể làm nhau đau đớn đến mức nào.

* * *

Khi trời đã tối hẳn, Joseph dập điếu thuốc lá. Ông thay đồ, ký sổ giao ban và ngậm vài viên kẹo chanh trước lúc trở về nhà. Nghe loáng thoáng tiếng ai quát nạt, tuyên bố hắn là chủ cái nhà và mọi thứ phải được thực hiện đúng như ý hắn ta, Joseph thở dài. Việc bán dâm và tệ nạn đường phố chưa đủ tràn lan để trở thành vấn đề đáng lo ở thị trấn này, nhưng cảnh bạo lực gia đình thì sao mà thật phổ biến. Từ những gã nát rượu đầu đất vai u thịt bắp, cho tới những người đàn ông mặc áo khoác đóng cổ cồn.

“Harrison, thằng bé đã mất tích hơn hai tuần nay mà vẫn chưa tìm thấy…” – Joseph buồn bã nghĩ thầm trong lúc bước đi, vừa đi vừa lục lại những kỷ niệm của mình về Allan — chàng trai thuộc nhóm thanh niên tình nguyện. Cảnh sát trưởng đủ tỉnh táo để hiểu chuyện gì đã xảy ra với những người bị mất tích và kết cục của họ. Những người dân xung quanh thi nhau thêu dệt nên những câu chuyện có vẻ “hoang đường” về bầy người sống về đêm, những con quái vật hóa điên mỗi khi trăng tròn… Nghe thì hoang đường, nhưng Joseph tin họ.

Có tiếng kính vỡ đinh tai. Một chai rượu bay sượt qua Joseph, may sao ông tránh được! Cảnh sát trưởng cố lờ đi những âm thanh khó chịu, hy vọng chúng sẽ nhanh chóng kết thúc. Joseph không muốn phải nghe hay phải chứng kiến những cảnh tượng xót xa ấy, ông muốn việc vợ chồng hành hạ nhau, cha mẹ hành hạ con cái hay bất cứ ai hành hạ ai, đều phải chấm dứt. Nhưng, luật pháp chẳng bảo vệ người nạn nhân, và viên cảnh sát chẳng thể làm gì hơn.

– MỞ CỬA RA! – Joseph bước tới trước ngôi nhà gần nhất, quát lớn.

Cánh cửa bật mở. Không gian bỗng trở nên yên ắng lạ thường. Đột nhiên, cảnh sát trưởng đáng kính một tay túm lấy cổ tên chồng vũ phu, tay còn lại thụi bẹp mũi hắn. Tiếng đấm và tiếng thở hồng hộc kích động một cuộc gào thét của đám đàn bà cùng con nít. Gã ấy đánh vợ vì uống rượu say. Gã say và đánh vợ mình nhưng lại không đánh trả cảnh sát trưởng, cứ nằm lì dưới đất, mặc cho hai hốc mắt mình tím đen lại và mũi vẫn ồng ộc máu. Cảm giác bị một người đàn ông giận dữ đánh là đây, giống như thứ mà vợ con hắn đã từng trải qua. Vậy nên hắn không dám chọn người ngang sức với mình? Vậy nên hắn không dám đánh nhau với những người to con như hắn?

Joseph vẩy chỗ máu trên tay, cứ thế mà đi về.

Người ở Forest Hill vốn không hay quan tâm chuyện nhà khác cũng như không thích người khác can thiệp vào chuyện nhà mình, họ coi đó là một sự sỉ nhục, một nỗi hổ thẹn khi phải nói cho ai đó biết tình trạng thảm hại của bản thân. Hơn nữa, chẳng có điều luật nào giúp người phụ nữ hay đứa trẻ lên tiếng về việc mình bị chồng hay bố đánh, giúp một cô gái tố cáo cho cảnh sát biết mình bị cưỡng hiếp và kể lại trình tự sự việc ra sao, hay việc một người già nào có thể cầu xin sự giúp đỡ nếu bị ngược đãi bởi chính lũ con cái họ đã sinh ra và nuôi nấng… Cảnh sát chẳng đủ sức ngăn chặn những mầm mống tội ác đen tối đang len lỏi trong từng ngôi nhà ở đây. Với họ, chẳng có cái gì gọi là “công lý” hay “lẽ phải”. Những nạn nhân phải cam chịu quá lâu, họ không dám lên tiếng, chỉ biết khóc và lại lặng lẽ sống qua ngày.
Không khi nào Joseph không thấy mệt mỏi với việc phải đi giải quyết vấn đề của người khác. Nhưng trong thâm tâm, ông lại thấy có lỗi nếu bỏ rơi những con người tội nghiệp kia. Tiếng khóc rầu rĩ của họ sẽ quấy nhiễu ông cả đêm dài và nhiều ngày sau đó. Nỗi buồn chất chứa lâu ngày dần chuyển sang sự chán nản và mặc cảm, làm cảnh sát trưởng trở nên phẫn nộ tới mức tàn bạo. Nếu không thể thay đổi được suy nghĩ của họ, đành phải dùng chính cái cách họ đã gây tổn thương nhau mà phủ đầu, làm gương cho một loạt kẻ khác; để rồi mọi thứ lại trở về trạng thái ban đầu. Joseph biết việc cảnh sát dùng bạo lực chỉ mang tính chất cầm chừng và ngày càng bộc lộ rõ sự bất lực của mình. Đánh người không phải là việc làm đúng, nhưng ông đánh người để bảo vệ người — những người cần ông bảo vệ, vì thế nó cần thiết.

Chẳng phải giữ gìn trật tự và bảo vệ mọi người là trách nhiệm của cảnh sát trưởng?

* * *

Joseph mở cửa nhà, bắt gặp cô con gái đáng yêu. Jules có vẻ ngồi chờ ở ghế đã lâu. Biết không thể giấu con mãi, ông cười xòa, hy vọng nó sẽ tha thứ.

– Một ngày tốt chứ, con yêu?

Jules để ý thấy bàn tay bố mình trầy xước và dính máu. Nhưng với cô, có thứ còn quan trọng hơn cần phải giải quyết.

– Một điếu buổi sáng sớm cho tỉnh táo và một điếu sau khi đi làm về để thư giãn, bố hứa với con là bố chỉ hút từng ấy thôi mà!

– Jules, con à, bố…

– Bốn mươi mẩu, nhét cố nhét vội vào trong cái chậu hoa này! – Jules lia cái chậu hoa đầy mẩu thuốc lá ra phía trước. – Chắc bố định khi nào con đi ngủ thì phi tang phải không? Bố đã phi tang bao nhiêu cái chậu như thế? Một ngày bố hút trộm con bao nhiêu điếu?

– Con phải hiểu cho bố…

– Bố đã thề trên mộ của mẹ rồi! Mẹ sẽ nghĩ gì?

Joseph định đặt tay lên vai con, nhưng Jules giằng ra. Cô bỏ lên phòng mình, khóa cửa lại. Người bố vô cùng tức giận. Ông ném văng bao thuốc lá xuống sàn, ngồi vật xuống ghế, hai tay ôm lấy đầu. Chính Joseph cũng thấy hút thuốc chẳng có gì hay: Nó có vị đắng chát, nó làm răng ông vàng, làm người ông bốc mùi hôi hám, làm ông ốm yếu và ho ra những bãi đờm đen kịt không biết bao nhiêu đêm. Vậy tại sao cảnh sát trưởng không thể bỏ?
Bỗng nhiên Joseph thấy miệng mình khô rát, ngực ông nóng ran, đầu óc thì lờ đờ và chân tay bứt rứt không yên. Cơn nghiện thuốc lá lại tới, Joseph cố chịu đựng. Những điếu thuốc nằm ngổn ngang ở dưới sàn, im lìm trêu ngươi, dụ dỗ cảnh sát trưởng. Chúng làm con ông buồn, ông không muốn làm Jules buồn, khi mà cô là người duy nhất còn sống bên ông, là lý do khiến ông tiếp tục sống. Vì người vợ đã qua đời, vì con, Joseph đã thề sẽ không chạm vào thuốc lá nữa. Ông đã thề khoảng ba, hay năm lần thì phải? Ông chẳng nhớ nổi.

Và, Joseph túm hết những điếu thuốc vương vãi, chạy ra ngoài vườn. Hai tay ông run run châm điếu thuốc bằng que diêm nhỏ. Cảnh sát trưởng lúc này như một cái ống khói hình người. Vừa hút, ông vừa lấy tay lau đi những giọt nước mắt rơi, tự hỏi ý chí là cái gì khi cứ thề thốt, cứ cai rồi lại tiếp tục hút.

* * *

Reginald thả rơi cái xác, ngồi xuống bên gốc cây lớn trong khu rừng. Máu vấy ra khắp nơi: trên cỏ, trên quần áo và trên mặt gã. Thực tế, máu người không hẳn là thứ đồ uống hấp dẫn đối với gã, nhưng gã cần máu để tồn tại. Nếu ma cà rồng là một sinh vật bị nguyền rủa phải dành cuộc đời bất tử của mình trong cô đơn; thì với Reginald, lời nguyền đó còn kinh khủng gấp đôi. Bởi gã là một kẻ lạc lõng, thèm khát chính đồng loại của mình và bị truy đuổi cũng bởi chính đồng loại của mình. Vì lẽ đó, sống một mình nơi đồng không mông quạnh xem ra là giải pháp tốt nhất. Reginald cũng không thấy khó chịu cho lắm.
Việc sống một mình đem lại cho Reginlad cảm giác thoải mái và tự do nhưng cũng khiến gã trở nên lạnh lùng và trống rỗng. Không phải là Olivia không làm mọi thứ xung quanh Reginald trở nên rạng rỡ hơn một chút, nhưng sẽ thật đau đớn nếu một thời điểm nào đó đứa trẻ vẫn đang ngày ngày sống trong lâu đài này giờ chẳng là gì ngoài một phần ký ức của gã. Phải làm sao để bảo vệ chú chim nhỏ đó? Reginald đã từng nghĩ rằng Forest Hill sẽ là nơi để mình dừng lại, để từ bỏ và trốn thoát khỏi mọi thứ xô bồ ngoài kia. Rồi gã gặp Olivia, và mọi kế hoạch Reginald vạch ra bỗng chốc tan tành. Gã không chắc đó sẽ là một bước ngoặt dẫn gã đến những điều tốt đẹp hay tồi tệ hơn trong cuộc đời mình, và liệu việc cưu mang đứa nhóc có phải là một quyết định sai lầm. Gã không muốn có thêm bất cứ mối quan hệ hay tình cảm nào đối với con người. Họ đã gây quá nhiều đau khổ cho gã rồi. Ai có thể đảm bảo Olivia sẽ mãi là một đứa trẻ vô tư? Ai dám chắc rằng Olivia sẽ không bao giờ nhìn ra được bản chất của Reginald và sự thật về gã? Lúc ấy, liệu nó còn chấp nhận gã? Rốt cuộc phải làm như thế nào thì mới đúng với lời hứa gã ma cà rồng này đã hứa với một người?

* * *

Tôi mê cái vẻ đẹp tráng lệ của Forest Hill về sáng, khi ánh nắng đổ dài khắp rặng núi xanh trùng điệp. Đáng buồn thay, khung cảnh nên thơ nơi tôi sống – không như nhiều vùng núi non khác – lại chẳng được bóng đêm ưu ái là bao. Phải một đêm nào đó không trăng, không sao, hãy thử đi dạo một vòng từ khu rừng im lìm, lại lụp xụp tán lá, chốc chốc bị mấy cành cây khô quờ vào vai. Lên tới đỉnh đồi cao rồi, cứ giữ cho riêng mình cảm giác của bạn về trải nghiệm trong rừng ấy. Tôi biết mọi thứ đều không thể phán xét một cách đơn điệu, nhưng chính tôi đây vẫn chỉ thấy cái mà tôi muốn thấy, nghe những lời tôi muốn nghe và hiểu những điều tôi nghĩ mình đã hiểu.
Tôi từng cho rằng Forest Hill đúng là một nơi thật dễ mến, nhưng tất nhiên, trên đời này làm gì có thứ hoàn hảo. Thị trấn xanh xanh ấy không đến nỗi gây thất vọng, nhưng nó đem đến cho tôi rất nhiều cảm giác lẫn lộn – tích cực có, tiêu cực cũng không ngoại lệ.

Tôi thấy một người cảnh sát luôn gồng mình để giữ gìn sự yên ắng cuối cùng cho nơi ông ta sống nhưng rốt cuộc chẳng thể ngăn được mâu thuẫn và rạn nứt nảy sinh trong chính tổ ấm của ông ta.

Tôi thấy một nhóm nữ sinh tưởng chừng quý phái và thanh tao, được dạy dỗ đến nơi đến chốn trong trường học hóa ra lại chỉ là một đám quỷ cái xấu tính và hẹp hòi, sẵn sàng hùa nhau vào công kích bất cứ ai và bất cứ thứ gì không giống như chúng, những gì không nằm trong vòng kiểm soát của chúng.

Tôi chứng kiến hàng ngày cảnh những con người mong manh và yếu ớt cố tỏ ra rằng họ ổn và không cần được giúp đỡ; nhưng mỗi khi có chuyện xảy đến, họ lại khóc, rủa, thề, hy vọng vào một phép màu nào đó sẽ đến với cuộc đời mình.

Tôi biết một cậu thanh niên trót phải lòng một nam giới khác trong lén lút và sợ hãi trước những định kiến. Cảm giác bị chối bỏ, bị hắt hủi ám ảnh cậu ta đến mức dù biết gã mình đem lòng yêu chẳng là gì ngoài thứ cặn bã thẳng tay đánh đập kẻ yếu, cậu quá hèn và bi lụy để có thể từ bỏ và tự giải thoát cho bản thân.

Tôi quen một chàng cảnh sát chưa–chính–thức vẫn còn đang hừng hực nhiệt huyết tuổi thanh xuân — chưa kịp theo đuổi ước mơ của mình và nếm trải những vấp ngã — thì đã phải bỏ mạng một cách tức tưởi dưới cẳng của một con ngựa, sau đó là của một gã đàn ông.

Rồi tôi nhận ra kể cả một tâm hồn nhỏ yêu tự do và bay nhảy đến mấy rồi cũng trở nên mệt mỏi sau bao chuỗi ngày rong ruổi, bị đánh đuổi. Nó cứ lang thang khắp nơi, nhưng cuối cùng nó vẫn sẽ phải tìm đến một chốn nương thân yên ấm mà thôi.

Và, ai có thể ngờ một quý ông mang vẻ ngoài đạo mạo – người luôn tự cô lập trong pháo đài đá xám của riêng mình – chỉ để che giấu bản chất là một con quỷ khát máu cô đơn và buồn bã. Gã ta ngày ngày tự dày vò bản thân bằng câu hỏi có nên hay không việc giành lấy cho mình một niềm hạnh phúc bé nhỏ mà gã chẳng định nghĩa được nổi, và liệu mình có đủ xứng đáng với nó, hay rồi sẽ lại để nó mất đi.

Đó là những điều tôi thường hay thấy ở Forest Hill – một thị trấn rộng lớn nhưng trống trải, rải rác những ngôi nhà nhỏ bé với những con người bé nhỏ; một thị trấn đáng yêu mà thật kỳ lạ, luôn đem lại cho tôi cảm giác rợn ngợp như thể mình đang ở xứ Wales2 ma quái thay vì đứng trên mảnh đất London cổ kính và trang nghiêm.

2 Một trong những vùng đất nổi tiếng về các câu chuyện truyền thuyết, phù thủy, ác quỷ, yêu tinh, lời nguyền…


"Phần 10. Lunatic - Bệnh nhân 1" bởi iamDage
Buổi tối muộn — tại bệnh viện tâm thần Forest Hill nằm ở phía Tây-nam ngọn đồi Ma — những tiếng la hét, khóc gào và đập phá không ngăn được bước chân của bác sĩ Harrold Connor tiến về phía khu biệt giam.

– Tình hình bệnh nhân Barrett thế nào rồi? – Harrold hỏi người giám sát.

– Hắn ta… – Người giám sát ngập ngừng. – … cũng khó nói lắm.

– Rung lên, rung lên… Những chấn động… – Một bàn tay của bệnh nhân nào đó túm vào vai Connor, làm anh giật mình.

Từ ô cửa nhỏ trong phòng biệt giam hôi hám ấy; Harrold thấy gã đàn ông dáng người to lớn và bú rù đang ngồi nghịch ngợm vật gì. Đầu hắn quay về phía cửa sổ, chẳng tỏ ra chú ý mấy tới những thứ xảy ra bên ngoài phạm vi phòng mình.

– … – Harrold khẽ nhấc gọng kính lên, chực nói đôi điều với bệnh nhân thì gã đã lên tiếng:

– Không cần nói gì cả. Ông chủ của ta đã trở về, ta không muốn tiếp chuyện với ngươi.

Còn chưa kịp phản ứng lại với việc bị ngắt lời, bác sĩ nhận ra cái đĩa dưới tay gã bệnh nhân lúc nhúc một ổ dòi hay con gì đó tương tự, không khỏi rùng mình mà hỏi:

– Đồ ăn của anh đâu, Barrett?

– Ta dùng để nuôi “chúng”.

– Nhưng anh cần đồ ăn để giúp bản thân không bị đói. Anh đã từng nói là anh muốn ăn.

– Nhưng giờ ta không muốn ăn nữa! – Barret gắt lên.

– Vậy anh có muốn gì nữa không?

– Ta chỉ muốn ngươi câm miệng và biến khỏi đây.

– Anh chắc chứ?– Harrold chau mày.

– Ta đã bảo ngươi im đi! Ngoài ông chủ ra, ta không muốn gặp ai khác!

– Tôi nhớ tuần trước anh có nói rằng anh muốn nuôi một vài con chim. Giờ anh lại bảo anh không cần gì cả? – Harrold cố gắng tỏ ra nhẹ nhàng nhất có thể với bệnh nhân của mình, bất chấp thái độ khó ưa ấy.

– Ông chủ rất giàu có và sẽ cho ta tất cả. Vì thế ta không thèm mấy con chim của ngươi.

– Vậy chúc anh một buổi tối tốt lành, Barrett. – Bác sĩ quay lưng lại, bỏ ra về.

Rảo bước trong hành lang nhập nhòe ánh đèn, Harrold mở cửa căn phòng làm việc. Anh lấy từ trong ngăn kéo ra sổ nhật ký cá nhân và bắt đầu ngồi vào bàn, ghi chép. Đây là cuốn chuyên dùng để ghi lại suy nghĩ, cảm xúc của anh về những gì đã xảy ra trong ngày — khác với cuốn sổ theo dõi bệnh nhân thường nhật. Tay Barret quái đản đã có ở bệnh viện từ trước khi bác sĩ Connor đảm nhận công tác tại Forest Hill. Không một ai biết hắn đã ở đây từ bao lâu. Mọi tài liệu trước đó đã bị tiêu tùng, những người làm việc cũ cũng đều biến mất. Chẳng còn người nào sống sót để kể lại một cách xác thực về những gì xảy ra từ sau trận hỏa hoạn năm 1878, chỉ còn lại Barrett — cái tên mà Harrold đặt cho gã — với bộ não không ổn định cùng những câu chuyện hoang đường được thêu dệt không ngừng.

“Tôi chưa bao giờ gặp một bệnh nhân nào lại đề ra những đòi hỏi cao cho nhu cầu cá nhân như Barrett. Gã quan tâm tới sở thích của bản thân rất nhiều — điều khác xa so với những người tâm thần có biểu hiện vô cảm hoặc lãnh đạm quá mức. Barrett rất giàu trí tưởng tượng — giàu tới mức hoang tưởng, và có những lập luận nghe cũng tương đối có lý nếu ta không may thiếu tỉnh táo, để bị lôi cuốn theo lối tư duy của những kẻ điên như gã; nhưng tổng hợp lại thì vẫn thật là vòng vo và chẳng có ý nghĩa gì. Gã không sùng bái giáo phái tâm linh dị đoan nào, tuy nhiên, lại luôn đề cập tới một người đàn ông không có thật. Dạo gần đây, Barret rất hay nhắc tới một vị Bá tước và cho rằng ông ấy là chủ nhân của mình. Hiện tượng này ngày một gia tăng với tần suất dày đặc hơn, khiến cho tâm lý của Barrett trở nên bất ổn và hay nổi nóng vô cùng. Tôi lấy làm ngạc nhiên, và tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về vị Bá tước này…”

* * *

Nhóm cảnh sát tập hợp xung quanh khu vực túp lều gỗ, nơi Olivia đã từng bị bắt đem tới. Căn theo vết kéo lê từ góc túp lều ra ngoài cửa, họ đào lên được một xác chết khô của nam giới, độ tuổi có lẽ trong khoảng hai mươi gì đó. Nạn nhân tóc nâu sẫm, da tái xanh, dáng cao ráo và ăn mặc đẹp. Nguyên nhân cái chết được đoán là do một vết đâm rất sâu từ cuống họng kéo dài tới động mạch cảnh trái gây mất máu. Cái xác mềm, xuất hiện nhiều vết bầm tím do xô xát — có lẽ đã bị giết lâu ngày; chỉ có điều, nó không hề có bất cứ dấu hiệu nào của sự phân hủy hay thối rữa. Đó là điểm mâu thuẫn, cũng là dấu hỏi lớn dành cho cảnh sát Forest Hill.

Joseph lấy thuốc lá ra hút, ngón tay trỏ gõ nhịp nhịp lên đầu điếu.

– Thật kỳ lạ! – Brook thốt lên. – Ông không thấy điều này kỳ lạ, Joe?

Joseph không tỏ ra quá bận lòng với câu hỏi ấy. Chàng cảnh sát viên trông cấp trên có vẻ thờ ơ. Nhận thấy ánh mắt hoài nghi đang đổ về mình, Joseph ái ngại lên tiếng:

– Con trai, nếu cậu sống ở Forest Hill đủ lâu, cậu sẽ không bao giờ thắc mắc về những chuyện như vậy nữa đâu.

Lời đáp không đầu đuôi của cảnh sát trưởng chỉ càng khiến cấp dưới của ông thêm mơ hồ. Cậu không hiểu rõ ý của câu nói ấy, cũng không hiểu Joseph muốn ám chỉ điều gì. Nạn nhân không phải là người ở khu này, có lẽ thủ phạm biết khu rừng trên đồi là nơi lý tưởng để giấu xác, việc điều tra chắc chắn sẽ vất vả đây.

* * *

Olivia đẩy bút ra xa một chút và vươn vai cho đỡ mỏi, đưa mắt nhìn khắp căn phòng: bốn bức tường, đâu đâu cũng là những tủ đựng sách khổng lồ. Reginald có rất nhiều cuốn được viết bởi những thứ tiếng khác nhau, xếp theo thứ tự ABC cùng với kích thước và màu sắc bìa. Dù công nhận những phần gáy sách hòa lẫn vào nhau trông rất mượt mà và đẹp mắt, cô bé cảm thấy việc làm của Reginald hơi quái gở và tự đày ải bản thân — giống như một hệ thống máy móc vậy.

– Thì ra tiếng Anh cũng đâu khó lắm. Học nó được một thời gian rồi tôi mới thấy tiếng Pháp ngộ thật.

– Sao lại thế?

– Tiếng Anh không phân biệt danh từ đực cái hả? Ngài có bao giờ thắc mắc tại sao tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha cũng phân biệt đực cái và có trọng âm, còn tiếng Pháp lại không có không?

Reginald vươn người về phía Olivia:

– Thật ra tiếng Pháp cũng có trọng âm. Trọng âm của tiếng Anh là loại trọng âm thuộc về từ vựng — vốn có sẵn ở gốc hoặc tiền tố, hậu tố của từ. Còn tiếng Pháp, chủ yếu trọng âm phát huy tác dụng khi nó đứng trong cụm từ. Việc phát âm phụ thuộc vào độ dài cũng như số từ của cụm từ, không có một quy tắc nhất định nào cho trọng âm; nhưng ta thấy về mặt ngữ âm, hành động nhấn mạnh âm tiết thứ nhất hay thứ hai được thể hiện khá rõ ràng. Bổ sung thêm là mạo từ hay giới từ như “à”, “la”, “de” không mang trọng âm; nên khi đọc lên thành tiếng từng từ trong cụm, chúng không thể đặt làm vị trí ranh giới cho cụm từ.– Hả? – Olivia mở to mắt nhìn Reginald. Cứ như có một đoàn tàu vừa chạy vụt qua, cô bé không tài nào hiểu nổi điều ngài ấy vừa nói là gì.

– Thôi đừng bận tâm. – Reginald lắc đầu. Anh muốn giúp Olivia hiểu bản chất của vấn đề nhưng con bé rõ ràng không phù hợp với kiểu giải thích này. – Vậy là ngoài tiếng mẹ đẻ ra, ngươi nói được tiếng Ý?

– Tôi nói rất tốt đấy. – Olivia ngước đầu lên và bĩu môi, tỏ vẻ tự mãn. – Ngài đừng đánh giá thấp tôi.

– Nói ta nghe thử đi. – Reginald chống tay lên cằm.

– Il colpo di fumine é la cosa che fa guadagnare piu tempo. (Đừng nên chần chừ trước tiếng sét ái tình.)

Reginald khoanh hai tay trước ngực. Anh không nói gì, chỉ nhấc cặp lông mày của mình lên, có vẻ mang hàm ý “Tất nhiên…”.

– Ngài nhìn gì vậy? – Olivia không thích ánh mắt đưa ngang liếc dọc của Reginald.

Đợi mãi mà không được trả lời, con bé đành bỏ cuộc. Nó ngả người ra ghế, co hai đầu gối lên.

– Reginald này, vì chúng ta đang rảnh nên tôi muốn hỏi: Ma cà rồng có thể làm được những gì?

– Còn tùy vào mục đích nào chứ.

– Ý ngài là sao?

– Những ma cà rồng trẻ, hoặc người bị biến đổi — thường bị thúc đẩy bởi bản năng thèm khát không thể kiểm soát nổi — sẽ chuộng hút máu người khỏe mạnh để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Còn với những ma cà rồng sống lâu năm và có nhiều kinh nghiệm, mọi thứ quá dễ dàng và nhàm chán; chúng ta cũng biết điều tiết hơn, vì thế mà cần nhiều “trò vui” để tiêu khiển hơn, một khi sức lực đã giảm.

– Trò tiêu khiển như là…?

– Những ma cà rồng “già” như ta có khả năng điều khiển cảm xúc hoặc tâm trí của con người — đặc biệt là trẻ em, người bệnh tật hoặc những kẻ tâm lý không vững vàng, dễ bị tổn thương. Nhờ vậy mà cuộc đi săn trở nên chậm rãi và thú vị hơn nhiều bởi nạn nhân hoàn toàn tê liệt về nhận thức, sẵn sàng đến bên cạnh và làm nô lệ cho ngươi. Điều này gần như không có ở “con mồi” của ma cà rồng trẻ.

– Rắc rối quá! – Olivia nhăn nhó. Vốn tiếng Anh của cô bé chưa đủ để có thể nắm bắt được suy nghĩ và lời nói của Reginald.

– Ta biết giải thích bằng lời khá khó hiểu với ngươi, nên ta sẽ thực hiện bằng hành động trực tiếp cho sinh động vậy. – Vừa nói, Reginald vừa tháo một bên găng ra.

Olivia giật mình khi bàn tay lạnh ngắt của Reginald cầm vào tay mình, sượt những chiếc móng lên. Gã ma cà rồng kéo cô bé đứng dậy và bước lùi lại, tạo ra khoảng cách giữa cả hai trong khi vẫn cầm lấy tay Olivia.

– Đứng yên đó nhé, giờ nhìn theo ta này: Khả năng thôi miên của ma cà rồng phụ thuộc rất nhiều vào tài năng bẩm sinh và kinh nghiệm của hắn, thường thì tiếp xúc trực tiếp sẽ dễ tác động hơn nhưng đôi khi chỉ cần ánh mắt là đủ.

Olivia ngước nhìn đôi mắt Reginald. Từ trong lồng ngực cô bé, một luồng áp lực ấm nóng và rạo rực đang dần dần tỏa đi khắp nơi. Thứ lực ấy hấp dẫn Olivia, khiến cô bé muốn lại gần Reginald hơn, thôi thúc cô bé chạm vào ngài ấy — dù từ trước tới nay, trong mắt đứa trẻ này, Reginald chưa bao giờ là một người đàn ông lôi cuốn. Cảm giác thật êm ái và khó cưỡng lại. Không gian thật tĩnh lặng và bồng bềnh. Olivia thấy mình nhẹ bẫng, gần như trôi lơ lửng. Sợ mình sắp tan biến tới nơi, cô bé với tay bám vội lấy Reginald.

Olivia nhắm hờ đôi mắt, tốc độ thở chậm dần. Cô bé chẳng nghe được gì ngoài nhịp đập đều đều của tim mình, cố hít thở hương gỗ thông thoang thoảng trên người Reginald. Gã ma cà rồng đặt một tay ra sau đỡ lấy Olivia, cúi thấp người xuống, chuẩn bị cắn vào cổ “nạn nhân”.

– Và tất cả những gì cần làm chỉ là như vậy thôi…

Olivia giật thót, vội bỏ tay ra khỏi lưng Reginald, bước lùi lại. Dưới nền nhà, sách văng vãi khắp nơi. Rõ ràng hai người từng xa nhau cả một cánh tay! Cô bé thậm chí còn không hề bước đi, Reginald cũng đâu có lại gần, vậy mà khoảng cách giờ chỉ bằng một tờ báo Reginald đọc buổi sáng. Olivia thở hổn hển, vẫn còn bối rối khi nghĩ về việc mình đã đứng quá sát một người đàn ông. Mọi sự lâng lâng và quyến rũ vừa nãy đã tan biến ngay lập tức sau khi gã ma cà rồng bỏ tay ra.

– Thế nào? – Reginald cũng bước lùi lại, nhìn đứa nhóc vẫn còn đang toát mồ hôi lạnh.

– Chà… Kỳ lạ thật đấy! – Olivia vẫn chưa hết bàng hoàng sau trải nghiệm với khả năng thôi miên của loài ma cà rồng.

– Ta đã đặt chỗ sách đó xuống trong lúc ngươi tiến về phía ta, ngươi bị vấp nhưng không hề ngã và vẫn đi tiếp…

– Tôi đã đi? Tôi còn quên mất rằng tôi đang ở trong một căn phòng ấy chứ! – Olivia thốt lên trong kinh ngạc.

– Đó. Ta đã khiến ngươi nhìn và cảm nhận những điều mà ta muốn ngươi thấy, ngươi không hề có một chút phản kháng. Thú vị chứ?

Olivia chợt nhớ lại khoảng thời gian còn ở Croydon, khi bị Michael chạm vào tay. Cô bé sợ hãi bỏ chạy rồi sớm trở nên quẫn trí vì lạc lối.

– Ngài còn nhớ lần đầu tiên tôi gặp ngài không, Reginald? – Olivia gãi đầu.

– Lúc ấy ngươi cứ chạy liên tục thành vòng tròn. – Reginald hiểu Olivia muốn ám chỉ tới cái gì.

– Tôi nhớ rõ đường vào chỉ là một cái ngõ nhỏ và thẳng, nhưng khi trở ra, đường lại vòng vo và nhiều ngã rẽ khủng khiếp. Reginald, trước đó Michael có chạm vào tay tôi.

– Michael có lẽ mới phát triển khả năng ấy, ta nghĩ thế. – Reginald hơi cúi đầu suy nghĩ. – Việc ngươi nhận thức được mối đe dọa mà bỏ chạy chứng tỏ hắn còn non tay và thao tác một cách bản năng.

– Như vậy thì nguy hiểm quá, Reginald!

– Đúng vậy, ngươi cần phải cẩn thận. Đó là lý do ta luôn bắt ngươi về nhà trước khi trời tối. Nếu có chuyện gì xảy ra… – Reginald nói nhỏ. – Mà thôi, quay lại với việc học đi.

Olivia cầm lấy quyển sách nhưng lại liếc mắt nhìn Reginald. Ngài ấy trông kiệt quệ, hầu như chẳng còn chút sức sống nào. Khi được Reginald cầm lấy tay, Olivia thật sự rất bối rối. Dẫu biết Reginald không hề có ý đồ xấu với mình, cô bé vẫn không khỏi sợ hãi trước những cái động chạm với người khác giới.

– Ngài ổn chứ? Trông ngài hơi xanh xao…

– Ta lúc nào chả xanh xao, chỉ là dạo này ta không có máu. – Reginald thật thà trả lời. Dù thấy thèm máu, dù nôn nao khó chịu trong lòng, gã vẫn phải dạy đứa trẻ này học. – Tiếp tục nào, mau lên.

– Phải rồi. – Olivia gật đầu liên tục.

“Có khi nào…” – Olivia nhìn vào bàn tay vừa được Reginald cầm khi nãy, khẽ rùng mình. Loài ma cà rồng có những sức mạnh thật đáng sợ.


Những ngày được nghỉ ở nhà, Reginald thường tranh thủ giao thêm bài tập và bổ sung kiến thức giao tiếp tiếng Anh cho Olivia. Trừ đi những khoảng thời gian sinh hoạt chung, anh rảnh kèm con bé vào buổi sáng hơn là chiều tối. Sau hai mươi giờ, nhóc tự học nốt một tiếng còn lại, sau đó có thể làm việc riêng tùy ý; nhưng tuyệt đối không được ra ngoài đường và phải lên phòng đi ngủ không muộn hơn hai mươi giờ. Quy tắc bất di bất dịch ấy gã ma cà rồng đã đặt ra, chỉ cần Olivia vi phạm, con bé sẽ được nhận lấy những biện pháp trừng phạt ngẫu hứng mà mức độ nặng nhẹ phụ thuộc hoàn toàn vào tâm trạng gã.

Reginald khóa cổng lâu đài, rời đi khi trời đã tối muộn. Cái bóng còng vẹo của gã đổ trên mặt đường, kéo dài qua những ngôi nhà nằm cách xa nhau. Thỉnh thoảng lại có một đợt gió đêm kéo tới, thổi bay vạt áo khoác đen dài quá đầu gối của Reginald. Quán café Jazz dần xuất hiện ra trước mắt, rặng đèn đường lấp lánh và âm thanh rộn ràng vang lên thay thế cho quãng đường vắng lặng mà Reginald vừa đi qua giúp tâm hồn gã thanh thản hơn phần nào.

* * *

Olivia thức dậy vào buổi sáng hôm sau, bới mái tóc bù xù. Cô bé trượt xuống tầng dưới, nhìn thấy Reginald đang ngồi uống trà trong phòng khách. Gương mặt anh ta lúc nào cũng như có chuyện căng thẳng nên, với Olivia, đây không còn là điều lạ lùng hay đáng phải hỏi han.

– Chào Reginald.

– Chào Olivia. Hôm nay ngươi có đi học không? – Reginald hỏi.

– Ngài lại định bắt tôi làm việc nhà chứ gì? – Olivia cáu kỉnh. – Việc nhà, việc nhà, việc nhà. Lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc nhà!

– Không. Nếu ngươi rỗi thì chúng ta nên tiếp tục luyện tập. – Reginald nhìn Olivia bằng ánh mắt thờ ơ. Anh ta chưa bao giờ nói thứ gì đó mang tính hài hước, hoặc ít nhất là bớt cứng nhắc đi được.

Olivia giậm mạnh chân, phụng phịu:

– Thôi nào, Reginald. Lúc nào ngài cũng bắt tôi học! Chúng ta không thể nghỉ một ngày được à?

– Nhưng… – Reginald cảm thấy việc học tiếng Anh lúc này là điều quan trọng nhất với Olivia, không thể cứ trì hoãn mãi. Còn chưa kịp nói hết những điều đang suy nghĩ trong lòng, Reginald đã bị con bé láu cá nhanh chóng kéo ra đằng sau ghế. Nó lấy hai tay chạm vào má gã, liến thoắng:

– Nhìn ngài mệt lắm rồi, sao ngài không đi ngủ đi?

– … Bỏ tay ra, nhóc. Đừng quên Luật ngầm của Reginald.

– Tôi chỉ cố gắng xoa dịu tinh thần ngài thôi mà! – Olivia cười ranh mãnh.

Lúc này, Reginald thật sự không còn chút năng lượng nào. Reginald là ma cà rồng không có nghĩa anh không bao giờ biết mệt mỏi là gì sau gần hai tuần liên tục đi làm từ tối tới quá đêm, dạy học cho Olivia và gánh vác mọi thứ liên quan đến việc nuôi nấng con bé. Olivia là đứa trẻ thông minh, Reginald biết điều đó, nhưng cũng vô cùng tùy hứng và dễ mất tập trung. Anh chỉ muốn nằm lên giường và ngủ thật say tới khi hết ngày, nhưng hai chữ “trách nhiệm” đè nặng trên vai bắt Reginald không được bỏ rơi nó. Trong khi đó, tất cả những gì mà đứa trẻ vô-tư-và-hay-vòi-vĩnh này nhìn thấy chỉ là một Reginald “độc tài” suốt ngày cau có, cậy quyền bắt nạt và sai nó làm việc nhà như hầu gái không công.

Olivia ngồi lại gần Reginald, khẽ lay ống tay áo đen xì của anh:

– Reginald, ngài cho tôi nuôi một con chó được không?

– Không.

– Làm ơn đi mà. Tại sao ngài không cho tôi?

– Ồn lắm, lại còn bẩn nữa. Ai sẽ chăm sóc và cho nó ăn đây?

– Ngài! – Olivia cười lém lỉnh.

– Một con cá vàng thì sao? Nó nhỏ nhắn, yên lặng — không như ngươi.

– Nhưng cá vàng không cử động. Ngài không thể ôm cá vàng và vuốt ve nó được. – Olivia năn nỉ, đồng thời lại chạm lên má Reginald, khiến anh khó chịu. – Xin ngài đấy, Reginald. Nếu có một con chó, tôi sẽ chơi cùng nó và không làm phiền ngài nữa.

– Tốt thôi, ta sẽ kiếm cho ngươi một con. Miễn là đừng có làm phiền tai ta. – Reginald đành đồng ý. – Giờ thì học tiếng Anh đi.

Olivia ôm lấy vai Reginald, vui mừng rối rít. Cô bé luôn mong muốn có được một con thú nhỏ nào đó rậm lông và hay chạy nhảy, để có thể ôm nó vào lòng chơi đùa cùng.

– Cảm ơn, cảm ơn, Reginald. Ngài cứ nghỉ đi, tôi tự học cũng được.

– Ngươi chắc chứ? Hôm qua ngươi vẫn còn nói “xự nghiệt văng chươn” (career và carrière, literature và littérature) sau lần thứ bảy ta sửa cho ngươi đấy.

– Sự nghiệt văn trương! – Olivia gắt – Đó, tôi nói “Được” là được mà. – tiện đó đẩy Reginald đi.

Chờ cho Reginald bỏ lên trên tầng và đóng cửa phòng lại, Olivia cầm theo quyển sổ, bỏ ra ngoài. Cô bé đi bộ tới quảng trường, vừa đi vừa nghĩ tới những lời chửi rủa thậm tệ từ lũ con gái xúm lại bắt nạt mình mỗi ngày, cảm thấy thật tủi thân. Đã nhiều lần Olivia tức đến bật khóc, cho rằng chỉ vì vẻ ngoài mà tất cả mọi người đều cư xử tệ với mình. Lũ trẻ con luôn ném đá, xô ngã Olivia, dùng những lời nói cay độc nhất để tấn công cô bé và cười nhạo thói quen tự cắn vào tay mỗi khi sợ hãi. Bố mẹ chúng cũng chẳng bao giờ cho phép chúng lại gần chứ đừng nói là chơi với “đồ mắt lác” ấy. Con bé quyết định không để Reginald biết chuyện này, sợ rằng ngài ấy hoặc sẽ nổi đóa lên với lũ trẻ con, hoặc sẽ nổi đóa với mình. Có lẽ chỉ thú nuôi mới chấp nhận được con người thật của chủ nó mà không hề có một lời phán xét hay thái độ miệt thị nào.

– Cháu chào ông. – Olivia vẫy tay chào một ông già cao lớn đang ngồi ở quảng trường.

– Olivia, lại đây và trò chuyện cùng ta nào. – Ông nở nụ cười, cái miệng rộng và hàm răng của ông bị che lấp bởi bộ râu xám lòa xòa. Đôi mắt ông ấy màu xám lấp lánh, ánh lên một niềm yêu thương và nét dịu dàng.

Vào cái ngày đầu tiên Olivia bị bạn cùng lớp chế nhạo ngoại hình, con bé đã tức tới muốn khóc. Cái tai nạn nho nhỏ khi nó cắm đầu cắm cổ chạy về nhà đã đánh dấu lần gặp gỡ đầu tiên giữa Olivia và ông già cao lớn. Kể từ đó, thỉnh thoảng khi đi học Olivia vẫn nhìn thấy ông, nhìn thấy nụ cười chào hỏi đầy trìu mến của ông, và cả hai người trở thành bạn của nhau từ lúc nào nó cũng không rõ. Ông già chủ động trò chuyện với Olivia về mọi thứ và cũng lắng nghe mọi lời tâm sự buồn vui của nhóc — kể cả chuyện nó bị bắt nạt. Hơn nữa, để Olivia giải tỏa nỗi lòng mình bằng tiếng Anh cũng là một cách thực hành hay.

– Hôm nay ông sẽ kể cho cháu về cái gì vậy? – Olivia háo hức hỏi.

– Cháu có muốn nghe về lịch sử của Forest Hill không?

* * *

Joseph uống một lần hết sạch cốc nước trên bàn. Ông cần thứ gì đó có tác dụng hơn để rũ bỏ cơn buồn ngủ dai dẳng đeo bám suốt từ tối hôm qua hơn là chút nước lã. Lặng lẽ rút bao thuốc lá ra châm rồi tận hưởng làn khói xám, cảnh sát trưởng nhìn cậu Brook cũng đang ở trong đồn.

– Rốt cuộc động cơ của gã hung thủ là gì? Cướp của? Hành hung? Hiếp dâm? Sau đó giết người phi tang? – Brook lên tiếng. – Joe, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?

– Thì, cứ theo lệ thường mà làm thôi. Gã này rõ ràng không phải người ở đây, chúng ta có thể hỏi những vùng lân cận. Sau khi đã tổng hợp lại những đặc điểm nhận dạng, chúng ta sẽ thu thập thêm dữ liệu về những mối quan hệ của nạn nhân, về những nơi cậu ta hay lui tới, địa điểm cuối cùng người ta nhìn thấy cậu ấy… Một khi đã biết cậu ta đi tới đâu, cùng ai — và khoanh vùng nghi phạm lại, thì đó. – Joseph nhún vai theo lời nói. Ông biết lý thuyết thì bao giờ cũng xuôi tai và đơn giản, nhưng từ trước tới nay chưa có một vụ án nào lại được giải quyết nhanh chóng và êm thấm như thế cả. Trong quá trình điều tra sẽ có vô vàn những vấn đề nảy sinh, có thể là từ bên ngoài, hoặc từ chính những giả định sai lầm và thiên lệch trong đầu người tham gia phá án.

Cảnh sát trưởng cho mình là một con người không mê tín dị đoan, chỉ chấp nhận sự thật khi chính ông là người chứng kiến hoặc giải thích được. Trong ký ức thời thơ ấu của Joseph: mỗi khi có một đám tang, người ta luôn chôn cất người đã mất với một mẩu bánh mỳ và bình nước — chỉ đề phòng trường hợp kẻ xấu số đó chưa thực sự chết hẳn. Điều khiến ông bị ám ảnh hơn cả, là những hòn đá to và nặng luôn được đặt lên trên cùng, nhằm ngăn không cho những kẻ bị chôn không thể “đội mồ” quay trở lại được nữa. Bởi lẽ, một khi đã sống lại thì họ đã không còn là chính mình, mà thay vào đó là một sinh vật khát máu hay đi lang thang tìm con mồi mỗi đêm.

Hệt như những anh cảnh sát trẻ bây giờ, cậu bé Joseph ham chơi và ngây thơ ngày đó vẫn tin rằng người lớn chỉ bịa ra vài câu chuyện hoang đường để trẻ con khỏi la cà bên ngoài khi trời đã tối muộn. Nếu không đổ lỗi cho những yếu tố huyền bí, điều gì sẽ giải thích cho những cái chết và vụ mất tích không dấu vết đang quay trở lại và ám ảnh ông? Với tư cách là cảnh sát trưởng, Joseph tự hỏi liệu mọi người có thể chấp nhận được khi ông ta nói rằng quỷ hút máu là kẻ đã gây ra tất cả?

Có một điều mà Joseph không bao giờ chia sẻ với ai, đó là cuộc sống trước đây của ông ta. Joseph là một cảnh sát sống cùng với con gái Jules Phan ở Forest Hill, đó là tất cả những gì mọi người biết. Ngoài việc cảnh sát trưởng có gốc phía cha là người Việt Nam — không một ai rõ bố mẹ Joseph tên là gì, còn sống hay đã chết — và họ đã, đang sống ở đâu. Cảnh sát trưởng là một người dễ nói chuyện cùng, nhưng để hiểu và khai thác được thông tin đời tư của ông ta một cách tự nhiên thì quả thực khó.

* * *

Một người đàn ông trẻ tóc nâu vàng ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở quảng trường thị trấn. Cặp kính ngự dưới đôi mắt nâu mệt mỏi của anh phản chiếu một bé gái đang trò chuyện rất thân thiết cùng ông già cao lớn sở hữu bộ râu xám. Lúc đầu, anh cứ ngỡ rằng đó là hai ông cháu.

– Cháu không ngờ Lịch sử lại thú vị đến vậy! – Olivia chắp hai tay vào nhau, mỉm cười rạng rỡ.

– Một chút kiến thức về nơi mình sinh sống không bao giờ là thừa, cô bé thân mến của ta. – Ông già xoa đầu Olivia, và nụ cười ấm áp của ông lại hiện ra.

– Cháu có học về lịch sử Forest Hill cùng Reginald, nhưng ngài ấy cứ nói “như này này”. – Olivia bắt chước thứ giọng đều đều, ngang ngang của Reginald. – Buồn ngủ lắm! Nội dung ông kể cũng giống như vậy thôi, nhưng hài hước và li kì hơn ngài ấy nhiều.

– Reginald? Người nhận nuôi cháu ấy hả?

– Một người đàn ông nhàm chán và nghiêm khắc, lúc nào cũng bắt cháu làm việc nhà. – Olivia than thở.

Nghe tới đó, anh thầm hiểu ra giữa cô bé và ông già không có bất cứ mối quan hệ huyết thống nào, chỉ là một đôi bạn lệch tuổi mà thôi.

– Cháu ít khi kể với ông về anh chàng này nhỉ. – Ông già chống cằm nhìn đứa trẻ. – Đến giờ ông cũng vẫn chẳng biết anh ta trông ra làm sao.

– Vâng, thật ra thì những điều cháu khám phá ra được ở ngài ấy có nhiều nhặt gì đâu ông. Vậy nên cháu chẳng có gì để kể cả.

– Thì cháu sống trong cái lâu đài của nhà Dracula đó mà, phải không? – Ông già ngồi lùi lại, hơi tựa ra phía sau. Chợt, đôi mắt ông liếc về phía người đàn ông trẻ phía trước, rồi lại rất nhanh chóng lướt đi hướng khác. – Dracula, cái tên ta chỉ được nghe kể từ cha của mình. Dòng họ ấy nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác cai quản vùng đất này, có khi họ là những cuốn sách sống về lịch sử hình thành và phát triển của Forest Hill cũng nên.

Khỏi phải bàn cãi và phủ nhận, không chỉ có cô bé Olivia là người bị thu hút bởi giọng nói có sức truyền cảm đáng sợ của ông già đó, mà chính người nghe trộm cuộc trò chuyện của họ – người đàn ông trẻ đang ngồi giả vờ đọc sách ở đằng kia – cũng bị cuốn vào những câu chuyện huyền bí có, đau đớn có và dài dòng có của ông già này.

Vừa kể vừa ngẫm lại, cặp con ngươi xám của ông già hơi lay động theo dòng suy tưởng:

– Cháu biết vị lãnh chúa tàn bạo khét tiếng ở Forest Hill mà ta kể rồi chứ? Đó chính là Bá tước Dracula. Những câu chuyện đáng sợ và hàng trăm nghìn lời đồn rằng ông ta từng gây ra bao nỗi kinh hoàng cho người dân ở đây.
Bá tước là một người khá bí ẩn, ông ta hiếm khi ra khỏi nhà vào lúc trời sáng và cũng hiếm khi lên tiếng trước những sự thêu dệt về cuộc sống riêng của mình.

– Điều gì khiến Bá tước Dracula đáng sợ vậy ông? – Olivia thấy chột dạ.

– Ta không chắc lắm. Có người nói rằng Dracula thích bắt cóc những cô gái trẻ xinh đẹp, và… lấy máu của họ. Có người lại nói rằng, Dracula có sở thích bắt giam và tra tấn gia đình của những kẻ giám chống đối ông ta; thậm chí, Dracula còn thẳng tay giết hại người thân của mình nếu họ dám làm trái ý ông…

Olivia chợt rùng mình. Tất cả những đặc điểm mà ông già kể về nhân vật “Bá tước Dracula” này, chúng đều trùng khớp với Reginald. Ngoại trừ việc lấy máu và bắt bớ mà Olivia chưa thể xác nhận ra, Reginald Dracula đúng là ma cà rồng và không thích tiếp xúc với ánh sáng. Anh ta có thể là một người khó chịu chuyên tỏ ra hờ hững, nhưng về bản chất thì vẫn hiền lành và tận tâm — nếu không muốn nhắc lại những lần Reginald đã không ngại bảo vệ cô bé. Nhưng, lời nói của người bạn già ấy chứa đựng một sức mạnh truyền cảm đến lạ lùng, khiến người khác cảm thấy mọi thứ thật… chân thực và đáng để tin.

– Reginald không phải là người như vậy. Tin đồn chỉ là tin đồn thôi. – Olivia nuốt khan. Cô bé tin Reginald là người tốt. – Cháu nghĩ có lẽ vì nhà Dracula sống khép kín và ưa tĩnh lặng nên mọi người mới lời ra tiếng vào như vậy.

– Ồ, vậy cháu nghĩ Bá tước Dracula chỉ là một người đàn ông trầm tính? – Ông già cười lớn.

– Vâng. – Olivia nhìn lên bầu trời khi ánh hoàng hôn vừa tắt. – Cũng muộn rồi, cháu nên về trước khi Reginald lại bắt đầu nổi nóng và mắng mỏ cháu.

Chưa để cho cô bé kịp ôm ông già và chào tạm biệt ông ta như mọi khi, người đàn ông trẻ đang nghe ngóng vội vã đóng sách, chạy về phía Olivia.

– Thành thật xin lỗi, tôi không có ý thô lỗ hay tọc mạch nhưng tôi không thể không nghe được nội dung mà quý ông và cô bé trao đổi với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là bác sĩ Connor, người điều hành bệnh viện tâm thần Forest Hill. Chúc cả hai một buổi tối tốt lành. – Anh ta mỉm cười, bắt lấy tay ông già và cô bé. – Ông có vẻ là một người đã từng chứng kiến nhiều thay đổi, lại hiểu biết rất nhiều về con người nơi đây. Hy vọng ông có thể giúp cho tôi được khai sáng đôi điều? Tôi sẽ rất biết ơn.

Ria mép của ông già khẽ nhấc lên một chút, để lộ hàm răng trắng nhờ dưới khóe miệng rộng. Đôi mắt có phần đuôi dốc xuống của ông ta hướng về phía bác sĩ, ánh những tia khó hiểu.

– Buổi tối tốt lành, anh bạn trẻ của tôi. Anh bạn muốn biết về điều gì nào?

– Tôi chỉ cần một người nào đó đã từng sống rất lâu ở đây và sở hữu trí nhớ tốt. Ông không cảm phiền nếu tôi mời ông về bệnh viện để tiện làm việc chứ? Tôi biết là hơi…

Ông già dùng bàn tay lớn của mình vỗ nhẹ lên vai Harrold, nói:

– Con trai à, dù thật lòng muốn giúp đỡ, ta già cả rồi. Có nhiều thứ ta không dám chắc chắn đâu. Ta rất lấy làm tiếc. Hãy tới lâu đài của Bá tước Dracula và thử gặp hậu duệ của ông ta xem. Ta nghĩ cậu sẽ ngạc nhiên trước những hiểu biết của anh ta hơn là của ta đấy.

Harrold hướng ánh mắt hoài nghi về phía Olivia — đứa nhóc đã vô tình để anh biết rằng con bé đang sống cùng một người đàn ông tên Reginald, họ Dracula. Anh ta thật lòng muốn nói chuyện với ông già kia hơn là với một đứa chíp hôi cùng gã xa lạ có bề thế gia đình “khét tiếng”nào đó. Nhưng, ông ta đã có ý không muốn tiếp xúc với Harrold và anh không muốn tỏ ra thô lỗ hoặc làm phật ý người già.

– Olivia, cháu làm ơn? – Harrold đưa ánh mắt khẩn khoản về phía cô bé tóc xù.

“Chết rồi, Reginald mà biết mình dắt người lạ về thì…” – Olivia lo lắng.

– Vâng, nhưng nếu Reginald không muốn tiếp chuyện thì đó là việc của ngài ấy nhé. Chú thông cảm đi, bởi ngài ấy hơi “dè dặt” một chút với người lạ. – Olivia cấu vào móng tay mình.

– Cảm ơn cháu nhiều lắm! – Harrold bắt tay Olivia, mừng rỡ. – Và cảm ơn quý ông nữa, tôi mong sẽ còn gặp lại ông.

Ông già thân thiện vẫy tay chào tạm biệt Olivia và người bác sĩ tâm thần từ phía quảng trường cho tới khi bóng họ khuất hẳn.

“Hẹn cậu nhé, Harrold. Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều mà.” – Ông mỉm cười.

* * *

– Chào chú Joe. – Olivia vẫy tay với Joseph khi bắt gặp ông cảnh sát đi tới đoạn ngã ba rẽ lên chân đồi.

– Chào Olivia, muộn rồi mau về nhà đi. Chào Connor. Bác sĩ tới đây làm gì vậy?

“Joe biết ông bác sĩ này?” – Olivia ngạc nhiên.

– Tôi tới chơi và để gặp một người bạn thôi, cảnh sát trưởng. Cô bé đáng yêu này dẫn đường đấy. – Harrold hướng tay mình về phía Olivia.

Harrold không gặp khó khăn mấy vì đường đi từ thị trấn vào nơi này không đến mức quá vòng vèo, hơn nữa anh ta cũng là người sống trong khu vực gần ngọn đồi phía Tây-nam. Tòa lâu đài mà Olivia sắp sửa dẫn tới, Harrold đã từng nhìn thấy nó vài lần. Đúng là hiện nay nó đã có người sinh sống ở trong, căn cứ vào vẻ ngoài tươm tất so với sự tan hoang và xơ xác trước đây. Điều khiến Harrold không khỏi thắc mắc là vì sao người “hậu duệ” này lại đi vắng lâu đến vậy. Chẳng phải từ khi Harrold còn chưa được sinh ra, lâu đài Dracula đã bị bỏ hoang?

– Chờ cháu ở đây một lát nhé, để cháu đi gọi Reginald. – Olivia bỏ mặc bác sĩ ở ngoài, cứ thế chạy vào trong lâu đài. Đứa trẻ không biết hành động ấy thể hiện sự thiếu tôn trọng với khách.

Cánh cửa phòng Reginald bị đẩy hé ra, cái bóng nhỏ của Olivia lọt vào. Cô bé khẽ lên tiếng:

– Reginald, Reginald có người muốn gặp ngài này…

Không có một lời đáp lại nào cả. Olivia đi hẳn vào trong, nhận ra căn phòng trống rỗng.

– Ngươi làm gì ở đây? – Giọng nói của Reginald đằng sau lưng Olivia cất lên đột ngột làm cô bé giật bắn người.

Olivia giơ nắm đấm theo phản xạ, hét lên:

– Ngài! Tôi đang tìm ngài đấy. Có người muốn gặp ngài kìa.

– Ai vậy? – Reginald chau mày.

– Một ông bác sĩ ở viện tâm thần.

* * *

Bác sĩ Connor ngồi yên vị trong phòng khách của tòa lâu đài Dracula. Ánh mắt anh ta lướt đi khắp nơi trong nhà, không giấu được sự tò mò về phong cách xây dựng cùng cấu trúc bền vững đến kỳ lạ tại đây. Nhận lấy tách trà từ Reginald, Harrold mỉm cười:

– Cảm ơn ngài vì đã bỏ chút thời gian. Xin tự giới thiệu, tôi là Harrold Connor, đang quản lý bệnh viện tâm thần của Forest Hill.

– Tôi là Reginald Arthur, rất vui được gặp anh. – Reginald nhếch môi cười với khách vì xã giao, rồi nghía qua Olivia mà lườm nguýt con bé. – Xin hãy trả lời thẳng thắn với tôi, điều gì khiến anh tới đây?

– Vâng, xin phép đi luôn vào vấn đề chính: Theo như tôi được biết, những người trong dòng họ Dracula đã từng sống rất lâu và am hiểu rất tường tận về vùng đất kỳ lạ này, giống như những cuốn sách lịch sử sống vậy. Họ truyền lại cho thế hệ sau tất cả những gì mình có và cứ như vậy…

– Ý anh là? – Reginald bực dọc với cách nói chuyện vòng vo của Harrold, dẫu biết rằng vị bác sĩ vẫn còn đang e ngại.

– Tôi cần ngài giúp. Tôi có một bệnh nhân kỳ quặc vô cùng và tôi cần ngài giúp! – Harrold đặt tách trà xuống.

– Tôi không có chuyên môn trong lĩnh vực Tâm thần học hay Phân tâm học. – Reginald lạnh lùng đáp. – Tôi rất tiếc.

– Làm ơn, ngài không hiểu đâu. Bệnh nhân này rất đặc biệt, và cũng kỳ lạ vô cùng. – Harrold khẩn khoản. – Hãy gặp anh ta, tôi tin ngài sẽ biết phải làm gì.

Reginald lúc này khá giận Olivia. Anh không tin tưởng tay bác sĩ, nhưng những bí ẩn về cảm xúc và tâm trí con người luôn tạo cho Reginald một sự hứng thú nhất định.

– Điều gì khiến anh nghĩ tôi có liên quan và tôi sẽ giúp được anh, thưa bác sĩ Connor? – Reginald vẫn tỏ ra kiêu ngạo, những mong Harrold hãy cảm thấy khó chịu mà rời đi.

– Vì anh ta liên tục nhắc tới “ông chủ”, và anh ta chỉ muốn gặp “Bá tước Dracula”. – Harrold trả lời một cách nghiêm nghị để chứng tỏ sự kiên nhẫn và thái độ quyết tâm của bản thân.

Reginald im lặng. Nếu sự việc đã tới mức này, có lẽ Harrold thật sự tò mò về bệnh nhân đó. Chỉ là, Reginald từng tiếp xúc với quá nhiều người trong suốt cả thế kỉ mười chín. Gã ma cà rồng lo rằng mình sẽ không thể nhớ hay nhận ra ai với ai, dù cho có từng gặp nhau.

– Tôi đồng ý đi tới bệnh viện và gặp anh ta. Hãy cho tôi xin thời gian và địa điểm cụ thể. – Giọng Reginald hơi nhỏ. Anh chợt có linh cảm rằng mình rồi sẽ ân hận vì đã đưa ra quyết định này.

– Càng sớm càng tốt, thưa ngài. Tôi làm tại bệnh viện cả ngày nên ngài có thể tới lúc nào cũng được. Đây là địa chỉ—và thời gian ngài có thể tới… – Harrold nói, tay vội ghi vào mẩu giấy anh ta vừa xé ra từ cuốn sổ tay, đưa nó cho Reginald.

– Vậy, chiều tối mai hy vọng sẽ ổn. – Reginald nghĩ xem mình còn thời gian rỗi vào lúc nào, căn cứ vào nội dung tờ giấy Harrold đưa. – Cảm ơn, bác sĩ Connor.

– Cảm ơn ngài rất nhiều! – Harrold bắt tay Reginald và đứng dậy. – Cũng muộn rồi, tôi không nên làm phiền ngài và bé con đây nữa. Xin tạm biệt.

Reginald tiễn vị bác sĩ ra khỏi cổng rồi khóa lại, trở vào nhà. Những dòng suy nghĩ ồ ạt kéo tới làm gã quên hết cả cơn giận dữ định trao cho Olivia. Reginald ngồi xuống ghế, lúc thì gõ nhịp những ngón tay của mình lên mặt bàn, mặt đăm chiêu suy nghĩ; lúc lại đan chặt hai bàn tay vào nhau, đặt chúng lên đầu gối, liên tục cắn môi.

– Reginald, ngài có sao không?

– Ta ổn. Đừng lo. – Reginald trả lời mà không thèm nhìn Olivia.

– Chuyện “Bá tước” này là sao vậy? Có khi nào bệnh nhân đó là người hầu cũ của gia đình ngài không? Bá tước Dracula ở đây thì chỉ có ngài thôi mà?

Hai hàng lông mày rậm của Reginald cặp chặt vào nhau và tròng mắt xám cứ hướng mãi về phía chiếc bàn trà, khẽ lay động. Thỉnh thoảng, anh ta lại lấy tay vò chỗ tóc rẽ ngôi đang chìa ra bên tai trái.

– Đợi đã, nếu ngài sống được ba thế kỉ rồi, vậy thì người hầu của gia đình ngài… – Olivia chợt nhận ra sự bất cập về tuổi tác và tính chất khó hiểu trong câu chuyện về gã bệnh nhân và bác sĩ Connor.

– Ta không rõ… Mà ngươi cũng đừng hỏi ta linh tinh! Ngươi đâu biết gì về ta.

– Ngài không bao giờ chịu nói cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra, hoặc ngài cảm thấy vui hay buồn. Làm sao mà tôi hiểu được nếu ngài không chia sẻ?

– Vậy hả? Vậy ngươi muốn biết cảm xúc lúc này của ta là gì không, nhóc? Ta đang bực mình, vì sự khó chịu của ngươi đấy!

Bị coi mình như người thừa thãi, Olivia giận dỗi bỏ lên phòng, quyết định không thèm nói chuyện với anh ta nữa.

Reginald chợt ngừng lại, nhận ra mình vừa nặng lời với Olivia. Nhóc cũng chỉ quan tâm tới gã và muốn gã chia sẻ những vấn đề của mình cho nó nghe thôi mà?

“Mày đáng ra đừng làm vậy, Reginald.” – Anh thở dài.

Đêm hôm đó, Reginald đứng ở ngoài ban công ngắm nhìn bầu trời đêm. Mặt trăng chưa tròn, nhưng theo như tính toán thì cũng chẳng còn mấy nữa. Olivia là niềm vui của Reginald, là lý do để gã tiếp tục cuộc sống, và gã sợ nhất là mình cứ liên tiếp làm con bé buồn, dù không hề cố ý. Đứa trẻ ngờ nghệch đó thật đặc biệt, chắc chắn nó đang giấu giếm cái gì đó, giấu rất nhiều là khác. Nhưng gã không trách Olivia vì chẳng phải chính gã cũng đã che giấu quá nhiều sự thật khỏi con bé, nên gã không đủ tư cách để đòi hỏi nó phải quá thân mật với mình? Điều Reginald quan tâm nhất bây giờ, đó là tay “Bá tước”. Hắn là ai? Hắn định làm gì? Tại sao hắn lại làm như vậy?

– – – – – – HẾT PHẦN 10 – – – – – –


"Phần 11. Lunatic - Bệnh nhân 2" bởi iamDage
Một nhân viên nhìn thấy Harrold đang đứng trầm ngâm bên cửa sổ với gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi và căng thẳng, bèn lại gần hỏi chuyện:

– Bác sĩ, anh đang nghĩ gì vậy?

– Không có gì đâu, tôi đang mong một người thôi. – Harrold cười.

– Anh đang mong ai?

– Một người đàn ông kì lạ, hy vọng anh ta sẽ hợp tác. – Harrold trả Iời, chợt nhớ tới việc Barret đã hành hung nhân viên của mình. – À, mà vết thương của anh thế nào rồi?

Nhân viên kéo cao tay áo lên, để lộ phần cẳng tay bầm tím đầy những vết trầy đang lên da non của mình. Vị bác sĩ thấy đôi chút có lỗi.

– Cũng đỡ hơn nhiều rồi, bác sĩ Connor. Tay Barret này thật hung hăng!

– Tôi rất lấy làm tiếc với các anh. Là người điều hành bệnh viện, tôi phải có trách nhiệm quản lý bệnh nhân tốt hơn chứ không phải để hắn đánh các anh tới nỗi này. – Harrold mỉm cười ái ngại.

– Không sao đâu, chẳng phải hắn suýt chút nữa cũng bóp chết anh đấy thôi. Chúng ta đã làm việc ở đây thì phải biết cách phòng tránh hoặc chấp nhận rủi ro chứ. Âu cũng là cái “bệnh nghề nghiệp”.

Được trò chuyện cùng những người bạn đồng nghiệp là nguồn động lực tinh thần vô cùng lớn giúp bác sĩ có thể tiếp xúc với những kẻ điên hết ngày này qua ngày khác mà không “hóa điên” theo chúng. Sự tận tụy và lạc quan của nhân viên làm Harrold vững tin hơn hẳn. Anh gật đầu, bắt tay nhân viên:

– Tôi không thể cảm ơn hết từng người ở đây!

– Anh đâu cần phải cảm ơn đâu.

Rồi vị bác sĩ tạm biệt nhân viên của mình, nhanh chóng rời tới khu giam giữ.

Harrold đi qua lớp chấn song thứ nhất của phòng biệt giam Barret, đứng lặng yên quan sát hắn ta từ phía sau ô cửa nhỏ trên cánh cửa thứ hai. Căn bệnh của Barret khiến hắn khi thì dữ dằn và hung bạo như một con thú hoang đói bụng, lúc lại hiền lành và yên lặng như một chú mèo con. Theo như những quan sát của bác sĩ: bệnh nhân này luôn ngồi hướng về phía song sắt cửa sổ để ngắm trăng và hú gọi “Bá tước”, trong khi tiếp tục “nuôi” những con côn trùng trông thật là ghê tởm. Gần đây, gã không còn tìm cách phá khóa bỏ trốn hay xông vào đánh người ở bệnh viện nữa. Barret chỉ ngồi yên, lẩm bẩm một cách kính cẩn về người đàn ông hắn sùng bái, không đòi hỏi gì ở vị bác sĩ đang ngày đêm mất ăn mất ngủ vì mình.

– Ngươi đã gặp được “ông chủ” của ta rồi phải không? – Barret đột ngột cất lời, tay vẫn không rời đĩa dòi.

– Vậy, “Bá tước” đúng là ông chủ của anh hả, Barret? – Harrold giật mình. – Tại sao anh biết tôi đã gặp ông ta?

– Còn tùy thuộc vào “Bá tước” nào! – Barret cười ha hả.

– Ý anh là gì, Barret? – Bác sĩ cảm thấy mơ hồ. Chẳng phải Barret luôn mồm nhắc đến “ông chủ” và “Bá tước”? Chẳng phải Harrold đã đích thân gặp được Reginald — người con trai còn lại của nhà Dracula? Reginald chưa bao giờ tới đây, vậy ai là người đã nói cho Barret biết, khi mà chuyến đi của Harrold hoàn toàn không nằm trong dự kiến của anh?

– Ngươi đang băn khoăn lý do tại sao ta biết ngươi đã gặp Bá tước, phải không? Ông chủ của ta biết mọi thứ, và ngài cũng chia sẻ với ta mọi điều người biết. Đôi mắt của ngươi đã đánh lừa ngươi nhiều thứ lắm, anh bạn trẻ ạ.

Harrold tháo gọng kính ra, bóp nhẹ lên trán. Tay Barret này thật là khó chịu!

– Thôi được, anh cứ chờ ở đó. Tối nay, đích thân ngài Bá tước sẽ tới đây.

– Tuyệt vời, Harrold! Cuối cùng thì ngươi cũng làm được việc có ích hơn là hàng ngày soi mói và cố gắng kiểm soát những kẻ mất trí rồi.

Harrold vội vã ghi lại những lời Barret nói vào sổ theo dõi. Đây có thể là một sự đột phá, vì bệnh nhân này chưa bao giờ tự nhận rằng đầu hắn có vấn đề cả. Đâu gã điên nào lại tự nhận hắn bị điên.

– Vậy anh thừa nhận mình cũng là một kẻ mất trí?

– Không! Ta hoàn toàn bình thường, chỉ có những kẻ khác quanh đây, và cả ngươi nữa, mới là lũ mất trí. Ta — một người đầy tớ trung thành và khốn khổ — bị một kẻ tự cao tự đại cho rằng mình có thể kiểm soát được mọi thứ như ngươi, bắt giam vào đây.

Harrold chau mày lại trước cách sắp xếp từ ngữ của Barret. Nếu theo đúng lẽ thông thường, bệnh nhân này sẽ sớm trở nên hung hăng hơn mỗi khi hắn nói chuyện nhanh và dài dòng như vậy. Do đó, việc nên làm lúc này là rời đi thay vì tiếp tục tạo thêm nhiều sự kích động cho Barret.

– Hôm nay đến đây là đủ rồi, Barret. Hãy nghỉ ngơi đi và hẹn gặp anh vào buổi chiều muộn. Tạm biệt.

Bác sĩ cất đống giấy tờ, khẽ thở dài vì lại được một phen mừng hụt, tưởng rằng Barret đã đôi chút nhận ra được vấn đề bệnh tình của hắn. Phải rồi, những kẻ điên mà biết chúng bị điên thì cũng đâu có “điên” lắm, tỉnh táo là đằng khác. Nhưng, đúng lúc vị bác sĩ vừa bước ra khỏi sảnh chính, anh chợt nhớ ra một điều: Barret chưa bao giờ bộc lộ trạng thái kích động vào buổi sáng cả. Vậy, rốt cuộc cơn thịnh nộ của hắn có tới hay không? Nếu có, tại sao lại như vậy?

* * *

Hiện tại đang là trời sáng, nhưng Reginald không đi ngủ mà ngồi trong phòng, suy nghĩ về những điều Harrold đã nói cùng thái độ kỳ lạ của Olivia những ngày gần đây. Con bé đang ở trường học nên Reginald cảm thấy tương đối thoải mái vì không còn bị phá bĩnh, tuy nhiên anh cũng hơi ân hận vì đã hứa rằng sẽ cho nhóc một con cún. Giá một chú chó không hề rẻ, chi phí nuôi và chăm sóc thú lại càng đắt đỏ, mà đâu phải chỗ nào cũng có sẵn cún con. Reginald mà mang về một con chó hoang gầy còm ghẻ lở, hẳn Olivia sẽ hét toáng lên đòi bỏ nó đi.

Reginald lại thấy gáy mình hơi nóng và ngứa, mi mắt trái của anh giật giật. Mọi giác quan đều mách bảo với anh rằng có gì đó kỳ lạ ở bác sĩ Connor. Có phải hắn là ma cà rồng, hay một kẻ có khả năng thôi miên giống ma cà rồng?

* * *

Olivia tiện tay lấy giẻ lau gạt luôn chỗ mồ hôi trên trán đi. Dọn vệ sinh là hình phạt giành cho nó vì tội đánh nhau với bạn cùng lớp. Ai cũng hiểu lý do tại sao Olivia làm vậy, nhưng những người dạy học thì không. Với họ, nó chẳng là gì ngoài một con bé “ngoài luồng” chẳng có chút tinh tế hay phép tắc cư xử, thậm chí đến họ tên của nó còn chẳng chính thống chút nào.

Olivia ngó xuống hình ảnh phản chiếu của mình dưới mặt nước trong xô, không rõ phần giữa sống mũi đã mọc lên vài đốm tàn nhang từ bao giờ. Lũ con gái kia nói đâu có sai, Olivia đúng là một đứa xấu xí khủng khiếp với mái tóc bù xù và cái mắt lác như sắp trôi hẳn về bên phải đến nơi. Olivia ghét nơi này. Đó không phải là trường học, vì nó chẳng dạy cho con bé được điều gì có ích, ngoại trừ thực tế rằng đám cừu đen và những con chim sẻ sẽ luôn bị xa lánh. Ánh hào quang chỉ dành cho bầy công, còn những con vật liên mồm ca tụng bộ lông của chúng sẽ được sống yên ổn.

Ném giẻ xuống đất, Olivia hơi chớp đôi mắt đỏ bắt đầu đẫm nước. Con bé gục lên đầu gối của chính mình, hai cánh tay co quắp lại, ôm lấy đôi vai nhỏ vẫn còn hằn vết giày đứa con gái nào đó đạp lên. Olivia ghét nơi này, và nó cũng ghét luôn cả chính mình.

* * *

Do bị phạt, phải tới chiều muộn Olivia mới xong việc và được cho ra về. Như thường lệ, con bé bới tung mái tóc ra hòng che đi phần mặt bên trái bầm tím khỏi cái nhìn dò xét của Reginald. Đứng trước cánh cửa lâu đài, Olivia phủi qua quần áo, cố tỏ ra tự nhiên và vui vẻ nhất có thể rồi bước vào trong, nói lớn:

– Chào Reginald.

“Không có ai?” – Nhóc nhìn khắp nơi, nhận ra phòng khách trống trơn.

Một đống gì đó màu đen bò ra từ phía sau ghế. Nó to lớn, có hàm răng nhọn trắng ởn, khá đáng sợ.

– Ồ!

Olivia kêu lên đầy thích thú, chạy xô về phía cái cục lông bù xù màu đen, ôm chầm lấy nó – một con chó Labrador Retriever với đôi mắt xám sáng trưng. Chú cứ đứng yên từ xa nhìn Olivia, không ve vẩy đuôi, cũng chẳng sủa lên tiếng nào để thể hiện sự tò mò và thân thiện của mình như loài chó vẫn hay làm.

– Chào anh bạn. Reginald mang mày về đúng không? – Olivia mừng rỡ xoa đầu con chó và véo hai má nó. – Mày thật đáng yêu!

Chó Labrador có vẻ không ưa những động chạm ấy. Cứ mỗi lần bị Olivia ôm vào lòng, nó lại giãy giụa tìm cách chui ra. Nó không chịu liếm tay Olivia, càng tỏ ra khó chịu khi được vuốt ve.

– Tao gọi mày là “Reg” được không? Vì mày đen toàn thân và làm tao nhớ đến Reginald mà. – Olivia cầm hai chân trước của con chó, lắc mạnh. – Mày cũng chẳng khác gì ngài ấy cả: nhăn nhó, khó chịu.

Con Labrador sủa nhặng lên.

– Đáng yêu quá! Ai là chú chó ngoan nào? Yên lặng đi, Reg! Ai là chú chó ngoan? – Olivia dùng ngón tay gãi vào tai Reg. – Ối! Chó hư!

Reg gầm gừ, suýt nữa thì cắn vào tay Olivia — may mà cô bé rút lại được. Olivia không ngờ Reg lại dữ đến thế.

– Thôi được rồi, mày và tao ngồi đây chờ Reginald. – Nhóc bế chú chó đen lên ghế. – Tao không nghĩ mày hư đâu, mày chỉ chưa quen với tao thôi. Yên tâm đi Reg, tao sẽ cho mày ăn, và ôm mày, và chải lông cho mày mỗi khi tao rảnh rỗi. Mày nặng thật đấy…

Olivia cho Reg nằm lên hai chân mình, vuốt ve bộ lông rậm mượt mà trên lưng nó, chợt cảm thấy hai mắt mình nặng dần đi. Olivia ôm chú chó và chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Từ trên cao, Reg nhảy phóc xuống đất…

– Dậy ngay, nhóc. Giờ này đã nằm dài ra ghế!

Olivia chậm chạp ngồi dậy, không buồn ngước lên. Lời mắng mỏ này quá quen thuộc và thường xuyên rồi.

– Mấy giờ vậy, Reginald?

– Đến giờ ta phải gặp bác sĩ Connor rồi. Vì vậy, ta muốn ngươi trông nhà khi ta đi.

– Cảm ơn ngài về con Reg nhé! – Olivia đưa tay quờ quạng khắp ghế. – Ơ…

– Reg nào? – Reginald cau có. – Ta đã bảo ngươi không được gọi ta như thế cơ mà!

– Không, Reg là chú chó đen to đùng ngài mang về ấy. Nó từng nằm ở đây, bây giờ đi đâu mất rồi?

– Ta đi đây. – Reginald lắc đầu, định bỏ đi.

– Ấy, cho tôi đi cùng được không? – Olivia vội túm lấy vạt áo Reginald.

– Không.

– Đi mà! Tôi tò mò lắm! – Olivia năn nỉ.

– Ta nói là không! – Reginald bực bội đáp.

– Đi mà, tôi xin ngài đấy! – Olivia kéo mạnh hơn nữa. – Tôi hứa sẽ không làm phiền! Tôi muốn biết liệu đó có phải là người quen của ngài không.

Reginald nghĩ đến thời gian của cuộc hẹn, rồi nghĩ đến cái thói bám đuôi quá sức dai dẳng và bền bỉ của Olivia. Nếu cứ ở đây tranh cãi với nhóc, gã biết chắc chắn mình sẽ đến muộn, đành chọn giải pháp ít mất mát nhất, định sẽ cho nó một trận sau khi về nhà.

– Đi đi… – Reginald thở dài.

– Tuyệt vời! – Olivia thả tay khỏi Reginald rồi quay lại và nói lớn. – Reg, mày ở nhà ngoan, tí nữa về tao tìm mày sau!

* * *

Reginald và Olivia đứng trước cổng của bệnh viện tâm thần Forest Hill cũ kỹ nằm trên đồi Ma, nhận ra bác sĩ Connor đã đứng chờ cả hai ở đó. Trời nhá nhem tối cùng khung cảnh âm u của khu rừng làm Olivia thấy gai gai khắp sống lưng.

– Buổi tối tốt lành, bác sĩ. – Reginald nắm mạnh tay bác sĩ, gật đầu nhẹ.

– Buổi tối tốt lành, Bá tước và Olivia. Xin mời hai người vào trong. – Harrold Connor cũng gật đầu.

* * *

Reginald đi theo sự dẫn đường của Harrold, Olivia thì lẽo đẽo bước đằng sau. Thật khó khăn cho một cô bé muốn đi mà cứ như phải chạy đuổi theo những người đàn ông cao lớn. Reginald bặm môi lại, tránh làm lộ ra nụ cười hả hê trước nỗi khổ sở của Olivia. Gã cho rằng đó là một trong những hình phạt nho nhỏ mà đứa nhóc đó đáng phải nhận, can tội quấy nhiễu.

– Mời rẽ trái. – Vừa chỉ đường, Harrold vừa giải thích cho Reginald về người mà anh sắp sửa được gặp. – Hắn ta là Barret, một bệnh nhân lâu năm ở đây, cũng là một bệnh nhân gây cho tôi sự chú ý nhiều nhất. Tôi quyết định biệt giam hắn gần hai tháng trước — do biểu hiện hung hăng của hắn ngày một nhiều và kéo dài, gây nguy hiểm cho những bệnh nhân và nhân viên khác…

– Tôi hiểu. – Reginald gật đầu. – Vậy anh có hay để ý tới những lần “lên cơn” đột xuất của tên Barret này không?

– Tôi luôn cố gắng theo dõi mọi tình hình của hắn.

– Hắn thường hay “lên cơn” vào thời điểm nào trong ngày?

– Thường là vào khoảng tối, đêm… – Harrold nghĩ ngợi.

– Đêm rằm hoặc những khoảng thời gian trước lúc trăng tròn thì sao?1 – Reginald nhướn một bên mày.

1


Ngày đó, nhiều người cho rằng vào những ngày rằm (ngày trăng tròn) những kẻ có vấn đề về tâm lý sẽ trở nên điên cuồng hơn, hoặc bệnh tình của họ sẽ nặng hơn.

– Ngài Bá tước, tôi hiểu ý ngài rồi. Nhưng, tôi chắc chắn Barret không phải kiểu “mất trí” như vậy. Phải có một lời giải thích với cơ sở khoa học rõ ràng hơn là do Mặt trăng.

– Chẳng phải hành vi của nhiều loài động vật cũng bị ảnh hưởng rất nhiều theo chu kỳ mọc-lặn của trăng? Nếu mặt trăng có tác động tới thủy triều, điều gì khiến nó không ảnh hưởng tới tâm lý của con người?

– Ngài Bá tước — với tất cả sự tôn trọng của tôi — cho tới nay, chưa có bằng chứng khoa học cụ thể nào cho thấy giữa thủy triều và não bộ có mối liên quan hết. Vì vậy, giả thuyết về ngày rằm hoàn toàn vô căn cứ cho tới khi nó được viện nghiên cứu Hoàng gia xác minh, sau hàng loạt những bài báo cáo và thí nghiệm từ những học giả và nhà nghiên cứu có uy tín. Còn nếu không…

Sự cứng nhắc từ vị bác sĩ làm cho Reginald không còn chút hứng thú tranh luận nào.

– Đây là nơi giam Barret…

Reginald dừng lại trước căn phòng nhỏ tối tăm phía cuối hành lang, lối vào bị chặn bởi hàng chấn song gỉ sét. Chờ bác sĩ mở khóa và dẫn vào sâu hơn, Reginald ngó qua ô nhỏ trên cánh cửa sắt, thấy một người đàn ông trông không khác gì con gấu có bộ râu xồm xoàm đang cho quạ ăn. Harrold nhận ra lũ quạ đang mổ bầy dòi trên chiếc đĩa. Hết dòi lại đến quạ, hắn còn có thể bày những trò gì nữa đây?

– Barret, xem tôi mang ai tới này… – Harrold gọi, gõ vào cánh cửa.

Cái đầu rối như tổ chim của Barret quay ngược lại về phía Reginald. Hai mắt hắn chợt ánh lên những tia phấn khởi đến cuồng nhiệt.

– Ông chủ, là ngài sao? – Barret xông về phía cửa, bám lấy chỗ chấn song mà thốt lên.

Reginald giật mình bước lùi lại, Olivia cũng vậy. Mùi hôi nồng nặc và sự vồ vập của Barret làm họ cảm thấy mất tự nhiên đến mức sợ hãi. Có lẽ “ghê tởm” mới là từ chính xác để mô tả trạng thái cảm xúc của cả hai vào lúc ấy.

– Olivia, ta có thể khẳng định với ngươi rằng ta không biết hắn là ai. Nếu có gặp thì ta đã nhớ, và nếu có là người hầu trong nhà ta, ta cũng đã nhận ra rồi. – Reginald nói, mắt vẫn hướng về phía gã bệnh nhân với vẻ khó chịu.

– Vậy, tại sao hắn lại… – Olivia bàng hoàng.

– Ông chủ, ngài mang tới cho tôi con bé này đúng không? Rồi tôi cũng sẽ trở thành giống như ngài? – Barret nhìn Olivia, liếm mép thèm thuồng.

Cả Reginald và bác sĩ im lặng, hơi liếc mắt về phía Olivia.

– Chẳng phải ngài đã mong chờ nó từ rất lâu? – Barret cười thích thú. – Con bé lớn lên thì “ngon” lắm, chỉ tiếc là…

– Ta không mong chờ ai cả. Ta cũng không phải là chủ của ngươi. – Reginald lạnh lùng ngắt lời, không muốn nghe thêm những từ ngữ đê tiện nào về Olivia từ cái mồm dơ dáy của Barrett.

– Tôi cứ tưởng ngài sẽ đi mãi. Tôi làm sao quên được chứ: cái áo choàng đen của ngài, mái tóc đen của ngài và cả đôi mắt kia nữa, nhất là cái mùi máu tanh kết hợp với hương gỗ thông trên áo ngài. Mùi hương tuyệt vời!

Những lời tên điên thốt ra làm Olivia sợ hãi. Cô bé hướng mũi mình về phía vai Reginald, cố đánh hơi thứ mùi hắn nói, nhưng chẳng có gì ngoài hương nước hoa Cologne gỗ-xạ thơm nhè nhẹ thường ngày. Còn Harrold, anh ta đã quá quen với những lời nói ngớ ngẩn của Barret. Chúng chỉ là những lời vô nghĩa của một kẻ đã mất sạch lý trí.

– Bác sĩ Connor, xin lỗi đã làm phiền nhưng tôi không nghĩ mình giúp được gì cho anh… Tôi không hề quen biết Barret, lại càng không phải người có đủ khả năng để giải đáp những thứ thuộc lĩnh vực này. Tôi rất tiếc. – Reginald ngửa hai bàn tay lên, khẽ lắc đầu tỏ ý bất lực.

– Không, xin ngài đừng bỏ đi, ngài Bá tước! – Harrold cuống lên. – Chưa bao giờ Barret nói chuyện với ai lâu và tôn trọng như thế đâu.

Reginald nhìn thấy khuôn mặt ngơ ngác của Olivia rồi nhìn vào hai bàn tay mình, chợt nhớ ra.

– Bác sĩ Connor, tôi biết là hơi liều lĩnh—nhưng, cho tôi vào trong được không? – Reginald chỉ về phía Barret.

– Ngài định vào trong đó? – Connor lo lắng. – Nhưng Barret, lỡ hắn…

– Tôi tin là mình đủ khả năng kiểm soát được Barret.

Harrold tuy trong lòng vẫn còn phân vân, nhưng rồi cho qua vì nghĩ rằng vẫn còn một lớp cửa chắn giữa bệnh nhân và ngài “Bá tước”. Olivia đứng cạnh bác sĩ, bác sĩ đặt tay lên vai đứa nhóc, hy vọng đừng có chuyện gì xấu xảy ra với Reginald.

– Barret! – Reginald gọi hắn trong khi tháo chiếc găng phải.

– Tôi biết ngài định làm gì. – Barret không chút do dự nhìn thẳng vào mắt Reginald.

– Chỉ kiểm tra chút thôi…

Reginald định đưa tay lên trên trán Barret, nhưng lời nói vừa rồi của hắn khiến anh chững lại. Điều Reginald muốn làm lúc này không phải là thôi miên Barret.

– Đúng rồi, đúng là Bá tước Dracula. Ông ta luôn làm như vậy… – Barret kêu lên đầy thích thú khi tay Reginald chạm vào má hắn. – Tài năng đặc biệt của ngài Bá tước là thao túng và thôi miên…

– Ta đúng là người nhà Dracula, nhưng ta chắc chắn không phải chủ ngươi… – Reginald nhìn vào mắt Barret, nhẹ nhàng nói. – Ta không biết ngươi.

– Thưa chủ nhân, sao ngài lỡ phũ phàng như vậy? Tôi là kẻ đầy tớ hèn mọn và trung thành nhất của ngài! – Hai mắt Barret chợt long lên như đôi mắt của con bò tót giận dữ.

– Không. – Reginald lắc đầu.

– DRACULA, NGÀI LÀ ÔNG CHỦ CỦA TÔI! – Barret túm lấy cổ áo Reginald, nhấc bổng anh ta lên.

Harrold vội xô Olivia ngã ngược ra sau.

– Barret, tôi cần anh bình tĩnh lại! – Harrold nói lớn. – Bảo vệ!

– NGƯƠI CÚT ĐI! CHỦ NHÂN CỦA TA ĐÃ BỎ RƠI TA RỒI! – Barret quát.

– Barret, bỏ ta ra. – Reginald giằng tay gã tâm thần ra khỏi áo mình.

– BÁ TƯỚC, SAO NGÀI NỠ LÀM VẬY? – Barret quỳ mọp xuống đất mà khóc lu loa.

– Mau đi thôi! – Harrold kéo Reginald ra ngoài, nhanh chóng khóa cửa lại.

Reginald đứng lặng trong khi Olivia vẫn nằm bẹp dí phía xó tường, chưa kịp hoàn hồn. Cô bé thấy Barret thật là nguy hiểm, may sao Reginald đã làm gì đó khiến hắn trùng xuống như vậy. Chẳng phải bác sĩ có nói rằng Barret từng tấn công mọi người rất dữ dội ?

Thấy Reginald đang ở trong trạng thái thất thần, Harrold lại gần và hỏi han anh, cốt để giúp “Bá tước” lấy lại sự bình tĩnh:

– Bá tước, ngài không sao chứ?

– Tôi ổn. Tôi xin phép ra về. – Reginald gật đầu. – Đi thôi, Olivia. Bác sĩ không cần tiễn đâu.

– BÁ TƯỚC! – Barret gào lên, cả ba người đứng bên ngoài giật thót tim. – Xin hãy quay trở lại, xin hãy nói chuyện với tôi!

Reginald và Olivia vừa đi qua hành lang của bệnh viện vừa thở gấp. Những gì vừa xảy ra thật là đáng sợ, cả hai chẳng nói chẳng rằng. Ra tới sân ngoài, Reginald chợt lên tiếng, mắt hướng xuống đất.

– Barret nói ông chủ hắn mặc áo choàng đen…

– Vậy cái ngài đang mặc là gì?

– Đây là áo khoác, không phải áo choàng…

– Lằng nhằng. – Olivia gãi đầu. Cô bé thấy áo khoác hay áo choàng thì cũng đều chỉ để mặc ra ngoài thôi.

Từ trên cửa sổ phòng làm việc của mình, Harrold trông theo hai vị khách bước qua cánh cổng sắt lớn. Sự việc vừa rồi cũng gây cho anh một phen đau tim không kém. Harrold ân hận vì suýt chút nữa đã gây nguy hiểm cho Reginald và Olivia bởi quyết định thiếu sáng suốt của mình, chỉ vì đã quá hối hả với việc tìm hiểu căn nguyên tâm thần của Barret. Hắn ta là một gã khùng, Harrold tin tưởng vào ngài Bá tước hơn là một gã khùng. Tại sao anh lại có thể chủ quan cược cả tính mạng của một người đàn ông vào với gã khùng ấy?
Về phần Reginald, anh ta có vẻ là người kín đáo và chỉn chu. Từ người đàn ông trẻ ấy, như thể lúc nào cũng có một luồng áp lực nhất định thoát ra, khiến Harrold cảm thấy nặng nề — một cảm giác nặng nề khó tả. Có phải vì vẻ ngoài lãnh đạm, tung tích và cách hành xử kì lạ tạo cho gã một sức cuốn hút bí ẩn? Hay phải chăng nguồn gốc “ghê rợn” xa xưa của Reginald đã khiến Harrold phải dè chừng và nhún nhường?

Harrold ngồi xuống bàn, lấy ra cuốn sổ theo dõi bệnh nhân cùng sổ nhật kí, đối chiếu những ghi chép với nhau. Nhấp một chút café cho tỉnh táo, anh tiếp tục làm việc.

“Barret đã tấn công ‘Bá tước’!

Tôi thật không ngờ sự việc lại diễn ra theo chiều hướng tệ hại như vậy, và một lần nữa trách nhiệm lại thuộc về tôi. Barret là một kẻ không bình thường, vậy mà đôi khi tôi đã quên mất điều đó chỉ vì quá mải nghe những lời hắn thêu dệt. Reginald Arthur đã xác nhận rằng anh ta chính là Bá tước Dracula, nhưng lại không phải là người ‘Bá tước’ mà Barret muốn. Ngược lại, Barret một mực khẳng định hắn đã gặp được ‘ông chủ’ của mình và hết sức nhún nhường người này. Tâm trạng của hắn chuyển biến từ hồ hởi sang tự tin, rồi tăng dần nỗi thất vọng trước sự khước từ của Reginald, và cuối cùng là phẫn nộ, chút nữa đã tấn công ngài ấy. Bá tước hẳn đã không lường trước được khả năng sẽ bị Barret tấn công nên mới có thái độ kinh hãi như vậy. Điều kỳ lạ là ở chỗ, Barret đã vô cùng tuyệt vọng và điên cuồng — như thể sắp giết chết Dracula — nhưng lại thả tay ra và khóc lóc. Tôi để ý tới mọi nhất cử nhất động của Reginald: cái tiếp xúc với da, cái giao tiếp bằng mắt… Barret nói rằng ông chủ cũng luôn làm vậy, thật khó hiểu! Rốt cuộc tôi nên tin ai, và ai mới là người tỉnh táo trong trò chơi này? Là do tôi mắc chứng hoang tưởng rồi sinh đa nghi, hay chỉ vì tôi đã quá mệt mỏi?(…)”

Harrold cứ ngồi viết ra những dòng nhật ký dông dài mà quên mất cả sự hối hả trôi đi của dòng thời gian. Ngoài những trang giấy, bác sĩ không còn biết phải làm sao để bao bức bối, băn khoăn của mình có thể vơi đi.

* * *

Vừa về tới lâu đài, Olivia đã vội vã chạy khắp nơi đi tìm chú chó đen hung dữ một cách đáng yêu ấy; trong khi Reginald ngồi gục xuống tại phòng khách, mệt mỏi và im lặng, quên luôn cả cơn giận gã đã ấp ủ để dành cho đứa nhóc bắng nhắng tội nghiệp. Reginald vốn đã căng thẳng, sau chuyến đi tới bệnh viện tâm thần lại càng tỏ ra căng thẳng và lo lắng hơn. Gã ngồi vắt tréo chân, hai bàn tay đan chặt vào nhau, mắt nhìn xuống mặt bàn. Reginald cứ cắn vào môi và giữ nguyên tư thế gò bó ấy cùng cái cau mày đầy khó chịu.

Olivia rất muốn có Reg ở bên và chơi đùa với mình vào lúc này. Nhóc đã đi khắp nơi tìm nhưng vẫn không thấy thú cưng mới của mình đâu cả. Nản chí, buồn bã, con bé lăn vật xuống ghế, cất tiếng hỏi trong mệt mỏi:

– Reg, mày đâu rồi?

Nhìn thấy bộ dạng khổ sở của Reginald, Olivia lại gần. Lay lay cổ tay áo Reginald, đứa trẻ ngó lên:

– Ngài có sao không?

Reginald chỉ lắc đầu, vết cắn môi xót lên.

– Là chuyện của Barret? Thôi, quên nó đi. Barret là đồ điên, hắn không đáng để ngài phải phiền lòng đâu.

– Không, ngươi không hiểu đâu nhóc. Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều.

– Tôi chỉ thắc mắc là tại sao hắn lại biết ngài lẫn trò thôi miên của ngài trong khi ngài liên tục nói rằng ngài chẳng biết hắn là ai. – Olivia nói bâng quơ, cho rằng Reginald đã không thành thật trong câu chuyện.

– Ngươi nghi ngờ ta? – Reginald lừ mắt nhìn Olivia.

– Không, chỉ là…

– Nghe này nhóc, thế giới của ma cà rồng rất phức tạp. Tốt nhất ngươi nên tránh xa ra. – Reginald dọa dẫm. – Ta nghi có kẻ đang muốn chơi xỏ chúng ta, Olivia.

– Chơi xỏ? Tôi không hiểu!

– Ý ta là Barret đang chịu sự điều khiển của kẻ nào đó. – Reginald bực bội vì sự chậm chạp trong suy nghĩ của Olivia. – Đáng ngờ lắm, nhóc ạ!

– Ngài thì gây thù chuốc oán với nhiều người quá rồi. – Olivia đùa cợt. Cô bé nằm ngả ngốn ra ghế, tiện gối đầu vào người Reginald. – Lần nào cũng có kẻ tìm đến và chúng đều biết tên ngài. Sống được ba thế kỷ rồi thì số lượng những kẻ ghét ngài chắc không ít đâu.

– Reg thế nào? – Reginald chợt thay đổi chủ đề. Anh muốn làm Olivia phân tán khỏi chuyện về Barret.

– Reg? – Olivia ngạc nhiên. – Nó dữ lắm, suýt cắn tôi đấy! Sao ngài không mang về một con cún, có phải như thế sẽ dễ thương và dễ nuôi dạy hơn không?

– Ồ thế hả? Sao ta không nuôi một em bé thay vì ngươi? Rõ ràng một đứa bé sẽ ngoan ngoãn và dễ thương hơn ngươi, đúng không.

– Thôi nào Reginald, tôi biết ngài đâu ghét tôi. Nếu có thì ngài đã đuổi tôi đi từ lâu rồi, chưa kể còn mua Reg cho tôi nữa. Tôi quý ngài lắm nên mới đặt tên con chó theo ngài đấy. – Olivia cười, lè cái lưỡi hồng nhạt ra. – Tôi đâu có dữ như Reg!

– … – Reginald nhướn mày. – Ngươi có hứa sẽ chăm sóc nó cẩn thận không? Chừng nào ta cảm thấy yên tâm thì Reg mới về đây.

– Tôi yêu nó lắm, tôi hứa!

– Ngươi sẽ được gặp Reg sớm thôi, giờ thì đi ngủ đi. – Reginald đẩy Olivia ra khỏi người mình, đuổi cô bé lên phòng.

– Chúc ngủ ngon, Reginald. – Olivia bỏ đi với nụ cười ranh mãnh.

– Chú ngươi ngủ ngon, nhóc.

Reginald ngồi một mình trong phòng khách. Thỉnh thoảng anh ta lại thở dài.

“Chuyện này nên giải quyết cho xong trước kỳ trăng tiếp theo. Ta mệt lắm rồi.” – Reginald thầm nghĩ trong bực bội. – “Nhưng ai?”

Đêm hôm ấy, Reginald lại nghe thấy tiếng khóc đứt quãng đầy mệt mỏi phát ra từ phòng ngủ của Olivia. Cửa phòng bị bật nhẹ ra, có cái bóng đen to lớn lẻn qua, tiến dần về phía giường Olivia. Cô bé khóc trong lúc vẫn còn đang mê ngủ, hai tay túm chặt lấy gối. Phần ga giường kề bên gương mặt nhỏ nhắn ướt đẫm nước mắt. Chú chó đen nhẹ nhàng rúc đầu qua cánh tay Olivia, lấy chân trước của nó vuốt lên má con bé. Olivia ôm lấy cái chân đặt trên má nhóc, cơn nghẹn ngào dần qua đi.

* * *

Sáng sớm, Olivia tỉnh dậy, nheo mắt nhìn vài sợi tóc dính trên gối mình. Chúng có màu đen, ngắn và thẳng, rõ ràng không phải của cô bé — giống lông động vật hơn. Olivia chẳng muốn suy nghĩ lâu cho thêm rắc rối, bởi chỗ tóc-lông ấy có thể là của bất cứ ai. Cô bé chạy xuống tầng một rồi ra đứng đợi ngoài cổng sắt, nhìn cái gốc cây đã bị sét đánh gãy từ ngày mình và Reginald còn chơi “đuổi bắt” trong tòa lâu đài. Báo sắp sửa được mang tới đây, Olivia phải mua một tờ cho Reginald. Vừa mới nghĩ tới, cậu đưa báo đã đến nơi. Cậu ấy hơi gầy, có khuôn mặt trái xoan trẻ trung với cái miệng giông giống đôi môi của con cá hồi, tuổi chắc chỉ ngang Olivia.

– Chào Olivia. – Cậu đưa cho Olivia tờ báo được cuộn gọn lại, bẽn lẽn nhìn cô bé. – Báo của cậu đây…

– Chào Seth. – Olivia lạnh nhạt.

– Tớ…

– Bận lắm, Seth! – Olivia đi vào trong, bỏ mặc Seth đứng bên ngoài đầy hụt hẫng.

– Thôi, để lần sau vậy… – Seth nói nhỏ, lặng lẽ bỏ đi.

Olivia cảm thấy khó chịu với cậu giao báo rụt rè. Seth có vẻ muốn nói chuyện với Olivia nhiều hơn, nhưng Olivia ghét cậu ta, ghét thằng “mặt cá” đó.

– Báo của ngài đây. – Olivia đưa tận tay cho Reginald.

– Thằng nhóc tội nghiệp! – Reginald nói nhỏ, nghĩ về việc Seth bị Olivia đối xử thật phũ phàng. – Cảm ơn, nhóc.

Reginald mua báo và đọc mỗi ngày không hẳn vì anh ta quan tâm tới thị trấn này, mà vì chứng hay lo âu của một kẻ đã từng giết người giấu xác. Gã ma cà rồng muốn biết liệu những linh cảm của mình đúng, hoặc nếu cái kết cục xấu xí nhất xảy ra – cái kết cục mà hầu hết những kẻ thủ ác đều phải gánh nhận – thì gã nên làm gì để đối phó.

– Xem này Olivia… – Reginald chỉ vào dòng tiêu đề to đùng trên trang nhất về một xác chết nam được cảnh sát tìm thấy.

– Ồ Reginald, ngài gặp rắc rối to rồi! – Olivia đọc lướt qua phần mô tả cùng địa điểm của hiện trường. Cả hai đều biết rõ cái xác đó không ngoài ai khác là John-Michael — tên ma cà rồng bắt cóc Olivia đã bị Reginald cứa cổ. – Họ sẽ bắt ngài nếu chuyện này bại lộ chứ?

– Ta không biết nữa, nếu trường hợp tồi tệ nhất xảy ra thì… – Reginald nhìn Olivia bằng ánh mắt căng thẳng. Không lẽ anh đã quên xóa đi một hai dấu vết nào đó trong lúc tinh thần không được ổn định?

Olivia thấy Reginald luôn quan trọng hóa từng vấn đề một dù chỉ là những điều rất nhỏ nhặt. Nhưng lần này, Reginald hoàn toàn có lý do để tỏ ra lo lắng. Cảnh sát có thể sẽ bắt Reginald đi tù, thậm chí kết án tử hình anh ta. Lúc ấy ai sẽ ở bên cạnh Olivia?

– Tôi lo lắm! – Olivia cắn vào móng tay mình, đưa ánh mắt cún con tội nghiệp nhìn Reginald.

– Ngươi sợ gã Joseph sẽ đến gõ cửa nhà chúng ta và còng tay ta lại, bắt vào tù? – Reginald kéo tay Olivia ra khỏi miệng con bé. Việc cắn móng tay vừa mất vệ sinh lại còn gây chảy máu. Anh không thích ngửi thấy mùi máu của Olivia. – Olivia, ta…

Tiếng gõ đều đều vang lên từ cửa chính cắt ngang lời Reginald, Olivia giật thót. Cô bé chạy ra mở cửa. Người đang đứng ngoài không ai khác là cảnh sát trưởng.

– Chào buổi sáng, Olivia.

– … Chú Joe… Sao chú đến đây vậy? – Olivia cười mếu máo. Thật trớ trêu khi ông cảnh sát lại tới đúng thời điểm nhạy cảm như thế này.

– Ta thấy cháu vừa mua báo, vậy chắc cháu cũng biết về người thanh niên bị giết ở khu rừng trên đồi rồi chứ?

– Vâng… – Olivia liếc về phía Reginald.

– Bố cháu, ông ấy có nhà không? – Joseph ngó vào trong để tìm Reginald.

– Dạ…

– Tôi đây, thưa cảnh sát trưởng. – Reginald bước ra với thái độ dửng dưng như chẳng có gì xảy ra.

– Tốt lắm. Tôi muốn cả hai hãy đề cao cảnh giác hết mức, đặc biệt là Olivia. Cháu không nên đi chơi về muộn như vậy nữa. Tốt nhất là phải có người lớn đi cùng cháu…

– Vâng, chúng tôi sẽ ghi nhớ. – Reginald gật đầu cho có, cũng muốn Joseph biến đi càng nhanh càng tốt.

– Forest Hill là một thị trấn không hề nhỏ, nhưng rất thưa thớt. Tôi hy vọng không có chuyện gì xấu xảy ra. Tên sát nhân rất có khả năng vẫn đang lảng vảng quanh đây, sẽ rất khó để cầu cứu hay chạy trốn… – Joesph nhìn về phía Reginald khi nói những lời đó. Cả hai luôn nhìn nhau bằng ánh mắt dè chừng. – Dù sao thì, tôi tin hai người đây không dại gì mà chơi đổ xúc xắc với Thần chết. Hãy đề cao cảnh giác. Tạm biệt.

– Tạm biệt, cảnh sát trưởng. – Reginald hơi giơ tay lên chào Joseph.

Chờ cho viên cảnh sát đi khỏi tầm mắt, Olivia mới thở phào:

– Hú hồn! Ngài chỉ ăn may vì họ chưa điều tra ra thôi. – Olivia cắn móng tay, bám vào khuỷu tay gã ma cà rồng. – Reginald, chúng ta phải làm gì đây? Tôi…

Nhìn bộ dạng sợ hãi của Olivia, Reginald dù trong lòng như có lửa đốt vẫn tỏ ra thản nhiên, an ủi con bé:

– Thôi, nhóc, đừng nghĩ nhiều làm gì. Ngươi muốn ở đây với ta đúng không? Vậy ngươi phải hứa từ giờ sẽ nghe theo lời ta nói, nhớ? – Reginald nhìn theo cái gật đầu thật thà của Olivia. – Ta sẽ cố khắc phục chuyện này, được chứ? Tới ta còn đang bận nghĩ về tên Barret điên khùng đây…

– Ngài vẫn nghĩ về Barret? – Olivia ngạc nhiên.

– Ừ…

– Vậy ngài có định gặp hắn nữa?

– Ta cũng định… – Reginald nhún vai. – Ngươi ở nhà chứ?

– Vâng, sau sự việc ngày hôm qua tôi không dám đi nữa đâu. – Olivia cười ngượng nghịu, cầm lấy tay Reginald. – Ngài cho tôi gặp Reg được không?

– Lúc này thì không.

– Tại sao? – Olivia nhăn nhó.

– Vì ta nói thế. Giờ thì lên phòng hoặc đi đâu thì đi đi. – Reginald đẩy Olivia ra xa khỏi người mình.

Olivia vụt thoát khỏi tầm với của Reginald.

– Tôi sang nhà Jules nhé?

Reginald tảng lờ Olivia, giở báo đọc nốt những mục còn lại. Anh nhìn xuống phần ký tên của tác giả đã viết về John-Michael, lấy chồng báo cũ xếp trên kệ bên bàn ra xem.

“Nếu trí nhớ không đánh lừa ta thì… W. Huffington, W. Huffington…” – Reginald lật nhanh từng trang giấy. Rất nhiều bài báo với nội dung mang tính hình sự đều được thực hiện bởi người lấy bút danh này thì phải.

Reginald cất chỗ báo lại, quyết định đi nghỉ một chút. Anh về phòng, nằm lên giường nhưng không thể ngừng nghĩ về cái tên “W. Huffington”. Cuối cùng cũng thanh thản được một chút, hướng suy nghĩ của gã ma cà rồng có vẻ vẫn tiếp tục đi theo đúng con đường.

* * *

Mấy hôm nay Jules bị sốt, tình hình không đến nỗi quá nghiêm trọng. Cô khóc nhiều tới mức làm nhăn một nửa chiếc gối, hai mắt sưng vù lên. Olivia không ngờ rằng việc sang nhà con gái cảnh sát trưởng chơi lại là đi thăm bạn ốm.

Olivia cùng Jules trò chuyện rất lâu. Jules cũng tỏ ra phấn chấn hơn sau khi tâm sự với người bạn hàng xóm về những điều khiến cô buồn. Thì ra hai bố con nhà Phan đang giận nhau, cụ thể hơn là Jules giận bố mình vì nghiện hút thuốc trở lại. Joesph có vẻ rất ân hận, nhưng rồi vẫn chứng nào tật nấy, cứ quấn quýt với bao thuốc không rời. Olivia cũng nhận ra mùi khói khét lẹt trên quần áo của cảnh sát trưởng khi nói chuyện với ông ta, nhưng cô bé không kể với Jules vì sợ làm bạn lo lắng thêm.

– Này Jules, đừng suy nghĩ nhiều nữa. Tớ chắc bố cậu cũng có vấn đề riêng của ông ấy thôi, nói chuyện với ông đi.

– Không! – Jules bướng bỉnh.

– Thôi nào, sao lại thế? Joe là người thân còn lại duy nhất của cậu mà. Cậu không nghĩ đến một ngày nào đó, bố cậu không còn trên đời để cậu có thể cho chú ấy biết cậu yêu ông đến mức nào? – Olivia nói nhỏ. Con bé khuyên nhủ như vậy vì nó hiểu cảm giác phải lớn lên mà không có gia đình đau khổ ra sao.

– Tớ hiểu rồi… Tớ sẽ nói chuyện với bố khi ông về. – Jules chợt cảm thấy mình thật cứng đầu.

– Vui lên đi. Reginald cho tớ một chú chó đẹp lắm, bao giờ cậu khỏi tớ muốn chúng ta chơi cùng nó. – Olivia hứng khởi khoe về Reg.

– Tuyệt quá! Nó tên gì vậy? Bố tớ cũng từng nuôi hai con chó Đức đấy: một con chăn cừu thuộc về đồn cảnh sát cho đến khi bị mất khả năng đánh hơi, và một con Dobermann Pinscher ông nuôi từ trước. Hãy mang chó của cậu đến đây đi, bố tớ sẽ dạy cho nó vài trò hay.

– Tên nó là Reg, khá khó tính. Tớ hứa nếu cậu không giận bố nữa, tớ sẽ mang nó tới cho chú Joe và cậu.

* * *

Olivia trở về nhà khi trời đã tối. Đứa trẻ vì quá ham chơi mà quên hết cả khái niệm về thời gian. Giờ thời tiết đã chuyển lạnh: gió mùa thổi tới rất nhiều, trời lại càng thêm tối nhanh – khu rừng Forest Hill cũng vì thế mà càng thêm đáng sợ trong mắt lũ trẻ con giàu trí tưởng tượng. Nghĩ từ nhà Joseph trở về lâu đài đâu xa lắm, chỉ cách có một quãng đi bộ rồi lên đồi, Olivia chạy ra phía trung tâm thị trấn. Nhóc phóng tầm mắt của mình ra khắp nơi quanh quảng trường, nhưng chẳng thấy ông già hiền hòa nào ngồi ở đó cả.

– Olivia, sao giờ này cháu còn ở ngoài vậy? – Cảnh sát trưởng đang đi tuần thì vô tình gặp cô nhóc đứng ngơ ngác. Ông hơi nhấc mũ lên để chào, cũng để nhìn con bé cho rõ.

– Cháu đang về đây… Chào chú Joe! – Olivia chạy thục mạng về, chỉ sợ ông cảnh sát lại hỏi han linh tinh thì phiền phức.

Nghe thấy tiếng sủa lớn vang lên từ hướng đối diện, Olivia ngước nhìn, mỉm cười vui sướng với chú chó đen đang chạy về phía mình.

– REG! – Olivia ngồi thụp xuống đường bên chú chó, vuốt ve nó. – Mày đi đâu đấy? Chắc Reginald xấu tính lại giấu mày đi đúng không? Đi về nhà đi, tao sẽ năn nỉ ngài ấy bằng được.

Reg rõ ràng hiền hơn so với lần đầu Olivia gặp nó; thậm chí, nó còn tự động đi theo cô chủ. Nhưng thật kỳ lạ, chú chó cứ dần vượt lên phía trước, bốn chân chạy thoăn thoắt.

– Đi chậm lại, Reg! Không cần phải chạy đâu…

Reg chạy càng lúc càng nhanh. Olivia từ một người dẫn đường trở thành kẻ đuổi theo sau, sớm cảm thấy kiệt sức.

– Reg, dừng lại đi! Nhà ngay ở kia rồi! – Olivia thở hụt hơi, không đuổi theo nổi nữa. – Mày chạy đi đâu?

Trời đã tối từ lâu, Olivia muốn tìm Reg bằng được nhưng nó lại chạy tít vào trong rừng. Cô bé sợ những lời cảnh báo của cảnh sát trưởng và cả những chuyện không hay đã từng xảy ra trước đây, đành vào trong lâu đài, định sẽ tìm thú cưng của mình vào sáng mai. Loài chó biết tự đánh hơi tìm đường về mà. Giờ này Reginald không còn ở nhà, tốt nhất là cứ khóa cửa cẩn thận đã.

* * *

– … và cứ thế cứ thế, chúng tạo thành một vòng tuần hoàn kín, một chuỗi mắt xích được nối với nhau thành vòng tròn. Cứ loài này làm thức ăn cho loài kia, kể cả con người cũng sẽ bị tiêu hóa bởi những động vật khác.

Reginald đứng tựa vào góc tường, đối mặt cánh cửa buồng giam bệnh nhân Barret, gương mặt lộ rõ sự chán chường trước những lời nói dông dài. Gã ma cà rồng ân hận vì đã mất công “xin phép” bác sĩ Connor gặp kẻ loạn thần Barret, vì nghe Barret nói chẳng khác gì tra tấn.

Reginald giơ bàn tay lên, định mở miệng cất lời…

– Ngài bá tước, tôi chưa xong!

“Lạy lòng nhân từ!” – Reginald tự đập đầu mình vào tường, tưởng rằng cuối cùng Barret cũng đã im lặng. – “Ta chỉ muốn đánh chết hắn!”

– Ngài luôn nói với tôi rằng máu là nguồn sống cho muôn loài, chỉ tồn tại ở những trạng thái khác nhau. Người cần máu để sống, họ ăn để tạo ra máu — giống như cây cối cần có nước. Thậm chí hành động hít thở cũng chỉ để nuôi dưỡng máu; vậy suy ra, chừng nào còn giữ được máu, chừng ấy chúng ta sẽ tiếp tục sống. Và điều gì sẽ xảy ra nếu ta duy trì được dòng máu chảy vô tận trong huyết quản, ngài hãy nói cho tôi?

– Ta bất tử? – Reginald mỉa mai.

– Chính ngài đã nói với tôi như vậy, ngài không nhớ sao, thưa ông chủ? Chính ngài đã dạy điều đó cho tôi và tôi đang hiện thực hóa nó đây. Tôi muốn được trở thành một kẻ bất tử như ngài!

Reginald giật mình, vội nhìn xung quanh. Thật may mắn, không có ai ở đây nghe lỏm cả.

Lúc này, dù đã mất hết kiên nhẫn, Reginald vẫn cố kiềm chế. Anh với tay về phía Barret ra hiệu hắn hãy im lặng, nói nhỏ:

– Barret, ta có điều này muốn nói với ngươi nữa, nhưng ngươi phải im đi.

– Tôi xin nghe theo mệnh lệnh. – Barret ngoan ngoãn phục tùng.

Reginald nhẹ nhàng đứng dậy và tiến về phía gã tâm thần.

– Ngày xửa ngày xưa… – Reginald nói chậm. – Ngủ đi nào.

Reginald bóp mạnh vào gáy Barret. Bệnh nhân bất tỉnh, ngã lăn ra đất.

* * *

– Cảm ơn vì đã cho phép tôi được nói chuyện với bệnh nhân mà không cần có sự giám sát. – Reginald bắt tay Harrold.

– Không có gì. – Harrold tươi cười. – Tạm biệt ngài, Bá tước Dracula.

Chờ cho vị khách đặc biệt đã đi khỏi, Harrold bừng tỉnh, nhìn ra xung quanh. Tại sao anh lại đứng trước cổng? Chẳng phải anh đang ngồi trong phòng làm việc?

* * *

Reginald đi theo đường mòn để trở về tòa lâu đài, mải mê nghĩ về những lời nói của gã khùng Barret. Không chỉ Reginald mà bất cứ ai cũng bực mình vì cách nói chuyện vòng vo và lủng củng về những thứ có vẻ “cao siêu” như sự bất tử hay nguồn sống ấy. Nhưng đó chỉ là bề nổi. Điều mà Reginald bất đắc dĩ quan tâm tới là giọng điệu và cách Barret lập luận có chút gì đó sao thật “thân quen”.

“Chẳng thứ nào trên đời này tồn tại mãi, hay không gì là không thể?” – Reginald cảm thấy bị áp lực, đâm khó chịu với bản thân, với những người khác, với tất cả mọi thứ. – “Đôi khi vẫn xuất hiện những trường hợp ngoại lệ…”

Đứng trước ngã ba, gã chợt chuyển hướng và quyết định không về lâu đài ngay lúc này.

* * *

– Ê, ngài về rồi kìa! – Olivia reo lên, đóng luôn vở lại. Nụ cười của nhóc méo xệch đi vì vẻ bất mãn hằn rõ trên gương mặt Reginald.

– Muộn rồi, nhóc. Sao ngươi không đi ngủ đi? – Reginald ngạc nhiên khi thấy Olivia vẫn còn học vào lúc này. Gã ngồi xuống bên cạnh Olivia, nhìn vào vở của con bé. Chắc bài vở khó quá nên nhóc chờ Reginald về giúp, không nên mắng mỏ nó làm gì.

– Tôi không ngủ được. – Olivia buông bút, vươn vai ngả ra sau. Gối đầu lên chân Reginald, con bé nhận ra người gã có mùi rượu. – Chuyến đi thế nào?

– Rối như tơ vò. – Reginald thở dài, lấy tay gạt đầu Olivia ra nhưng nhóc nhất quyết không chịu.

– Cho tôi nằm! – Olivia nhăn nhó. Con bé thích đùa cợt, nhưng Reginald thì không. Olivia thích làm những hành động kì quặc khi ở bên cạnh Reginald, sự khó chịu của anh làm nhóc thấy buồn cười.

– Ngươi muốn nằm thì đi lên phòng. Đầu gối của ta không phải gối của ngươi.

– Đầu gối của ngài cũng chẳng êm như ngài nghĩ đâu! – Olivia đấm vào chân Reginald.

Chợt hai vai anh ta rung lên vì cười.

– Ngươi biết chúng ta đang làm gì không, Olivia? – Reginald nhìn cô bé.

– … Tôi không biết? Tôi thấy như thế này vui mà. Nhưng nếu ngài…

Reginald chống tay lên cằm.

– Ta không thích nói chuyện phiếm…

– Nhưng ngài đang nói chuyện phiếm mà?

– Ngươi biết tính lịch mặt trăng không? Hoặc biết về sự ảnh hưởng của mặt trăng tới thủy triều và những thứ khác?

– Không, và không. – Olivia lắc đầu. – Chẳng phải ngài đã nói với bác sĩ Connor về việc này?

– Đúng rồi. – Reginald gật đầu.

– Vậy…? – Olivia nhìn Reginald bằng ánh mắt khó hiểu. Cô bé rất ghét phải đoán mò trước những lời nói cụt lủn của ngài ấy.

– Nhiều người tin rằng trong khoảng thời gian từ lúc mới mọc cho đến khi khuyết, có những giai đoạn mà mặt trăng mang ảnh hưởng xấu hoặc rất xấu — như là trăng tròn và trăng non chẳng hạn. Những người kém may mắn nhất được sinh ra vào đúng thời điểm trăng non thường mang một số vấn đề tâm lý hoặc tổn thương nhất định, có nhiều mâu thuẫn trong cảm xúc và tính cách, cũng như trong những mối quan hệ với người khác. Khi trăng tròn, tâm trạng của họ càng đổi khác và thất thường hơn.

– Tại sao ngài lại nói với tôi về thứ này?

– Ta không biết nữa. – Reginald nhún vai, tự trách mình đã buột miệng nói ra những điều ngớ ngẩn ấy.

Olivia có thể là một đứa trẻ khờ, nhưng con bé đủ nhạy cảm để hiểu những lời vừa rồi giống như một tín hiệu yếu ớt bày tỏ mong muốn được cảm thông từ Reginald. Thật buồn vì ngài ấy luôn cố chứng tỏ mình là một người cứng rắn không cần ai quan tâm hay lo lắng đến. Tại sao cứ phải gồng mình lên?

– Ngài… Có phải ngài là người như vậy không? Ngài từng bị tổn thương? Tôi biết một số người hay lảng tránh nói cho người khác về mình vì họ cảm thấy xấu hổ, thậm chí là nhục nhã… – Olivia chợt lúng túng. – Chúng ta có thể chia sẻ bí mật với nhau, Reginald, như những người bạn tâm tình ấy. Điều gì khiến ngài căng thẳng?

Reginald chỉ nuốt khan mà không nói gì, làm Olivia bực bội. Con bé muốn thông cảm với Reginald, nhưng gã chẳng bao giờ chịu hợp tác.

– Reginald, tôi hỏi, ngài trả lời. Đó là phép lịch sự cơ bản.

– Nghe này, ta phải đi đây. – Reginald đứng dậy và chỉ vào cái đồng hồ cầm tay của mình. – Ngủ sớm đi nhóc, nếu ngươi không muốn lại bị bệnh.

Reginald bỏ đi, Olivia vẫn ngồi ở phòng khách, chưa chịu đi ngủ. Không biết bao nhiêu lần con bé đã bắt gặp Reginald cứ ngồi suy nghĩ một mình, gương mặt u uất. Olivia hiểu có những ký ức quá ghê tởm mà mọi người không thể hoặc không đủ tin tưởng để chia sẻ với ai; họ cố gắng chôn vùi chúng trong lòng mãi mãi, nhưng thỉnh thoảng vẫn cảm thấy nhói đau như vết thương lâu ngày trở trời. Nếu Reginald cũng là trẻ mồ côi, cô bé hoàn toàn có thể đồng cảm được chứ? Đau thương và mất mát là điều không ai muốn; nhưng một khi chúng đã xảy ra, Olivia muốn được giúp đỡ những người bạn của mình.

“Đợi đã, lại quên hỏi Reginald về con Reg rồi!” – Olivia đập mạnh tay xuống bàn, tức tối vì chưa tìm được chú chó thất lạc.

* * *

Kể từ sau ngày hôm đó, mọi thứ có vẻ dần quay trở về quỹ đạo cũ của nó. Olivia vẫn làm những trò nghịch ngợm bên cạnh và chọc tức gã ma cà rồng mỗi khi vẻ mặt của Reginald trở nên đăm chiêu. Rồi cô bé lại đi học, lại bị bắt nạt, lại gặp ông già râu xám vào mỗi buổi chiều. Sau đó Olivia lại trở về nơi ở, vẫn cố gắng tỏ ra ngây ngốc và vui vẻ như chẳng có gì xảy ra.

Bác sĩ Harrold tìm thấy một bức thư đặt trên bàn với chữ ký của Bá tước. Anh ta đọc nó rất lâu.

Reginald đứng trước cửa buồng giam của Barret, lần này anh ta đã tính toán cẩn thận hơn nên viết hẳn một bức thư hỏi phép Harrold và xin chịu mọi trách nhiệm về mình. Reginald không ngờ bác sĩ gửi lại lời đồng ý và sẵn sàng đưa nó cho bất cứ ai thắc mắc tại sao Reginald lại tới bệnh viện một lần nữa. Nhưng lần này, Harrold cùng những người theo dõi khác sẽ quan sát nghiêm ngặt mọi cử động và lời nói của cả hai, rồi ghi chép lại bằng phương pháp tốc ký.

Barret đang vặt trụi lông những con quạ đen mà hắn dụ được từ đĩa dòi lần trước. Hắn cười khanh khách, tỏ ra thích thú trước những tiếng kêu inh ỏi đầy đau đớn của bầy chim.

– Ngươi lại tới hả? – Biết người đằng sau mình là Reginald, Barret không buồn quay lại.

– Không “ông chủ” nữa à? – Reginald mỉa mai.

– Ngươi là Reginald. – Barret nói trong khi mải mê chơi cùng lũ quạ bị trói chân, không buồn tiếp xúc bằng mắt với Reginald như trước.

– Đúng.

– Ngươi không phải là Bá tước Dracula. – Barret nói với giọng khinh khi.

Reginald im lặng, hơi ngẩng cao đầu thêm chút nữa, hai tay khoanh hờ trước ngực. Harrold liếc nhanh qua tư thế ấy, chưa bao giờ Reginald tỏ ra quan tâm tới Barret như lúc này.

– Ngươi không phải là ngài ấy, không phải Bá tước! – Barret ngắm nghía con quạ trọc lốc bằng cặp con ngươi nâu nhạt nở to như đồng xu.

– Vậy Bá tước là ai? – Reginald khẽ hỏi, thấy bầu không khí xung quanh lại bắt đầu nặng nề.

– Ông chủ nói rằng nếu ngươi chịu đào sâu suy nghĩ, ngươi sẽ tìm được câu trả lời.

“Vô vọng rồi!” – Reginald nghiến răng, trút tiếng thở dài.

– Reginald! – Barret chợt nói to đầy vội vã. – Bá tước muốn ngươi biết rằng ngài ấy nhớ ngươi!

– …

– Máu của những loài hạ đẳng hơn ngươi cũng không đến nỗi, Reginald. Nhưng đừng quên ngươi là ai!

Barret ngửa mặt lên trên cao, cất những tràng cười ha hả. Tên điên ấy còn nói rất nhiều điều khác nhưng không một ai có thể hiểu nổi, khi mà hắn cứ cắn vào cổ những con quạ khiến máu chảy ra xối xả, vừa uống vừa gào lên. Reginald bỏ về trong sự buông xuôi của Harrold, trong trạng thái thất thểu của chính mình. Không ai nói với nhau — nhưng, nhìn nhanh qua ánh mắt, họ hiểu lúc này thật sự không nên trao đổi gì, cũng chẳng cần phải chào hỏi hay tiễn biệt.

“Hắn là một kẻ mất trí! Mất trí từ lâu rồi!” – Harrold lắc đầu. – “Biết đâu một ngày nào đó Barret sẽ nhận ta là ông chủ của hắn, gây biết bao phiền phức rồi rũ bỏ phũ phàng cũng nên!”

* * *

Reginald trở về lâu đài. Đáng ra nó phải là một tòa lâu đài to lớn và yên ắng trong đêm, nếu như không có tiếng khóc của Olivia.

Cẩn thận nhấc từng bước lên cầu thang, Reginald hé cánh cửa phòng đi vào trong, quỳ nửa đầu gối bên giường con bé. Những tiếng rên thảm thiết của Olivia luôn làm anh bối rối đến nhức nhối tâm can. Rốt cuộc thì điều gì đã xảy ra với đứa nhóc ấy? Điều gì đã khiến nó trở thành như thế này? Reginald rất muốn giúp, nhưng anh không đủ can đảm để cất lời — vì anh biết, và anh sợ những câu hỏi riêng tư sẽ chạm đến lòng tự ái của một người khi bị chất vấn về những vết nhơ trong cuộc đời. Một tay Reginald khẽ cầm lấy bàn tay Olivia, tay còn lại anh lau bớt lớp mồ hôi vã ra trên trán nó. Những tiếng khóc ấy sẽ còn mãi và anh tự thấy mình không tài nào có thể làm con bé nguôi ngoai. Olivia cần một người bạn chân thành và thật thà hơn Reginald. Khẽ thở dài, Reginald ngước qua cửa sổ, nhìn lên bầu trời: ngày mai sẽ là đúng rằm.

Anh nên nhanh chóng kiếm một con chó cho Olivia, và tìm nốt con chó săn tin còn lại.

* * *

Joseph trở về nhà khi trời đã khuya. Vừa mở cửa, cảnh sát trưởng thấy bóng con mình đang ngồi trên ghế.

– Bố?

– Con, con lại mộng du rồi. Để bố đưa lên nào… – Joseph kéo khuỷu tay Jules đứng dậy.

– Không, con cố thức tới tận bây giờ. Con muốn chúng ta nói chuyện. – Jules cố kiềm chế hết mức, nhưng mùi khói thuốc lá ám vào áo bố cô cứ bay đi khắp nơi, sực nức quanh mũi cô.

– Hãy nói vào ngày mai nhé. – Joseph nằm vật ra ghế, không buồn thay đồ.

– – – – – – – HẾT PHẦN 11 – – – – – – –


"Phần 12. Lunatic - Những chú chó" bởi iamDage
Đêm hôm trước, trong chuyến đi tuần tại vùng thung lũng của mình, một người cảnh sát trẻ nghe thấy có tiếng bò rống và tiếng súng nổ giữa đêm. Tới nơi, cậu bắt gặp ông già chủ trại đang phàn nàn về kẻ đột nhập nào đó dám lẻn vào chuồng bò của ông, thản nhiên nằm ngủ ở đó — nên ông phải dùng súng đuổi hắn đi. Viên cảnh sát tóm gã thanh niên đang nằm dài bên đống rơm kia lại, bắt về đồn tạm giam. Sáng sớm, kẻ đột nhập bị đánh thức dậy để tra khảo. Cậu ta bị thương ở trán, hai bàn tay trầy xước, áo quần bẩn thỉu, ngồi nhìn tay cớm đêm qua bằng ánh mắt ngơ ngác. Sau một hồi hỏi đáp qua lại rồi dần trở nên ầm ĩ, kẻ bị tam giam gắt lên:

– Làm ơn đi, anh không thấy nó ngớ ngẩn à?

– Ngớ ngẩn? Mày biết tội ăn cắp bị phạt như thế nào không?

– Tôi nói rồi, đúng là tôi có làm hỏng chuồng bò của ông ấy, nhưng tôi không có ý đồ gì xấu hết. Ai đời đi ăn cắp một con bò? Bò đấy nhé! – Cậu gắt, hai nắm đấm tì trên bàn run rẩy. – Anh có sợ bị bò húc không? Hơn nữa, trong người tôi đâu chứa tài sản gì có giá trị hơn bút và giấy?

– Đột nhập vào nhà nông dân trong đêm là điều không thể chấp nhận được! Nếu mày không ăn cắp, nửa đêm mày vào chuồng bò nhà người khác làm gì? Giao phối à? – Cảnh sát viên ấn dùi cui vào trán cậu ta. – Nên nhớ, bọn tao có thể làm cho hồ sơ của mày nhơ nhuốc. Lúc đó thì có lê la khắp nước Anh cũng chả ai muốn thuê một thằng chuyên đi ăn cắp và hiếp dâm bò vào nửa đêm đâu.

– Tôi phải làm gì để ra khỏi đây? Tôi có nói nữa thì anh cũng đâu có tin tôi!

– Ký vào đây, nộp phạt, và bồi thường cho ông cụ kia nữa. – Cảnh sát viên nói, đập một tờ giấy lên bàn trước mặt cậu thanh niên.

Anh chàng áo rách nhìn xuống, rồi nhìn tay cảnh sát trẻ vẫn chưa chán trò bắt nạt thị oai.

– Tôi muốn gặp ông Joseph! Tôi không ký hay nộp bất cứ thứ gì hết cho tới khi được làm việc với cảnh sát trưởng.

– Cảnh sát trưởng hiện tại không ở đây, ông ta đã ở đồn đêm hôm qua rồi. Tại sao mày không chịu hợp tác và chấp nhận giải quyết theo cách dễ dàng?

– Tôi đề nghị được gặp cảnh sát trưởng bởi vì tôi vô tội. – Anh chàng vẫn khăng khăng. – Anh nên suy nghĩ cẩn thận hơn trước khi hành hung hay vu khống người khác.

– Câm mồm! Mày nên biết vị trí của mày ở đâu! – Gã cảnh sát đập dùi cui lên má cậu thanh niên. Bị đánh tới chảy máu miệng, cậu ta dừng việc nói lại, cố gắng hít thở sâu để giữ bình tĩnh.

“Không thể tin mình lại làm việc này…” – Cậu do dự, nhưng rồi nhanh chóng lên tiếng:

– Anh có hay đọc báo không? Biết “W. Huffington” chứ?

– Thằng nhà báo hay moi móc chuyện hình sự và cảnh sát hành hung ở đây chứ gì. Toàn tin giật gân thì chắc cũng ăn nhuận bút ghê lắm nhỉ.

– Anh có bao giờ nghĩ tại sao Huffington biết nhiều và chi tiết đến thế không? Chẳng phải hồ sơ vụ án của sở cảnh sát đều lưu hành nội bộ và chưa hề công bố ra bên ngoài? Việc tay Huffington này liệu có được ai đó “hậu thuẫn”, anh nghĩ là do đâu?

Tên cảnh sát nhìn xuống mặt bàn, im lặng. Hắn chưa hề nghĩ tới tình huống như vậy, bởi người kiểm duyệt thông tin cuối cùng là người nắm chức cao nhất trong đồn — không ai ngoài cảnh sát trưởng. Anh chàng áo rách biết trí tuệ của kẻ hống hách này cũng chẳng nhiều hơn của một con bò là bao, cho rằng bóc mẽ gã đó là giải pháp cứu cánh duy nhất.

– Tại sao Huffington lại hay viết về những vụ việc bê bối của cảnh sát? Tại sao những bài báo của anh ta lại thuyết phục được người khác? Nếu các anh thật sự tốt đến thế, đâu cần phải lo lắng xem có kẻ nào sẽ phanh phui mình và người dân không tin mình, phải không? Anh có bao giờ thắc mắc Huffington là ai không? Nếu tôi bị đánh tới trọng thương và rồi Huffington viết một bài tố cáo, tôi không dám chắc cái chức cảnh sát viên của anh đây còn nguyên vẹn. Bản thân tôi lúc ấy là một nhân chứng hoàn hảo và rõ ràng cho sự vô tâm cũng như nhẫn tâm của anh đấy. Vậy…

Tên đi tuần vội quệt đôi bàn tay chảy mồ hôi ròng ròng lên áo. Hắn im lặng khoảng một giây — có lẽ để cân nhắc thiệt hơn hoặc vì biết mình không thể giải quyết được vấn đề này — sau đó vớ lấy chiếc điện thoại và quay số.

– Joe, là Saunders đây…

Người thanh niên bị bắt giam chỉ cần nghe được câu nói ấy. Cậu biết nếu chịu thua và trả tiền để thoát ra, tay này sẽ quen mui và còn bắt bẻ cậu những lần sau nữa. Trong lúc chờ đợi, cậu không biết làm gì ngoài suy đoán xem điều gì sẽ xảy ra khi Joseph đến đây.

* * *

Olivia ra khỏi lâu đài để đi tìm Reg từ rất sớm cho tới khi mặt trời lên cao hơn ngọn đồi. Con bé đi khắp nơi nhưng vẫn chẳng thể tìm lại được. Chán nản, mệt mỏi nhưng vẫn chưa hết hy vọng, Olivia quyết định sẽ về nghỉ một lúc rồi tiếp tục tìm thú cưng sau khi đã tỉnh táo và nhiều năng lượng hơn. Đứa trẻ đổ lỗi cho sự lười biếng và giấu giếm của Reginald đã gây cho mình không biết bao nhiêu rắc rối, liên tục quở trách gã và thể hiện sự giận dữ bằng cách từ chối làm việc nhà như một hình thức phản đối. Bất chấp mọi lời kêu ca và sự phá phách đằng sau cánh cửa, Reginald lờ con bé và tiếp tục nằm ngủ.

* * *

– Cảm ơn cảnh sát trưởng. – Anh cháng áo rách bắt tay Joseph, mỉm cười nhẹ nhõm.

– Không có gì. Hy vọng cậu có thể bỏ qua cho thái độ của nó, lỗi tại tôi cả.

Hai người bọn họ đã có một cuộc đối thoại ngắn ngủi nhưng riêng tư với nhau. Ngay khi Joseph biết được chuyện, ông ta đã nổi điên lên và lập tức đi tới đồn cảnh sát để gặp người thanh niên đang bị giam ở đó. Nhưng dù sao thì mọi chuyện cũng được giải quyết, cậu thanh niên không bị ép ký vào bất cứ một tờ biên bản buộc tội ăn trộm hay hiếp dâm nào, nhưng vẫn phải bồi thường cho người chủ trại bò.

Chờ tới khi người bị giữ tạm giam đã đi xa khỏi đồn, Joseph mới quay trở lại vào trong. Đúng lúc ấy, Brook vừa tới để nhận ca trực sáng của mình, bất đắc dĩ phải đứng nép vào bức tường và chịu đựng “cơn bão cuồng nộ” mà cảnh sát trưởng dành cho tay Saunders đi tuần đêm qua.

– Đừng khiến tôi chửi bậy chứ. Tôi thấy thất vọng vô cùng!

“Bắt đầu rồi đấy!” – Saunders bặm chặt môi lại.

– Nghe đây đồ dòi bọ, điều duy nhất khiến loại dự bị hạng hai như cậu đứng trong căn phòng này và trở thành “cảnh sát” là vì toàn bộ những người tố như Allan và Nicholas đều đã mất tích hoặc bị tai nạn, trong khi cậu còn đang nằm ngủ nướng hoặc hút hít và say xỉn bên mấy con phò nhiễm giang mai. Họ phải làm việc quần quật và chạm trán với lũ tội phạm, không phải loại chuyên đớp được vận may như cậu! Người duy nhất tôi còn tin tưởng được là William Brook, mà cậu ta còn chẳng phải người ở đây!

Saunders là một kẻ lười biếng và tự cho mình đúng, luôn muốn nhanh chóng lập công để gây ấn tượng với cảnh sát trưởng. Vốn không ai ưa gì “thằng già” Joseph, nghe những lời chửi rủa của ông càng khiến hắn cảm thấy bị động chạm vào tự ái nhiều hơn. Joseph cũng chỉ cậy mình là cảnh sát trưởng nên mới quát nạt và chửi bới hắn, đều là hành động cá lớn nuốt cá bé cả. Hắn không giám lên tiếng chống lại Joseph — nhưng đằng sau lưng ông, sau những chuyến đi tuần — hắn thản nhiên nói xấu ông không ngớt lời với đám bạn bia bọt của mình, ngày ngày nguyền rủa ông ta chết đi cho khuất mắt.

“Bỏ mẹ mày, thằng già! Tao thề ngày mày nằm chết dí với đống xác khô trong bệnh viện, tao sẽ là đứa đầu tiên nhổ vào mặt mày!” – Saunders chửi thầm trong đầu sau khi Joseph đã đi ra ngoài, không quên ném cho Brook cái nhìn nửa con mắt. – “Lấy danh dự của thằng đàn ông, tao thề tao sẽ là người cầm xẻng hắt chỗ đất cuối cùng lấp mộ mày rồi nhảy múa ở trên!”

– Bỏ mẹ mày, thằng già! – Đang lẩm bẩm, thấy cấp trên quay trở lại, Saunders vội vã im bặt.

* * *

– Olly mắt lác được tự do! Olly mắt lác được tự do!1 – Những tiếng cười nói nháo nhác vang lên.

1 Nguyên văn: Olly olly oxen free – một câu nói vần có nhiều dị bản của trẻ con Anh mỗi khi chơi trò trốn tìm hay đá lon ngày trước. Tồn tại nhiều giả thuyết về cách giải nghĩa cho câu nói này, hầu hết đều dựa trên sự đồng âm, tuy nhiên có hai cách lý giải phổ biến hơn cả:

Nguồn gốc từ nước Đức: khi trẻ con chơi đá lon vẫn hô “Alle alle auch sind frei” (tạm dịch: Mọi người mọi người hãy ra khỏi nơi đang trốn). Trẻ nước Anh đã biến thể nó và sử dụng trong trò trốn tìm.
Cách nói lái của “All ye all ye ‘outs’ in free”.
Olivia “hừ” một cái trước sự cợt nhả của lũ trẻ con hay tụ tập chơi trốn tìm. Cô bé từng chơi với chúng, cho đến khi chị gái của một đứa trong bầy – cũng là bạn cùng trường của Olivia – nói với lũ trẻ rằng Olivia là một đứa mắt lác xấu-đau-xấu-đớn và xúi chúng ném rác rưởi vào con ấy. Từ câu nói vô tư của đám trẻ thiếu người dạy bảo, việc tấn công Olivia nhanh chóng trở thành trò vui. Không rõ từ khi nào, “Olly” cùng khuyết điểm trên gương mặt đã trở thành biệt danh cho cô bé: Olly lác.

Một thằng bé nhặt được hòn đá cuội nằm dưới chân nó, ném về phía Olivia. “Quái vật mắt lác” may mắn tránh được nhưng tức giận vô cùng. Cô bé không muốn cãi nhau với chúng, như vậy chỉ càng khiến chúng thích thú và trở nên cuồng nhiệt hơn với trò đùa quái ác. Chẳng mấy chốc, đám trẻ nhanh chóng hùa theo và thi nhau nhặt sỏi đá ném vào Olivia. Bị sỉ nhục vượt quá sức chịu đựng, Olivia chộp một hòn đá ném lại về phía chúng. Lũ trẻ cười thích thú và càng ném nhiều hơn, vì lần nào Olivia cũng phi trượt.

– Không còn ai dạy dỗ được chúng mày nữa à, lũ quỷ! – Olivia gắt lên, vơ chỗ đá, ném đuổi theo đám trẻ con.

Một đứa trong đám bị trúng, cả bọn còn lại nháo nhác bỏ chạy. Chợt có người đang đi về phía ngược lại, bị cản trở bởi lũ trẻ ồn ào chạy loạn xạ. Còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, cậu đã lĩnh toàn bộ chỗ đá bay của Olivia vào trán, chỉ kịp kêu lên một tiếng trước khi ngã lăn ra đường.

Nhận ra mình vừa phạm tội nghiêm trọng, Olivia chạy về phía người đi bộ, hoảng hốt lau chỗ máu từ trán anh thanh niên nằm bất tỉnh.

– Anh không sao chứ? Em rất rất xin lỗi! Dậy đi, không em chết mất!

– Không sao, trán tôi chảy máu từ trước rồi… – Cậu ta nói khẽ.

– Ôi, tạ ơn Chúa! – Olivia thở phào. – Anh vào trong nhà em đi, em băng lại cho. Ở ngay kia thôi.

– Đau quá… – Cậu ta rên rỉ.

– Anh đi được không, để em đỡ…

Anh chàng bị thương được Olivia dắt vào trong tòa lâu đài. Máu từ trán cậu chảy xuống má, qua cằm rồi rơi ròng ròng xuống đất, từng giọt một rỏ theo mỗi bước đi vào trong. Cô bé đặt cậu ấy ngồi xuống tại phòng khách, chạy lên đánh thức người chủ dậy. Khỏi phải nói cũng biết Reginald đã nổi trận như thế nào khi hay tin Olivia làm vỡ đầu người khác.

Reginald băng bó cho anh chàng kém may mắn rồi bỏ vào nhà tắm cùng cái chậu nước tanh mùi máu, không quên dặn Olivia chuẩn bị một chút đồ ăn nhẹ cho chàng trai. Cô bé đi vào bếp rồi trở ra với đĩa bánh kẹp và ấm trà, lúc này mới có cơ hội để ý kĩ người ăn mặc bẩn thỉu đang ngồi đối diện với mình. Anh ấy khá cao, da trắng giống Reginald, nhưng hồng hào hơn. Mái tóc nâu sẫm của anh được chải ra phía sau, để lộ chiếc trán rộng với gương mặt vuông vắn cùng đôi mắt xanh dương, trông rất ưa nhìn và sáng sủa.

– Em làm bánh kẹp cho anh này. Anh có ngửi thấy mùi… sữa không? – Olivia chau mày, hếch mũi theo mùi sữa bò thoang thoảng trên người vị khách, dù cô bé không chắc chúng tới từ đâu.

– Là anh bị ngã vào đống sữa bò. Tới giờ vẫn chưa thay được áo… – Cậu ta gãi đầu ngượng ngịu. – Cảm ơn em gái.

– Sao anh lại ngã vào sữa bò? – Olivia thắc mắc.

– Anh…

Reginald quay trở lại. Nhìn thấy bộ dạng lúng túng của vị khách cùng căn bệnh tọc mạch tái phát của Olivia, anh thở dài, ném cho nhóc cái nhìn trách móc.

– Kệ con bé ấy đi! Nó là Olivia, tôi là Reginald. Rất xin lỗi vì nó ném đá vỡ đầu cậu. Cậu thấy thế nào?

– Không có gì, thưa ngài! Trán tôi cũng bị rách trước đó rồi. – Cậu cười xòa. – Tôi là Randolph Huffington. Cảm ơn vì đã băng bó.

“Huffington?” – Reginald chợt nhớ đến cái bút danh được ký dưới mỗi bài báo.

– Huffington, cậu có tình cờ quen ai tên “W. Huffington” không? – Reginald tò mò.

– Tôi là W. Huffington. – Randolph cười lớn. – Ngài có thể tin hoặc không.

– Thật không ngờ đấy! Tôi cứ nghĩ W. Huffington ít nhất cũng phải trên ba mươi. Những bài viết của cậu rất tỉ mỉ và sắc sảo! Tôi rất thích chúng.

– Cảm ơn vì đã khen ngợi, nhưng tôi cũng chỉ thường thường thôi mà.

Olivia ngơ ngác nhìn Reginald cùng cười nói với Randolph, thỉnh thoảng Reginald còn đưa tay che miệng cười hoặc vuốt tóc. Chưa bao giờ cô bé thấy ngài ấy lại có một thái độ thân thiện và cởi mở đến thế — nếu không muốn nói là Reginald vẫn hay tỏ ra chải chuốt hơn khi ở cạnh những người đàn ông.

– Huffington, anh chưa trả lời em về mùi sữa. – Olivia xen vào.

– À, phải rồi! – Randolph nhìn đứa nhóc lùn tịt đó. – Anh hay đi đêm để tìm tư liệu viết báo. Tối hôm trước anh có ghé qua nông trại nhà ông Garreth. Khi tỉnh lại thì cảnh sát đã kéo anh ra khỏi đống sữa đổ lênh láng lẫn máu bò và bắt anh về đồn.

– Chuyện gì đã xảy ra thế? – Olivia lo lắng.

– Anh… không nhớ. – Randolph chợt thấy nhói đau.

– Huffington, không phiền nếu tôi kiểm tra chứ? – Reginald hỏi, nhanh chóng kéo một bên tai của anh chàng nhà báo và nhìn vào mắt cậu ta.

Randolph vẫn thấy rõ số ngón tay mà Reginald giơ lên, tai cậu ta không chảy máu chứng tỏ va đập chưa ảnh hưởng nặng tới não bộ, hai con ngươi của Randolph vẫn linh hoạt và chân tay vẫn cử động được. Cậu hoàn toàn tỉnh táo.

– Cậu có vẻ vẫn ổn, Huffington. Cứ nghỉ ngơi thêm chút nữa cho khỏe hẳn. – Reginald nói nhẹ, cốt tỏ ra lịch sự. Anh ta vốn không hề thích để người lạ ở lại lâu trong nhà. – Olivia và tôi sẽ không làm phiền cậu nữa.

– Ồ, ngài đừng lo, tôi khỏe lắm! – Randolph cũng tỏ ra khách sáo. – Nghe có vẻ hơi mê tín nhưng cứ mỗi lần tới giữa kỳ trăng là tôi lại cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh vậy.

Reginald bị lời nói của anh chàng nhà báo làm khơi dậy sự hiếu kỳ, Olivia cũng hiểu ra ngay. Cô bé nhìn về phía Reginald, nở nụ cười tinh quái.

– Cậu biết tính lịch mặt trăng chứ, Huffington?

– Tất nhiên là có! – Randolph gật đầu. – Nếu không nhầm thì đêm nay là trăng tròn.

– Cậu có để ý tới tần suất và tỉ lệ tội phạm mỗi kỳ trăng mọc không? – Reginald dò xét.

– Đó chính là lý do tôi hay ra khỏi nhà và viết báo mỗi khi gần tới đêm trăng tròn. Thể nào cũng sẽ có một bài mới. – Randolph thành thật trả lời.

– Cậu sống ở đâu vậy? – Reginald chợt chuyển chủ đề.

– Tôi sống ngay gần đây thôi, chính xác là ngôi nhà nhỏ bên dưới kia đường, cách lâu đài của ngài một quãng. Chỉ là, tôi không hay gặp gỡ hàng xóm cho lắm nên ít người biết tôi.

“Thì ra ngôi nhà ấy là của cậu ta.” – Reginald gật gù, rồi hỏi bâng quơ:

– Vậy, cậu không nhớ tất cả những gì xảy ra vào đêm hôm qua?

– Vâng. Gần đây tôi hay bị chứng đau nửa đầu hành hạ, thường mỗi khi trăng tròn…

– Bệnh lạ thật đấy… – Reginald nhìn Randolph. Thường, người ta bị đau nửa đầu khi thời tiết thay đổi, chứ không phải khi trăng thay hình dáng.

– Có lẽ qua ngày mười lăm2 sẽ đỡ hơn thôi, thưa ngài.

2 Theo lịch mặt trăng, ngày mười lăm hàng tháng là thời điểm trăng tròn – ngày rằm.

“Họ quen nhau à?” – Olivila thấy không vui trước thái độ Reginald dành cho Randolph. Thật… “phân biệt đối xử” và bất công với nhóc. Nghe cách phát âm của Randolph và Reginald không giống nhau, con bé lại hỏi:

– Anh không phải người ở đây hả, Huffington?

– Đúng là vậy. Anh đến từ xứ Wales.

– Xứ Wales?

– Vùng đất nổi tiếng với phù thủy và lời nguyền ấy. Thật ra thì anh là người gốc Ireland, nhưng sống ở Wales từ nhỏ.

– Nhưng anh không có tóc đỏ, em tưởng người Celt có tóc đỏ? – Olivia nhìn lên tóc Randolph.

– Cô bé dễ thương thật! – Randolph bật cười trước sự ngây ngô của Olivia. – Một lần nữa, cảm ơn ngài. Hy vọng một lúc nào đó chúng ta có thể cùng nhau trò chuyện thêm về bất cứ điều gì mà ngài quan tâm.

Câu nói ấy của Randolph cũng làm Reginald cười. Anh chàng này thật biết cách đưa chuyện. Cũng đâu có gì quá ngạc nhiên, muốn làm báo như cậu ta đòi hỏi nhiều kinh nghiệm giao tiếp.

– Tạm biệt Huffington, làm ơn cứ ghé qua chơi bất cứ lúc nào cậu muốn! – Lần này thì Reginald nói thật lòng.

Nụ cười trên môi Reginald vẫn giữ nguyên khi anh ta quay trở lại vào trong, Olivia khó chịu vô cùng.

– “Tạm biệt Huffington, làm ơn cứ ghé qua chơi bất cứ lúc nào cậu muốn”. – Cô bé đóng sầm cửa, nhại giọng Reginald.

– Olivia, đừng có như em bé chứ!

– Thôi đi! Tôi để ý từ lâu lắm rồi. Cái ánh mắt liếc ngang nhé, cái điệu cười đấy nhé… Ngài cứ như là muốn quyến rũ Randolph không bằng! Lần trước với Joseph ngài cũng vậy.

– Thì sao? – Reginald thấy Olivia chẳng ra sao.

– Ngài ghét tôi hay ngài chỉ hứng thú với đàn ông vậy? – Olivia bực bội.

– Ngươi đang ghen với Huffington? – Reginald trêu chọc.

– Ghen? Tại sao tôi phải ghen? Vì ngài nói chuyện với anh ta nhiều hơn? Vì ngài dịu dàng với anh ta hơn? Vì ngài chưa bao giờ tỏ ra hài hước với tôi? – Olivia cuống lên. – Ít nhất ngài cũng có thể tỏ ra vui vẻ một chút trước mặt tôi chứ. Ngài lúc nào cũng như muốn dọa tôi ấy!

– Ngươi bảo ta không hài hước?

Reginald bỏ lên trên tầng, cứ lẳng lặng mà đi. Olivia thấy người cư xử như trẻ con phải là Reginald mới đúng. Chẳng có lúc nào ông ta chịu ngồi lại nói chuyện tử tế mà chỉ luôn kiếm cớ bỏ đi rồi chơi trò im lìm với người khác.

– CHÚA ƠI! – Olivia hét lên khi nhìn thấy Reginald bế theo một chú chó màu đen xuống.

– Ngồi đây nhé! – Reginald đặt chú chó lên ghế, vuốt nhẹ vào đầu nó.

Olivia không hiểu Reginald định bày ra trò gì nữa. Anh ta cởi chiếc áo khoác đang mặc trên người ra, choàng lên chú chó và chui vào sau lưng nó. Reginald luồn hai tay mình qua chiếc áo, quay người về phía Olivia.

– Chào cô Olivia, tôi là chú chó Reginald đem về. – Reginald giả giọng ồm ồm. – Tôi có đáng yêu không?

– Có! – Olivia gật đầu.

– Cô muốn gọi tôi là gì?

– Reg!

– Xem tôi ăn nhé! Tôi có thể ăn bằng hai tay vì tôi là một chú chó đặc biệt.

Hai cánh tay Reginald sau chiếc áo quờ quạng trên mặt bàn tìm đĩa bánh kẹp, không quên cầm lấy dao dĩa để cắt bánh thành từng miếng nhỏ và nhét vào miệng chú chó. Tất nhiên Reg không thể ăn giống người bình thường, nhưng dù sao nhìn từ đằng trước thì ai cũng dễ hiểu lầm rằng nó là một chú chó mặc áo khoác có hai tay như người. Olivia cười ngặt nghẽo vì những động tác vụng về cùng khuôn mặt ngờ nghệch không hiểu chuyện gì đang xảy ra của cún cưng. Reg chỉ biết ăn những gì nó được bỏ vào miệng, còn Reginald thì tiếp tục làm trò.

– Tuyệt vời! Tách trà tuyệt vời! – Reginald cầm lấy cốc trà đưa vào miệng Reg. – Đừng quên sử dụng khăn ăn sau khi dùng xong món.

Reginald thả chú chó ra và thu giọn bát đĩa trên bàn. Reg bé nhỏ vẫn quấn quýt theo chân anh không muốn rời. Olivia bế Reg vào trong lòng và vuốt ve nó. Chú chó vẫy đuôi tỏ ra rất thích thú, liên tục liếm vào mặt Olivia.

– Đây không phải là Reg! Reg to hơn và dữ dằn hơn! – Olivia nói với Reginald, hơi ngẩng cổ lên để tránh cái lưỡi ướt át của Reg.

– …

– Reg đâu rồi hả Reginald? – Olivia lo lắng.

– Ngươi hãy làm quen với con cún kia đi.

– Tôi chỉ muốn biết tại sao Reg lại không thể ở đây được nữa…

– Ta cảm thấy Reg không nên ở đây. Chú cún kia hợp với ngươi hơn. – Reginald nói dối. – Ngươi đừng lo, Reg chưa chết.

Nhìn đôi mắt nâu to tròn của chú cún, Olivia mỉm cười.

– Ngài yên tâm, tôi vẫn sẽ yêu thương anh bạn nhỏ này. Tôi chỉ muốn biết là ngài mang nó từ đâu về thôi.

– Người ta định vứt chú chó này đi. May mắn cho nó là ngươi đang muốn nuôi chó — vì một gã ma cà rồng già đã có ý định biến mình thành một con Labrador màu đen hung dữ, mang nó về đây và chiếm làm của riêng.

Nghe tới đây, Olivia chợt hiểu ra mọi chuyện. Cô bé bật cười và chỉ tay về phía Reginald. Anh ta thấy cũng chẳng cần giấu giếm làm gì, dù sao đó cũng không phải chuyện quá to tát. Nếu Olivia vui, Reginald cũng vui.

– Ngài giỏi lừa phỉnh trẻ con lắm! – Olivia phá lên cười, không ngờ Reg hung dữ kia chính là Reginald.

Reginald chỉ cười gượng. Olivia đôi khi gây khó chịu nhưng đâu phải con bé không mang tới niềm vui cho gã ma cà rồng này. Ai còn kiếm được một đứa trẻ thứ hai như vậy nữa. Nếu không phải vì tính ghét động chạm, đôi khi Reginald thật sự đã muốn véo má Olivia và chọc cù con bé cười lăn ra thì thôi.

* * *

Buổi trưa hôm ấy, trong lúc Olivia dùng bữa và mải mê vui đùa bên thú cưng mới của mình, Reginald đi lên tầng gác mái. Đứng từ cửa sổ trông xuống mái nhà nhỏ lấp ló sau những tán cây tít bên kia đường, Reginald vẫn còn nghe thấy tiếng cười đùa của Olivia lẫn tiếng kêu của chó, nghĩ ngợi:

“Không ngờ lại dễ đến vậy. Một chú chó cho ngươi, và một cho ta.”

Khi kiểm tra tình trạng tỉnh táo của Randolph và cố tình chạm vào tay cậu ta, Reginald linh cảm cậu nhà báo có gì đó không được bình thường. Trước đó anh đã có ý dịnh truy ra danh tính của W. Huffington này, nào ngờ cậu ta lại dẫn xác ngay tới trước cửa lâu đài. Cứ như thể mọi thứ đều đã được an bài hết vậy.

* * *

Buổi chiều tối, Olivia cảm thấy nhàm chán, mong muốn kết bạn lại trỗi dậy. Nếu Reginald có cảm tình với ai, người đó chắc cũng không xấu xa đâu.

– Reginald, tôi sang nhà Huffington chơi được không? – Olivia hỏi, nhanh nhảu chạy luôn, chẳng buồn đếm xỉa đến sự cho phép của Reginald.

– Đợi đã! – Reginald vội ngăn lại. – Ngươi không sợ làm phiền cậu ta?

– Ai có thể cưỡng lại được tôi chứ? – Olivia ngẩng mặt lên cao, lại nở nụ cười quỷ quyệt lộ ra cặp răng thỏ, chớp chớp đôi mắt xanh to tròn. – Hơn nữa, nhà anh ấy cũng đâu cách xa đây lắm. Có chuyện gì rắc rối thì ngài sẽ tới giúp tôi ngay mà!

– Chính sách ngoại giao của ngươi cũng ghê gớm thật. – Reginald bật cười. – Đi đi. Nhớ về sớm và đừng làm gì khiến ta xấu hổ đấy.

“Ta chỉ lo cho ngươi… Randolph không an toàn.”

Sau khi Olivia đã bỏ đi chơi, nụ cười bất lực của Reginald biến mất, nhường chỗ cho khuôn mặt nhăn nhó. Đứa bé ham vui và ưa kết bạn ấy không nhận ra được rằng so với những người mà mình làm quen được ở ngoài kia, nó là người duy nhất Reginald có bên cạnh. Reginald luôn sợ con bé sẽ ghét gã, ghét sự ngột ngạt đến từ tính chiếm hữu của gã mà ruồng rẫy gã, nếu gã cứ o ép nó.

– Chỉ còn tao và mày… Sao chúng ta không thư giãn một chút với âm nhạc? – Reginald bế Reg vào lòng, cầm lên đôi chân trước nhỏ xíu của chú cún.

Vào trong phòng mình, Reginald lấy ra một chiếc kèn Trumpet bằng đồng từ hộp đựng màu đen lót vải nhung đỏ bên trong. Ba ngón tay của anh chậm rãi chuyển động lên xuống trên van kèn theo nhịp thổi, ngân lên giai điệu buồn. Olivia chưa bao giờ được thấy Reginald chơi kèn, hoặc ít nhất là biết rằng ngài ấy sở hữu loại nhạc cụ này.

Reginald nhớ lại những tiếng hô rộn rã từ đám đông và cảm giác khi anh được cầm tay một người con gái. Chú chó con hơi nghoẹo đầu sang một bên, ngơ ngác nhìn vật màu vàng óng có thể phát ra âm thanh đang đung đưa theo tay và đầu ông chủ.

* * *

– Cảm ơn vì đã cho em ở lại chơi, anh Randolph!

– Không có gì. Cứ sang chơi bất cứ khi nào em muốn và phải chắc chắn rằng anh có nhà.

– Nhà anh nhỏ xinh đáng yêu quá! – Olivia trầm trồ.

– Cảm ơn em. Nó chẳng có gì mấy đâu, anh cũng không đủ tiền để trả cho cái to hơn được. – Randolph đứng dậy tiến về phía bếp ăn. Mải nói chuyện với Olivia, cậu bị cộc đầu vào thanh xà ngang bắc lên gác xép.

So với tòa dinh thự hoành tráng tuy hơi ọp ẹp nằm ở trên đồi, ngôi nhà của Randolph chắc chỉ có kích thước tương đương phòng ngủ của Regnald. Olivia đang ngồi trên chiếc bàn tiếp khách ngổn ngang giấy tờ, chắc chủ nhà coi nó là bàn viết luôn. Anh Randolph này sống khá bừa bãi, nhưng cậu ta có vẻ thích mọi thứ thoải mái như vậy và vẫn luôn biết đồ đạc của mình ở đâu. Cô bé thích thế hơn, chứ Reginald mà ở đây chắc chắn rồi lại làm ầm lên và dọn bằng sạch cả cái nhà ấy đến khi không còn gì rơi ra được nữa mới thôi.

– Anh có biết “lunatic” là gì không? – Olivia chau mày.

– Nó chỉ đơn giản nghĩa là “người điên” thôi. Em hỏi làm gì? – Randolph nhún vai.

– Thế, anh có biết gì về những người sinh ra vào thời điểm “trăng xấu” không? Em thấy nó khó hiểu quá! – Olivia gãi đầu.

– Sao không nói sớm. – Randolph cười xòa. – Bản thân anh cũng là một người được sinh ra lúc mặt trăng xấu này.

– Thật sao? – Olivia ngạc nhiên.

– Câu hỏi của em chung chung lắm, làm sao anh trả lời được. – Randolph đặt một tờ giấy trắng lên bàn, bắt đầu vẽ những vòng tròn xếp thành hàng để giải thích cho Olivia. – Em phải hiểu được thế nào là một chu kỳ của mặt trăng và những hình dạng của mặt trăng trong một chu kỳ trước đã…

* * *

Reginald đi loanh quanh trong phòng, rút ra rút vào chỗ gáy sách. Anh cố lục lại trí óc mình từng đặc điểm một của những sinh vật khắc tinh với ma cà rồng, rồi lại nghĩ về anh chàng nhà báo kỳ lạ tên Randolph. Sự tiêu cực thái quá của trí tưởng tượng làm anh rùng mình.

“Thôi nào Reg, thần hồn nát thần tính!” – Reginald thở dài, tự trấn an bản thân. – “Chắc chắn có lời giải thích khác chứ.”

Anh nhìn ra phía cửa sổ, ánh mặt trời đang tắt dần và những linh cảm không lành lại tiếp tục ùa tới. Ma sói, chỉ có sinh vật này mới không bị ảnh hưởng bởi chiêu thôi miên của ma cà rồng, và chỉ sinh vật ấy mới hóa điên lên vào mỗi đêm trăng.

* * *

– … và một số được sinh vào đúng thời điểm mặt trăng chuyển sang một chu kỳ mới được gọi là “mặt trăng dữ”3. Người có mặt trăng dữ — trong cuộc đời này — mang một tâm hồn bị tổn thương và đau đớn, phải sống trong giận dữ và oán hận, bị mọi người ngược đãi và lạm dụng. Những cung bậc cảm xúc của họ thật sự rất mãnh liệt và mâu thuẫn: yêu sâu sắc, thù hận dai dẳng, mọi thứ chỉ có trắng hoặc đen — bởi họ đã trải qua quá nhiều đau đớn và phản bội. Không dễ gì để em hiểu được họ, và nếu em chạm được đến trái tim họ thì thật tuyệt vời. Nhưng nếu chẳng may em làm gì có lỗi thì…

3 Raging moon.

Olivia nghe tới đây và tất cả những gì cô bé nghĩ tới là Reginald — người luôn cố giấu giếm những suy nghĩ cũng như tình cảm bản thân dành cho người khác. Cô bé biết anh ta là người có nhiều suy tư và lo lắng, luôn cố gắng chôn vùi những tâm sự của riêng mình vào trong lòng, che giấu chúng bằng một gương mặt lạnh tanh và thái độ thờ ơ. Có phải Reginald lúc nào cũng vô cảm như vậy là vì mọi cảm xúc của anh ta đều đã chai sạn, vì anh ta đã bị mất đi cái gì đó vô cùng quan trọng trong đời mình, hoặc bị một ai đó anh ta tin yêu phản bội? Olivia thật sự muốn hiểu được Reginald, để giúp anh, nhưng cô bé không biết phải làm thế nào.

– Thử tưởng tượng cô bé hay cậu bé xấu số nào đó là mặt trăng dữ nhỉ… – Randolph cười xòa với Olivia nhằm làm tan bớt bầu không khí căng thẳng. – Trời đất, Olivia! Em thật sự tin những lời ấy à?

– Em đang nghĩ đến Reginald… – Olivia lắp bắp. – Em không biết tuổi thơ của những người có mặt trăng xấu như thế nào.

– Bất cứ ai cũng có thể có một tuổi thơ bất hạnh — như là gia đình đổ vỡ; hoặc bị ngược đãi, bạo hành; bị ngó lơ và bị bỏ rơi; thậm chí là bị lợi dụng và làm tổn thương dài ngày từ lúc còn nhỏ… – Giọng Randolph chợt trùng xuống. – Sao lại đổ lỗi cho thế lực siêu nhiên nào.

– Anh có bị như vậy không, Randolph? – Olivia tò mò.

– Có những chuyện nên để vào quá khứ là tốt nhất. – Randolph nói nhỏ. – Anh tìm đến London để bắt đầu cuộc sống mới…

Randolph nhìn ra phía cửa sổ: ánh sáng ban ngày đã biến mất, cậu hốt hoảng.

– Olivia, dù sao cũng muộn rồi em nên về nhà đi.

– Anh có việc gì bận à? – Olivia ngỡ ngàng trước thái độ của Randolph.

– Tới giờ cơm rồi, em không sợ Reginald mắng? – Randolph bước lùi lại, cuống tới mức đá phải chồng sách phía sau, ngã xuống sàn nhà.

– Anh sao không? – Khuôn mặt nhăn nhó và căng thẳng của Randolph làm Olivia hoảng sợ.

* * *

“Nghe có vẻ hơi mê tín nhưng cứ mỗi lần tới giữa kỳ trăng là tôi lại cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh vậy.”

Reginald nhớ lại những lời mà chính cậu Huffington đã buột miệng nói ra.

“Anh hay đi đêm để tìm tư liệu viết báo. Tối hôm trước anh có ghé qua nông trại nhà ông Garreth. Khi tỉnh lại thì cảnh sát đã kéo anh ra khỏi đống sữa đổ lênh láng lẫn máu bò và bắt anh về đồn.”

“Randolph, tại sao cậu lại được mặt trăng tiếp năng lượng và tỉnh dậy với cái đầu rỗng cùng đống máu bò?” – Reginald nhìn về phía ngôi nhà nhỏ, cảm thấy như lửa đốt trong lòng.

“Vậy, cậu không nhớ tất cả những gì xảy ra vào đêm hôm qua?”

“Vâng. Gần đây tôi hay bị chứng đau nửa đầu hành hạ, thường mỗi khi trăng tròn…”

Reginald nhận ra toàn bộ khu vực đã được thắp sáng bởi đèn đường. Mặt trăng giờ lên cao hơn bóng cây trong rừng, dễ dàng chiếu vào mỗi ngôi nhà qua những ô cửa sổ.

Một tiếng hét thất thanh vang lên. Tiếng của một đứa con gái.

“Olivia gặp nguy hiểm rồi!” – Reginald vội chạy ra khỏi lâu đài, lao xuống phía đường dưới, hướng về ngôi nhà nhỏ bên kia.

Quanh ngôi nhà của Randolph toàn là những âm thanh đổ vỡ. Ngoài Olivia, chắc chắn chẳng còn ai ở đó nữa.

* * *

– Anh sao không? – Olivia hoảng sợ.

Randolph ngã ra đất, ánh trăng lọt vào trong nhà. Olivia lùi lại. Lông trên người cậu nhà báo đang mọc ra? Kích thước hai tay và chân của Randolph phình to đột ngột, mọc lên những chiếc móng vuốt khoằm lại. Mũi và miệng Randolph giờ đã bị thay thế bởi cái mõm dài, gầm gừ thứ âm thanh chẳng ai hiểu nổi. Cậu ta lúc này không còn là người nữa, mà là một con sói với nửa thân dưới giống như con người nhưng to khỏe và rậm lông hơn rất nhiều.

– Randolph, anh nói đúng. Em nên về! – Con bé lắp bắp, khẽ bước lùi lại, định chạy ra phía cửa.

Ma sói tiến về phía Olivia, con bé hét toáng. Randolph đánh đứa trẻ ngã văng vào tường.

“Olivia, ngươi ở trong đó chứ?” – Randolph giật mình quay đầu, vểnh tai lên nghe tiếng gọi đó.

“Cá là con quái vật lông xù cũng ở trong luôn.” – Reginald nghe thấy tiếng thở phì phò.

Gã ma cà rồng ẩn cửa xông vào, không quá ngạc nhiên với cảnh tượng trước mắt. Randolph – lúc này là một con ma sói – đã phá tung cả ngôi nhà của chính cậu lên. Và ở một góc tường, Olivia đang nằm ngất lịm, máu rỉ ra ướt cả vai áo.

Bị hấp dẫn bởi mùi máu tươi, Randolph xô về phía Olivia, nhe bộ hàm nhọn hoắt.

– Không! – Reginald lao tới.

“Olivia, tỉnh lại mau lên!” – Olivia nghe thấy giọng nói run rẩy của ai đó.

– Reginald? – Olivia ôm lấy vai mình. – Ngài…

Con bé hoảng hốt trông hàm răng khổng lồ đang ngoạm lấy cánh tay trái của Reginald – người đang chắn phía trước, tay phải kẹp vào cổ con ma sói. Máu từ tay Reginald chảy ra, ướt đẫm cả hàm răng của Randolph, đọng lại thành vũng dưới đất.

– Ngài… Randolph là… – Olivia sợ hãi, con bé khóc.

– Ma sói, ta biết! Nghe ta nói đây… – Reginald run rẩy vì đau. – Ta không giữ được lâu đâu. Khi ta đếm đến ba, chạy ra khỏi đây càng nhanh càng tốt và đi tìm ai đó lo cho vai ngươi đi. Một, h…

– Không! – Olivia nhìn xung quanh. – Ngài thì sao?

– Ta sẽ ổn! – Reginald quát. – Một, hai, chạy mau!

Reginald thả tay, đạp mạnh vào yết hầu Randolph. Ma sói ngã ra đất. Cú đánh hiểm khiến nó cụp đuôi bỏ chạy. Reginald vội vã đuổi theo, cả hai cùng tiến vào trong rừng sâu.

Những tiếng gầm gừ khiến Olivia lo lắng.

“Reginald sẽ không sao chứ?”

– Huffington, nghe này! Tôi biết khả năng của cậu là gì, tôi đã từng chạm chán nhiều với những người anh em giống như cậu rồi. Bình tĩnh lại, tôi tin cậu vẫn tỉnh táo, đừng để con sói thắng! – Reginald cố trấn tĩnh anh chàng.

Randolph không còn ở đó, chỉ có một con thú nửa người nửa sói đang lao về phía Reginald, chực chờ nghiền nát anh ta ra thành từng mảnh một.

– Tôi không muốn làm cậu đau! – Reginald cố giữ hai chi trước của con ma sói lại trong khi nó đang đè ngửa anh ra, văng những giọt nước dãi hôi hám vào mặt Reginald.

Randolph gầm gừ mỗi lúc một dữ tợn hơn, tát Reginald đập đầu vào thân cây. Anh cố gắng đứng dậy, vẫn bị choáng từ những đợt tấn công trước. Tình hình thật cam go, chẳng khả quan chút nào nếu cả hai cứ tiếp tục đánh nhau như thế này. Reginald tự biết mình không thể cầm cự được quá vài giờ nữa.

– Cậu muốn gì? – Anh hỏi lớn.

Reginald nhận ra trong lúc xô xát đã vô tình đánh vào đầu Randolph. Vết thương trên trán lại toác ra. Randolph điên cuồng lao vào cào cấu Reginald, bóp cổ anh, đập đầu anh xuống đất.

“Mình không thể để cậu ta chạy vào khu dân cư…” – Reginald thầm nghĩ, cố cựa quậy tìm cách thoát.

* * *

Olivia chạy khắp nơi quanh thị trấn, mọi cửa hàng lúc này đều đã đóng. Con bé biết tìm thịt tươi ở đâu đây? Chiếc đùi lợn muối Olivia lấy từ lâu đài quá nhỏ để có thể khiến một con sói khổng lồ ăn no và chịu nằm yên.

“Đành phải thế thôi!” – Nó quay trở lại lối đi tắt vào khu rừng.

Olivia nhớ đã có lần Reginald kể về một nơi gần thị trấn, nằm dưới ngọn đồi. Ở đó có suối chảy qua, phù hợp để trồng rau và chăn nuôi gia súc. Nếu con bé đủ nhanh và may mắn, có lẽ sẽ lấy trộm được thêm một ít thịt nữa cho Randolph. Olivia không dám nghĩ tới việc sẽ hỏi xin chủ nhà một cách tử tế. Không lẽ nó sẽ giải thích với họ rằng mình cần thịt để cho một con sói khổng lồ ăn, nên họ làm ơn đừng ki bo?

* * *

Trong lúc vùng vẫy và cố gắng chạy thoát khỏi Reginald, Randolph bị sa vào một cái hố bẫy thú rừng. Chiếc kẹp sắt ghim chặt vào bàn chân Randolph, cậu ta nằm lăn lộn với cái chân thọt đầy máu, thỉnh thoảng lại tru lên.

– Nằm yên đó, tôi sẽ giúp cậu thoát ra… – Reginald chạy tới chỗ con ma sói đang quằn quại.

Randolph bướng bỉnh tỏ ra không chịu hợp tác, nghi ngờ Reginald có ý đồ xấu, nhất quyết không chịu đưa chân cho anh ta gỡ bẫy.

– Yên nào! – Reginald gắt lên khi con sói thà chịu đau, cố giãy lên bằng được.

Nhưng cuối cùng, Randolph có lẽ đã nhận ra sự cố chấp chẳng giúp được gì. Cậu càng loay hoay, máu lại càng chảy. Biết ma sói đã thấm mệt, Reginald lặng lẽ bò dưới lớp cỏ dính đầy đất. Tính trước việc Randolph sẽ chạy mất khi được giải thoát, anh nhẹ nhàng đặt chân mình xuống phía dưới Randolph, sau đó mới dùng tay mở bẫy ra.

Reginald vốn có sức mạnh của năm mươi người đàn ông cộng lại, việc này với anh không quá khó. Nhưng sau một trận đánh nhau với ma sói hung dữ, lại bị mất nhiều máu, Reginald phải dùng đến mánh lới nhiều hơn nếu không muốn thua cuộc. Không ngoài dự đoán, Randolph sau khi được giải thoát đã vùng lên định trốn, cái chân Reginald ngáng đường làm cậu vấp ngã. Chờ có vậy, Reginald túm lấy hai chân Randolph vật ngược xuống, kẹp chặt cổ cậu lại. Anh ghìm cậu ta xuống đất, tay còn lại lần tìm trong người một chiếc còi nhỏ — vật mà Reginald cho là có ích trong trận đụng độ gần đây nhất giữa anh ta và một con sói đầu đàn. Ma sói Randolph lúc này đã bị khóa chặt toàn thân, nó quẫy đạp dữ dội và lồng lên trong vô ích.

“Đây rồi!” – Reginald lôi chiếc còi ra. Cố nén cơn đau, anh dùng hết sức thổi. Ngay lập tức, Randolph im lặng, nằm rạp ra đất.

– Đúng thế, còi gọi chó đấy! – Reginald cười đắc ý, túm lấy tai Randolph. Anh giữ hai chi trước của con ma sói lại, tháo thắt lưng ra trói cậu.

Reginald kéo lê ma sói đi, thỉnh thoảng lại thổi một hồi còi khi cậu ta có biểu hiện chống đối. Randolph vô cùng khó chịu với tiếng ồn bên cạnh mình, cậu ta phản ứng mãnh liệt bằng những cái quẫy đạp hung hăng, mong thoát ra khỏi sự kiểm soát của Reginald. Một con sói hoang đơn độc và bướng bỉnh không muốn phải nghe theo bất cứ sự dẫn dắt hay mệnh lệnh nào từ kẻ tự cho mình là con đầu đàn.

– Đi về ngay, Olivia! Ngươi làm gì ở đây? – Nhìn thấy Olivia đang khệ nệ xách theo một cái túi lớn, Reginald quát.

– Tôi mang thịt tới cho Randolph, có thể anh ấy đói nên mới tấn công người khác.

– Không! Đi về ngay đi! – Reginald lo lắng. Hai cánh tay chảy máu của anh không thể giữ Randolph được lâu nữa.

– Tay ngài… – Olivia nhìn thấy máu từ Reginald vẫn róc rách chảy, mặt tái mét lại.

– Chúng ta không thể để mọi người nhìn thấy ta và Randolph như thế này, hiểu chứ. – Reginald khuyên Olivia, giọng nói chứa đầy nỗi sợ hãi. – Cứ đặt cái túi ở đó, và ngươi yên tâm trở về. Được không?

Randolph chợt vùng lên cắn Reginald, hất anh ta ra khỏi người mình và lao về phía Olivia. May sao Reginald túm kịp thắt lưng lại, kéo Randolph ngược về phía mình. Đôi tay Reginald đỏ rực và sưng vù, nhưng anh không thả. Olivia vội mở túi, lấy ra cái đùi lợn to nhất chìa về phía Randolph, giọng run rẩy:

– Randolph, anh đói không? Em có thịt tươi này…

– Olivia… – Reginald sợ Randolph nổi điên lên rồi cắn con bé.

– Đúng rồi, anh cứ ăn đi, Reginald sẽ trả tiền hết cho chỗ thịt đấy. – Olivia ném thêm một miếng to nữa về phía Randolph.

Không ngần ngại, ma sói cắn ngấu nghiến chỗ thịt lợn được đưa cho. Randolph chỉ yên lặng được một lúc khi ăn. Ngay sau nhát cắn cuối cùng, cậu ta lại lồng lên.

“Không được rồi.” – Reginald nghĩ.

– Ngươi về nhà và chuẩn bị thật nhiều băng bó cho ta đi, Olivia. – Reginald nói nhỏ. Nhóc gật đầu, cố chạy về nhanh hết mức có thể.

Reginald cho Randolph ăn thêm rất nhiều, vừa cho ăn anh vừa kéo con ma sói đi về. Lựa lúc Randolph không để ý, Reginald cầm vào tay cậu.

“Randolph!” – Tiếng nói vang lên trong đầu con ma sói làm nó giật mình. Nó nhìn xung quanh, ngoài Reginald ra không còn ai ở đó cả. – “Nghe tôi này, tôi biết trò thôi miên của ma cà rồng không có tác dụng với ma sói, nên tôi chỉ muốn nói chuyện với cậu, như hai người đàn ông. Nếu cậu còn ở đó, làm ơn hãy nhìn lại bộ dạng của bản thân, nhìn xem cậu đã làm gì với tôi và bình tĩnh lại. Tôi muốn cậu bình tĩnh lại và cùng tôi trở về nhà trong yên lặng, không thể để người ta bắt gặp chúng ta trong bộ dạng này, được chứ? Khi trở về nhà, chúng ta sẽ lau hết những vết thương đi, cùng nhau chờ đến khi mặt trời ló rạng rồi trở lại hình dạng con người.”

Randolph tru khóc rền rĩ. Giờ cậu đã là một con thú hoang bị thương, một con thú hoang mang những vết thương lòng không thể chia sẻ cùng ai. Thật may mắn khi ma cà rồng Reginald và có thể len lỏi vào tâm trí Randolph, để thấu hiểu và đồng cảm với cậu. Những hình ảnh lờ mờ thoáng hiện qua, Reginald nhìn thấy có hai người, một đàn ông và một đàn bà bị trói đang quỳ dưới đất. Phía sau họ là vài đứa nhỏ khóc lóc. Những người xung quanh hò reo trong trạng thái hung hăng phấn khích, chĩa những ngọn đuốc đỏ rực về phía gia đình xấu số kia…

– Thật đáng thương! Cậu là một con sói phải tách khỏi đàn?

– Tôi rất tiếc vì những mất mát của cậu. Nhưng làm ơn, dừng lại. Phá phách không làm cho mọi chuyện tốt hơn, được chứ?

Một dòng nước nhỏ rơi ra từ hốc mắt Randolph.

– Cho tôi thấy cậu là một người văn minh, không phải là một con thú vật. – Reginald vuốt đám lông trên đầu Randolph.

Đôi mắt long sòng sọc của ma sói dịu dần lại. Cậu ta thả lỏng người, nhả rơi chỗ thịt xuống đất. Reginald thở phào nhẹ nhõm, bởi anh cũng không ngờ nó lại có tác dụng.

– Cậu khiến chúng ta khổ sở cả đêm rồi, Randolph. – Reginald vỗ vào vai anh bạn lông lá.

Randolph nhe hàm răng và gầm gừ lên những tiếng nhẹ. Cậu ta tiếp tục ăn và thỉnh thoảng lại đè sấn vào Reginald, cắn vào tay anh ta, liếm lên khuôn mặt dính đầy máu và mồ hôi của anh.

– Ta đi về nào. Trời sắp sáng rồi. – Reginald kéo chiếc thắt lưng và đi giật lùi.

Ma sói ngoan ngoãn như một chú chó nhỏ, chậm rãi đi theo mùi máu từ tay Reginald.

* * *

Olivia đi lại không yên trong phòng khách, gặm mười ngón tay tới rớm máu. Chỗ băng sơ cứu đã được đặt sẵn ở trên mặt bàn. Cô bé lo cho Reginald, sợ anh ta đã thất bại trong việc trấn an một con ma sói đực. Bình minh đang dần lên mà Reginald vẫn chưa thấy trở về.

“Olivia, giúp anh với!” – Olivia giật mình theo tiếng gọi lớn từ bên ngoài.

– Đợi đó! – Nhóc con lao ra cửa.

Randolph trong hình dạng con người — rách rưới và bẩn thỉu — đang bế một cái xác mềm oặt trên tay. Máu chảy làm khô cứng cả áo Reginald. Ngài ấy đã bất tỉnh, may sao được Randolph đưa về.

– Ngài ấy không sao chứ? – Randolph đưa Reginald vào trong nhà, cậu ta bước đi cà nhắc.

– Reginald là ma cà rồng, em nghĩ là sẽ ổn. – Olivia đỡ lấy Reginald.

– Vậy là mọi người đều… – Randolph ngập ngừng.

– Trước mắt thì cả Reginald và em đều đã biết anh là ma sói rồi. – Olivia cùng Randolph đặt Reginald lên chiếc ghế. Cô bé lo cho Reginald hơn bất cứ điều gì lúc này.

* * *

Nằm trong phòng khách, nghe thấy những tiếng trò chuyện lầm rầm, tiếng đồ đạc va chạm, Reginald tỉnh dậy. Vai anh quệt phải cánh tay Randolph.

– Xin lỗi vì đã cắn vào tay ngài. – Randolph cười ngượng ngùng, cố định lại chỗ băng tay cho ngài ma cà rồng.

– Không sao đâu, tôi trải qua nhiều chuyện tương tự rồi.

– Thật kỳ lạ, Reginald! – Randolph nhìn vào mắt Reginald, buột miệng nói ra điều đó. – Tôi chưa từng thấy ma cà rồng và con người sống chung với nhau.

– Olivia là một đứa trẻ đặc biệt, và cậu cũng là một ma sói đặc biệt, Randolph. Làm ơn cứ gọi tôi là Reginald.

Reginald quay mặt, tránh ánh mắt kỳ lạ từ phía Randolph, cùng đó rút luôn những ngón tay mình đang nằm trong lòng bàn tay cậu nhà báo.

– Randolph, cậu không kiểm soát được bản thân mỗi khi biến đổi?

– Gần đây tôi mới phát hiện ra mình trở thành ma sói mỗi khi trăng tròn. Tôi, tôi không có ý gây nguy hiểm hay tấn công ai. – Randolph ngập ngừng.

– Điều gì khiến cậu tới Forest Hill?

– Tôi sẽ để ngài tự khám phá ra câu trả lời.

Reginald nhấc cao một bên mép vì sự “làm trò” của Randolph. Mức độ quan tâm tới Randolph của anh đã giảm hẳn một nửa sau câu nói nửa vời ấy. Nhưng Reginald không muốn tỏ ra mình là kẻ kệch cỡm, nên anh cần phải nói gì đó để Randolph quên đi cái vẻ mặt vừa rồi.

– Randolph, cậu luôn được chào đón ở đây và tôi luôn sẵn sàng giúp cậu kiểm soát con ma sói cho tới khi cậu hoàn toàn làm chủ được mình.

Lời Reginald khiến cậu nhà báo mỉm cười. Gã ma cà rồng đúng là một kẻ tự cao và khoái kết luận một cách võ đoán. Nhưng cứ để gã nghĩ như vậy đi, dù sao thì Randolph cũng muốn diễn vai chàng trai hàng xóm khù khờ.

* * *

Một căn phòng khá rộng, nội thất không có gì nhiều ngoài một cây đèn đứng, một chiếc bàn đặt bình hoa cùng chai rượu Gin ướp đá, và một cái giường cỡ trung bình mà cách đó không xa là khung cửa sổ rèm xanh nhạt. Người đàn ông ngồi thư giãn cùng li rượu, bàn tay đeo nhẫn vàng vuốt ve lên con mèo xám Scottland mũm mĩm. Trái ngược với sự dịu dàng được ban cho, nó ra sức cào vào tay ông chủ. Từ trong phòng nhìn ra ngoài, khung cảnh vẫn chỉ là một màn đêm tĩnh mịch và lạnh lẽo được ánh trăng tròn soi tỏa cả một khoảng trời lớn.

– Thưa ngài Innamorato, có người muốn gặp.

– Ta không muốn gặp ai cả.

– Nhưng cô ta bảo chuyện này có liên quan tới Reginald…

– Bảo ả vào đi. – Gã miễn cưỡng trả lời.

Tiếng giày cao gót lộc cộc vang lên, đệm theo nhịp đánh hông của của người phụ nữ. Không ngoài ai khác chính là ả tóc vàng đã ra lệnh cho hai tên ma cà rồng tấn công Reginald lần trước.

– Chào.

Đáp lại ả là sự im lặng dửng dưng của gã nuôi mèo.

– Ít nhất thì cũng nên tỏ ra hiếu khách một chút chứ! – Ả chau mày.

– Ít nhất thì cũng nên tỏ ra biết điều và tôn trọng người khác một chút chứ! – Gã mỉa mai.

– Lại cái giọng đó, chả trách anh với anh ta thân nhau đến thế. – Ả ngồi lên chiếc ghế bọc vải. – Tôi, gần đây tôi thấy thật là lạ…

Gã vẫn tỏ ra thờ ơ với khách và say mê bên chú mèo chảnh chọe.

– Tôi đồ rằng cô tới đây để nói với tôi anh bạn Reginald mới đón được thêm một cô gái nhỏ về tòa lâu đài của hắn, – Innamorato cười nhẹ, nhấc tay khỏi thú cưng. – và cô thì vừa trở thành một người phụ nữ tự do và độc lập nên cô tới để từ biệt tôi. Tôi nói đúng chứ?

Ả nhìn mái đầu tóc đen hơi quăn trước mặt mình.

– Ừ, nhưng chưa đủ…

– Tôi không muốn làm phiền Reginald. Không nên quấy nhiễu một người đàn ông có nhiều tâm sự. – Innamorato gõ từng ngón tay một của gã lên mặt bàn. – Đã bao giờ cô thấy ai làm phiền một người đàn ông có nhiều tâm sự mà nhận được cái kết tốt đẹp chưa?

– Thôi nào, đừng có giả bộ. – Ả nhướn mày một cái, cảm thấy những điều Innamorato nói chẳng ăn khớp nhau chút nào. – Người phụ nữ vừa mới “tự do và độc lập” này đang cảm thấy bối rối hơn bao giờ hết, và dù cô ấy không muốn nhờ ai giúp đỡ, cô ấy thấy có rất nhiều điều cần phải được giải thích!

Innamorato cười khẩy.

– Reginald, tôi không hiểu… – Earlene vén nhẹ lọn tóc vàng ra sau tai. – Chuyện gì đã xảy ra với tôi? Với anh ấy?

– Một kẻ như Reginald không đáng để tôi phải bận tâm, Earlene! Đàn bà các cô đúng thật là phiền nhiễu! – Innamorato bực bội.

Earlene thở dài đầy bất lực và đứng dậy. Xem ra hắn ta sẽ chẳng chịu tiết lộ điều gì. Ả ôm lấy con mèo trên bàn Innamorato, vuốt ve nó:

– Fitz đệ III, mày thế nào? Chắc chắn hắn không bỏ đói mày nhỉ? Mập thế này cơ mà!

– Thật ra thì đó là Fitz đệ VII, đệ III đã bỏ tôi. – Innamorato chỉ tay về phía con mèo. – Xin lỗi Earlene, tôi cũng hơi bối rối lúc nãy. Chỉ là, đã lâu lắm rồi… Tôi chẳng muốn liên quan gì tới Reginald nữa, nhưng nào có được.

– Tôi cũng nhớ Reginald. – Earlene cười buồn, thả con Fitz béo ra. – Nói cho tôi nghe, chúng ta đã trở thành gì vậy?

– Những gì chúng ta phải trở thành, Earlene ạ. – Innamorato nhìn xa xăm về phía khung cửa sổ. – Có lẽ thăm Reginald cũng không phải ý tồi. Chúng ta có nhiều chuyện để nói, và nhiều việc để giải quyết mà…

– – – – – – HẾT PHẦN 12 – – – – – –


"Phần 13. Đêm của những người đàn ông" bởi iamDage
Hành động mua-bán dâm ở Anh đã từ lâu bị coi là một việc làm đi ngược lại với đạo đức và luân lý. Không ai biết chính xác bán dâm có từ khi nào — nhưng tất cả đều biết nó tồn tại một cách âm thầm và len lỏi khắp nơi như dịch hạch. Tới khoảng thời gian từ kỷ nguyên Victoria cho đến cuối thế kỷ hai mươi, mại dâm thật sự trở thành một “tệ nạn xã hội khủng khiếp”1. Người ta đến với tình dục để giết chết sự nhàm chán, để mải đắm chìm trong những thú vui trụy lạc tầm thường mà quên đi thực tại đầy thương hại. Bắt đầu từ những bãi rác, ngõ vắng, nhà hoang… cho tới các khu “phố đèn đỏ”, rồi khu vực dân cư, đường nhỏ… thậm chí là ngay tại gia. Kẻ mãi dâm biến bất cứ nơi nào họ đi tới trở thành “địa bàn” và “nơi làm việc” của mình, hoàn toàn công khai và không chút xấu hổ.

1


Nguyên văn: The great social evil.

– Này anh trai, cần tìm bạn hẹn hò tối nay chứ? – Một ả đứng õng ẹo bên cột đèn đường, vẫy tay gọi người khuân vác. Gã ngoái lại nhìn, hơi lưỡng lự vì vẻ nẫu nhừ của ả, rồi bước tiếp. Ả muốn tiền của gã, gã thì chẳng mê cái hông xồ xề kia là mấy, nhưng cũng nào ai trẻ đẹp đi mê tên culi thô kệch.

Một người đánh xe vừa đi qua, những lời mời gọi đon đả lại thi nhau cất lên:

– Người đàn ông của em, lái em đêm nay chứ?

– Tránh ra con điếm, nó là của tao! – Một ả bán dâm khác quát vào mặt đồng nghiệp.

– Mày tự nói với chính mình nhé! – Mấy con đàn bà còn lại góp giọng vào.

– Bao nhiêu? – Người đánh xe hỏi cộc lốc.

– Năm shilings cho mười phút.

– Bớt đi! – Gã kì kèo.

– Không ưa thì tìm con khác!

– Lên đi! – Gã hất hàm.

Chính vì mại dâm như một căn bệnh truyền nhiễm với sức lây lan khủng khiếp đến thế, trí tưởng tượng phong phú của con người đã góp phần nâng nó trở thành một hình thức giải trí ghê tởm. Đã qua rồi cái thời họ nhắc tới chữ “điếm” và chúng ta nghĩ về những người đàn bà kiếm tiền bằng cơ thể. Không chỉ đơn thuần là một người đàn ông cần tình và một người đàn bà cầm tiền, cùng nhau lén lút thực hiện những hành vi đồi bại tại những địa điểm vắng vẻ. Thay vì những cá nhân hành nghề lẻ tẻ, hàng loạt những tổ chức mại dâm với hình thức hoạt động phức tạp ra đời. Những cuộc trao đổi trên thể xác của trẻ em; những trò chơi tình ái đẫm máu đầy bạo lực với hàng đống công cụ tra tấn không kém thời Trung cổ; những kẻ tội đồ mê muội tự biến mình thành bầy súc vật bẩn thỉu mà thực hiện hành vi giao phối tập thể đầy hoan lạc; những bà vợ đánh mất cả phẩm giá, giấu chồng để chung chạ với chàng tình nhân trẻ hừng hực sức trai; những ông chồng già bất mãn lén lút ra ngoài để thưởng thức vài đóa hoa lạ… Và thậm chí nếu một người đàn ông hay một người đàn bà chợt nổi hứng thú với một người đàn ông hay rất nhiều người đàn ông khác, thì họ cũng sẽ chẳng ngần ngại lăn xả vào nhau trong những tiếng rên rỉ thâu đêm cùng rượu và ma túy…

Dọc theo nhà máy đường bỏ hoang và mấy con đường vắng rậm rạp cây cối, nơi mà thường ngày người ta chỉ thấy những kẻ vô gia cư hay lũ nghiện ngập bất cần đời lảng vảng, lại là thánh địa của những kẻ khác người chuyên đi tìm chút sa đọa của lối sống về đêm.

Vào thời điểm vô cùng hỗn loạn và đen tối như vậy, “Cảnh sát đâu hết rồi” nếu có ai thắc mắc?

Một viên cảnh sát đi tuần đêm ngang qua con hẻm rải rác mấy ả đứng đợi khách. Gã ngậm trong miệng điếu thuốc lá còn cháy dở một nửa, tay lăm lăm dùi cui, lặng lẽ đi qua đám người đê tiện. Ở London lúc ấy, mại dâm vẫn là một việc làm phi pháp, và những kẻ hành nghề phi pháp ấy thường thỏa hiệp với cảnh sát để đảm bảo chút quyền lợi cùng nghĩa vụ nho nhỏ cho cả đôi bên.

– Viên cảnh sát, ngài làm việc vất vả quá rồi! – Chúng thi nhau cười.

– Nhìn ngài kìa, mặc đồng phục này, đội mũ này, trông oai làm sao! Chúng em luôn muốn biết cảm giác bị chiếc que bự cùng bàn tay rắn chắc kia nện vào mông tuyệt vời đến mức nào!

– Câm mồm hết lại hoặc tao đánh gãy răng chúng mày bây giờ!

– Ôi, ngài đừng nóng nảy thế chứ! Ngài là người đại diện của luật pháp mà!

– Phải rồi! Lấy danh dự ra, bọn em nguyện phục vụ ngài!2

2


Nguyên văn: With honour we serve, là một khẩu hiệu của cảnh sát với ý nghĩa làm việc đi đôi với danh dự. Ở trong truyện, bầy gái chế nhạo tên cảnh sát biến chất bằng chính câu nói đó.

Gã cảnh sát im lặng trong giây lát, tự nhủ dù sao đó cũng chỉ là một đám chân yếu tay mềm vô dụng. Nghĩ là làm, gã xông vào bóp cổ và túm tóc hai cô gái trẻ nhất trong số đó, đè họ ra giữa đường.

– Ngậm cái này rồi câm con mẹ mày đi này!

Từ ngoài con ngõ, có chàng trai trẻ chứng kiến mọi chuyện, khẽ tặc lưỡi. Vừa đúng lúc gã cảnh sát kéo váy của lũ gái bán dâm lên, cậu ta rời đi, lẩn qua bóng những ngôi nhà cũ kĩ.

“Cũng may mà mình từ bỏ ý định trở thành cảnh sát lâu rồi…” – Cậu tự nhủ.

* * *

Ban đêm là thời khắc để những loài vật ngủ quên suốt ngày dài thức dậy và sống theo đúng nghĩa của chúng. Khi bóng tối che khuất hết tất cả, chỉ còn lại một bầu trời đen không ánh trăng, những vì sao mới có cơ hội được tỏa sáng. Cú mèo, dơi đi săn mồi; người cô đơn đi tìm bạn tình; kẻ bán dâm đi tìm khách muốn mua dâm; cảnh sát đi tìm kẻ đưa hối lộ… chỉ có kẻ trộm là không tìm thấy gì cả, vì đâu đâu cũng nhuốm một màu thiếu thốn.
Thật ra thì cũng không hẳn. Sự thiếu thốn chỉ ám ảnh những kẻ nghèo, còn người giàu họ có toàn quyền được hưởng thụ.

Reginald liếm qua đôi môi khô nứt của mình, lấy lại hơi thở và tiếp tục thổi vào ống kèn Trumpet, hòa âm cùng tiếng đàn dương cầm, vĩ cầm và bộ gõ. Anh hướng mắt nhìn theo những ngón tay đang nhịp nhàng điều khiển phần ống hơi của kèn…

Bình thường, kết thúc công việc, Reginald sẽ đi vào rừng hoặc trở về lâu đài. Nhưng hôm nay, anh quyết định ngồi chơi tại công viên gần khu nghĩa trang Forest Hill. Kể từ sau lần bị Randolph tấn công, vết cắn ấy ngày một sưng tấy và đau nhức hơn. Ma cà rồng vốn phục hồi rất nhanh những vết thương ngoài — nhưng, không phải ngẫu nhiên mà chúng luôn dè chừng trước những anh bạn ma sói ưa hú mỗi đêm trăng.

“Ai giờ này còn lang thang ở đây?” – Reginald nhìn thấy có bóng đen thấp thoáng giữa thân cây, miễn cưỡng đứng dậy đi về phía người lạ.

– Cảnh sát trưởng?

Joseph đứng tựa bên gốc cây sồi, cách đó không xa là những tấm bia mộ cũ kĩ. Reginald nhìn thấy ông đi chân đất và mặc quần áo ngủ, hai mắt vẫn nhắm chặt. Có lẽ Joseph đã bị mộng du mà đi ra tận đây.

– Đi nào, Joe. Tôi đưa ông về nhà. – Reginald cầm lấy tay Joseph định kéo đi, nhưng Joseph vẫn đứng nguyên tại chỗ.

– …

– Thôi nào, ông cứ ở đây là bị cảm đấy.

– …

– Ông muốn gì? – Reginald bực bội.

Joseph đi về phía chiếc ghế đá gần nhất và ngồi xuống. Dù đang mộng du, ông vẫn biết nhường lại một nửa chỗ ngồi cho Reginald. Không còn cách nào khác, Reginald đành tới bên cạnh ông cảnh sát mất tỉnh táo.

Joseph cho tay vào trong túi quần lấy ra bao thuốc lá đã bị đè tới nhàu nát. Hai tay và chân ông đầy những vết trầy xước, chứng tỏ đã bị va quệt hay ngã ở đâu đó rồi.

Joseph chìa một điếu thuốc về phía Reginald.

– Không, cảm ơn. – Reginald lắc đầu. – Tôi bỏ thuốc lá rồi.

Cánh tay cảnh sát trưởng vẫn giữ nguyên.

– Được thôi… – Reginald miễn cưỡng nhận lấy.

Joseph cũng lấy một điếu, ông quẹt diêm lên thành ghế châm lửa cho Reginald trước rồi mới tới lượt mình. Reginald mỉm cười, khẽ thở ra làn khói nhẹ. Anh gần như đã quên mất mùi vị của điếu thuốc ra sao. Reginald nhìn Joseph, ông ta cứ ngồi hút, có khi còn chẳng biết là mình đang hút.

– Tôi gọi ông là Joe nhé, chỉ lúc này thôi. – Reginald vẩy chỗ tàn thuốc.

– …

– Ông đang bị mộng du, Joe. Ông đi ra ngoài ngã xước hết chân tay kìa. – Vừa nói, Reginald vừa kéo nhẹ tay áo của Joseph ra, vô tình nhìn thấy vết sẹo bỏng lớn trên tay ông. Vết sẹo đã cũ, lồi lõm và nhăn nhúm. Tai nạn đó hẳn là rất nghiêm trọng.

– …

– Tôi chỉ muốn ông biết là… chính tôi đã giết thằng Michael, và hai tên hiếp dâm đó tôi cũng xui chúng tự tử luôn. – Reginald nhếch mép cười. – Ông biết không, đôi lúc tôi muốn thú nhận, nhưng tôi không thể… Điều thú vị là tôi luôn có cảm giác ông vẫn lưỡng lự với tôi bấy lâu nay.

– …

– Michael cũng chỉ là một con tốt thí mạng cho hắn. Ông không phiền chứ? – Reginald lấy thêm vài điếu thuốc nữa. – Mà tại sao tôi lại đi nói chuyện với ông?

Reginald ngừng việc nói chuyện lại để hút thuốc. Anh cảm thấy mình đang nói ra những lời vô nghĩa vì suy cho cùng Joseph đâu có thật sự ở đó để nghe. Kỳ lạ làm sao, Joseph dùng cánh tay mình khoác lên vai Reginald.

– Cảm ơn… – Reginald cảm thấy được an ủi. – Thật lòng tôi không nghĩ sẽ có lúc chúng ta nói chuyện với nhau như thế này. Tất nhiên chúng ta ở đây không phải là chúng ta, nhưng, ông hiểu đấy. Điên đầu thật!

Reginald ngừng hẳn việc nói lại, quay qua ngắm hàng cây và thảm cỏ, ngắm khung cảnh tĩnh lặng của nghĩa trang. Với nhiều người, có thể hơi rợn ngợp khi phải chịu đựng một mình trong bóng tối và trống trải; nhưng với Reginald, đó lại là thế giới của sự yên bình.

* * *

“Đừng bao giờ cãi lại lời ta!”

Reginald vùng khỏi chăn, nhận ra mình lại vừa gặp ác mộng. Anh thẫn thờ ngồi dậy, kéo tay áo lên kiểm tra vết thương: tay anh ngày một loét thêm.

“Xem cậu làm gì tôi này!” – Reginald nhăn nhó.

Reginald nghe thấy tiếng đổ vỡ phía dưới, bèn đi ra khỏi phòng để kiểm tra. Điều duy nhất kẻ mệt mỏi này muốn làm là ngủ thêm một giấc tới tận chiều thay vì lúc nào cũng phải dọn dẹp cho Olivia. Không nằm ngoài dự đoán, khi vừa mới bước vào nhà bếp, cảnh tượng đầu tiên anh nhìn thấy là con bé hậu đậu ấy đang loay hoay bên đống đĩa vỡ cùng chú chó Reg.

– Xin lỗi Reginald, tai nạn nho nhỏ… – Olivia cười ngượng ngịu.

Reginald không nói gì. Anh cúi xuống nhặt những mảnh vỡ cùng con bé.

– Ngài không mắng tôi? – Nhóc thấy ngạc nhiên.

Có một điều Olivia vẫn luôn thắc mắc: làm thế nào để Reginald kiếm sống? Anh ta không phải thợ thủ công, không làm nông, cũng chẳng phải là mục sư, bác sĩ hay bất cứ nghề nghiệp nào khác. Reginald không bao giờ nói cho cô bé biết mình đi đâu, làm gì. Cứ tối tối lại đi, tờ mờ sáng thì về; về nhà anh ngủ tới chiều; quá chiều lại tiếp tục đi, hết ngày này qua ngày khác .

– Reginald này… – Olivia buột miệng gọi anh. Thứ mùi nước hoa rẻ tiền nồng nặc hương xạ trên người Reginald từ lâu cô bé đã để ý nhưng chưa bao giờ dám nói ra.

– Sao vậy? – Reginald quay người lại.

– Không có gì! Tôi chỉ muốn biết ngài có bị làm sao không. Từ sau lần với Randolph, trông ngài có vẻ, ốm hơn… – Olivia gãi đầu. – Nếu có lúc nào ngài thấy mệt, cứ bảo tôi là ngài mệt, tôi không ngần ngại đâu…

– Ta ổn. Đi học đi.

* * *

Giao báo là một công việc không mấy dễ dàng, lại đòi hỏi đức tính kiên nhẫn cũng như kiên trì. Rất nhiều đứa trẻ chọn nghề này để kiếm sống, nhưng không phải đứa nào cũng sống được với nghề. Có những ngày báo bán hết veo cả sáng lẫn chiều, có những hôm người bán đã mời khản cổ tới tận quá trưa mà vẫn chẳng một ai thèm mua. Đống báo ế ấy bị lũ trẻ mang về nhà, chất vào một xó; sau này đem ra làm gì là tùy chúng.

Seth dậy từ sáng sớm, mặc quần dạ rộng thùng thình, áo sơ mi sứt chỉ bỏ bên trong. Cậu đội mũ beret, đeo túi quai chéo đã bạc màu rồi tới nhà in để nhận báo đem bán. Seth là một cậu bé có cái nhìn về mọi thứ rất khác với những người xung quanh, nhưng cậu nghĩ lý do đó chưa đủ thuyết phục cho việc tại sao rất nhiều người ở thị trấn cứ lời ra tiếng vào không ngớt về Seth và gia đình cậu. Trong lúc đang rao báo ở quảng trường, Seth nhìn thấy Olivia đang trên đường đi học. Một tia sáng bùng lên trong lòng cậu, cảm giác thanh thản và tươi vui.

– Chào Olivia… – Seth rụt rè lại gần.

– Chào Seth. – Olivia lạnh lùng đáp.

– Tớ…

– Bận lắm! – Olivia bước nhanh lên trước, cố tình tránh mặt Seth.

“Nhìn kìa, Olly lác và Mặt cá tâm thần đi cùng nhau, thật là đẹp đôi làm sao!” – Olivia giật mình quay lại, quắc mắt nhìn Catherine và bè lũ.

“Mặt cá và Olly cùng nhau ngồi trên một cái cây. H-Ô-N-N-H-A-U.” – Những lời nói đùa cợt ác ý của chúng làm bẽ mặt Olivia. Cô bé nhìn Seth đầy oán trách, bỏ đi vội vã.

Randolph đang trên đường tới tòa soạn, cậu đi bộ sau chúng và chứng kiến tất cả. Randolph cũng không ưa gì lũ con gái xấu tính đó, chỉ là thấy hơi buồn cười vì cách cư xử trẻ con của Olivia.

– Olivia, Olivia… – Randolph đuổi theo cô bé. – Em gái lùn ơi!

– Là anh à? – Olivia cáu kỉnh.

– Không anh thì ai. Em thế nào? Dạo này Reginald thế nào?

– Em không biết. Sao anh không tự mình gặp ngài ấy?

– Nếu được anh đã không phải hỏi em. – Randolph lấy từ trong túi áo một điếu thuốc lá và hộp diêm. – Anh cứ áy náy suốt mấy hôm nay…

– Anh áy náy vì điều gì? – Olivia thấy khó hiểu.

– Anh đã tấn công em và Reginald…? – Randolph nhún vai.

– Thì sao?

– Em thật sự không hiểu à, Olivia? – Randolph chau mày. – Không phải ngẫu nhiên mà ma cà rồng lại coi ma sói là kẻ thù truyền kiếp đâu. Nếu người bình thường bị cắn, anh ta sẽ biến thành ma sói. Còn với ma cà rồng, vết thương sẽ khá kinh dị đấy!

– … – Olivia cúi đầu xuống đất, tránh ánh nhìn của Randoplph. – Em sẽ nhắc ngài ấy, cảm ơn anh.

– Không sao. Lúc nào rỗi anh sang chơi cùng em và Reginald nhé? – Randolph xoa đầu cô bé.

– Vâng. – Olivia vẫy tay chào Randolph. – Em phải đi học đây.

* * *

Phòng họp của đồn cảnh sát lúc này ngổn ngang toàn giấy má, cảm tưởng một mẩu tàn thuốc lá vô tình làm rơi của ông cảnh sát trưởng lơ đãng cũng đủ giết chết rất nhiều người.

– Cảnh sát trưởng, cảnh sát trưởng? – Brook đưa bàn tay mình ra trước mặt Joseph. – Joe!

– Xin lỗi! – Joseph giật mình. – Chúng ta quay trở lại làm việc thôi.

– Cảm ơn ông.

Hôm nay là ngày Joseph cùng cấp dưới của ông tổng kết lại toàn bộ các báo cáo từ tháng trước.

– Tháng này có một vụ chết đuối do say rượu, bảy vụ bạo lực gia đình, bốn vụ mất tích… – Brook lật từng tờ giấy trong tập hồ sơ. – Và, con số cập nhật gần đây nhất về những vụ mất cắp cũng như hành hung là… mười hai. Không có vụ ám sát hay ngộ sát nào hết.

Joseph thở dài một tiếng.

– Cảnh sát trưởng, phần lớn đối tượng bị hại đều hành nghề bán dâm. Không phải giữa gái bán dâm với khách hàng thì cũng là giữa gái bán dâm với nhau. Chúng ta cũng nhẵn mặt vài “đàn chị” tiêu biểu rồi còn gì.

– Tôi lo cho lũ trẻ con. Đúng là cái thứ ôn dịch! – Joseph lấy ra một điếu thuốc lá, cúi đầu xuống châm lửa. Sau khi đã lấy lại bình tĩnh, ông mới tiếp:

– Còn về cái xác, sở cảnh sát từ Croydon vừa xác nhận đó là John-Michael Arlington, đến từ Ashburton. Báo cáo chỉ ra hắn đã mất tích từ năm 1876, bị tình nghi sát hại chính gia đình mình, chưa hề được tìm thấy cho tới nay. Giống như anh bạn Allan Harrison của chúng ta: Arlington từng là một cảnh sát viên tại địa phương.

– Hả…? – Brook ngoẹo cả đầu vì khó hiểu.

– Năm 1876 tôi mới mười một tuổi thôi. – Joseph hút một hơi dài.

Brook lẩm nhẩm trong miệng vài phép toán cộng trừ nho nhỏ. Những con số rất dễ gây nhầm lẫn, khiến cậu phải tính đi tính lại liên hồi.

– Cảnh sát trưởng, nếu dữ liệu không sai sót gì, thì chẳng phải John-Michael nay đã năm mươi tuổi? Hắn còn già hơn cả ông! Rõ ràng tôi thấy cậu ta chỉ khoảng hai mươi gì đó thôi mà?

– Đúng, cậu ta được báo cáo mất tích khi hai mươi tư tuổi, biến mất sau lần đi tuần cuối cùng vào đêm 23/4/1876… – Joseph chĩa điếu thuốc về phía Brook. – Tạ ơn cậu, cậu chậm hiểu quá.

– Chuyện này đúng là vô lý… – Brook thấy hoang mang. – Tôi cần cái gì đó để bình tĩnh lại.

– Làm một hơi đi, con trai. – Joseph đưa cho Brook bao thuốc lá. – Hơn hai mươi năm trong nghề, tôi gặp nhiều chuyện khỉ gió hơn rồi. Tập làm quen với chúng đi. Người mất tích là điềm xui xẻo lắm!

– Tôi thấy lo cho Allan… – Brook quẹt que diêm.

Joseph đứng dậy và rót một cốc nước. Ông ta thở dài, nhìn ra bên ngoài cửa sổ.

– Cậu biết lý do vì sao tôi mất tập trung khi nãy không?

– Tôi không biết, sao thế Joe?

Gần đây, những tiếng nói thì thầm kỳ lạ lại vang lên trong đầu Joseph, thôi thúc ông làm những việc mà phải khó lắm mới cưỡng lại được. Chúng khiến cảnh sát trưởng cảm thấy ông không còn là chính mình, khiến ông sợ hãi.

– Tôi cũng không muốn biết nữa, con trai ạ. Tin tôi đi.

* * *

Buổi chiều, Olivia dắt Reg ra ngoài dạo chơi. Lũ trẻ con sống ở dưới dốc quá nghịch ngợm và thường xuyên bắt nạt Olivia, nhất quyết không để nhóc yên. Đáng lẽ ra, như mọi khi, ông già râu xám phải ngồi chờ sẵn cô bé tới trò chuyện cùng. Nhưng gần đây, Olivia không thấy bóng dáng ông ta đâu cả. Ngả ngốn ra ghế đá, cô bé vuốt lưng Reg, cùng nó ngắm từng người đi lại trên con phố. Từ lúc ánh chiều tà đổ xuống cho tới khi phai dần, lượng người đi qua quảng trường cũng thưa thớt theo. Phần lớn mọi người đều đã trở về và khóa cửa nhà họ lại. Olivia quyết định đứng dậy khi tất cả những ánh đường đã được thắp lên, chiếu sáng lung linh cả thị trấn.

Vừa định về, Olivia bắt gặp một bé trai khoảng bảy tuổi đang ngồi khóc sụt sùi bên kia quảng trường. Cô bé lại gần, đỡ em đứng dậy.

– Sao thế?

Đứa bé không nói gì.

– Em có nói được không?

Nó khẽ lắc đầu.

– Tội nghiệp quá! – Olivia xót xa. – Nhà em ở đâu? Sao bây giờ còn chưa về?

Đứa bé giơ hai tay lên đầu rồi hất liên tục sang bên phải. Olivia không thể hiểu nổi.

– Em có muốn chị dắt về nhà không? – Olivia gãi đầu.

Nó lắc đầu.

– Nhưng em không nên ở bên ngoài khi trời tối.

Đứa bé câm định tiếp tục ra hiệu gì đó nhưng bỗng dưng ngừng lại. Nó kéo tay áo của Olivia chỉ về phía một cái bóng đang từ xa lại gần. Thấy em mình đang đứng cùng Olivia, Seth thốt lên:

– Colby!

Đứa bé vẫy tay với anh nó, tỏ ra mừng rỡ. Seth đặt túi báo xuống đất, nhìn đứa em mít ướt của mình.

– Colby, em lại quên đường về nhà? – Giọng Seth chứa đầy nỗi buồn và sự mệt mỏi.

Colby gật đầu.

– Có muốn anh cõng về không?

Colby lắc đầu.

Nhìn thấy Olivia, Seth hvướng tay về em mình:

– Chào Olivia. Đây là Colby, em của tớ… Colby, đây là Olivia, chị ấy là…

– Một người bạn. – Olivia nói nhanh.

– Cảm ơn cậu nhé. – Seth gật đầu. – Tớ phải đưa em về nhà đây, tạm biệt Olivia.

Olivia nhìn theo bóng Seth bế đứa em nhỏ xíu đi xa dần, chợt thấy có cái gì đó nhói lên trong lòng. Seth có em? Em cậu ấy không nói chuyện được? Sao lại như vậy? Cô nhóc trở về nhà cùng Reg , tự nhủ nếu còn gặp lại Seth lần sau, nhất định phải nói chuyện với cậu ấy nhiều hơn.

* * *

Sau bữa tối và một vài bài học tiếng Anh mới dành cho Olivia, Reginald khoác áo lên vai cùng chiếc hộp lớn đựng kèn Trumpet và rời khỏi tòa lâu đài. Đây vẫn là việc làm thường ngày của anh, không có gì quá đặc biệt. Reginald lúc nào cũng có chuyện để nghĩ, vừa đi trên đường anh vừa nghĩ về cuộc trò chuyện nho nhỏ ở nghĩa trang vào buổi sáng sớm. Joseph đúng là một kẻ mộng du ngủ say nhất mà Reginald từng biết. Anh không thể gọi ông ta dậy, nhưng cũng chẳng thể đưa được Joseph về nhà. Vậy là Reginald quyết định cứ ngồi ở đó cho tới khi chán, và tự khắc người mộng du sẽ phải đi về.

– Một ma cà rồng làm gì với người thường ở nghĩa trang vào lúc đêm hôm như thế này?

Reginald nghe thấy giọng nói này ở đâu đó rồi thì phải. Anh ngước lên, nhận ra đó chính là cậu Allan được tha mạng ngày trước. Reginald đã không gặp được Allan suốt từ lần đó.

– Ngươi muốn gì? – Reginald nhìn Allan bằng ánh mắt dò xét.

– Chúng ta có thể nói chuyện không?

Sau cái gật đầu của Reginald, Allan lại gần anh và ngồi xuống mặt đường. Thật lạ lùng, Joseph cũng mời cậu ta thuốc lá ngay cả khi ông ta vẫn đang ngủ, như thể đó là thói quen đã ăn vào tận tiềm thức của mình.

– Tôi sẽ không nói dối ngài, tôi chỉ là một con người đơn giản. Tôi cũng thích rượu, thuốc lá và tình dục… – Allan cười nhạt.

– Thì sao… – Reginald thờ ơ.

– Rồi mọi chuyện thay đổi đến chóng mặt khi tôi trở thành như bây giờ. – Allan nhìn lên trời. – Tất cả những thú vui ngày trước, giờ chúng chẳng là gì với tôi cả. Tôi không còn cảm thấy gì ngoài cơn giục giã đòi máu lúc nào cũng bùng cháy điên cuồng. (giọng Allan líu nhíu hẳn đi, cậu cúi gằm) Và, một số chuyện khác…

– Tội nghiệp ngươi ghê, Bí ngô ạ.

– Olivia vẫn ổn chứ? – Allan đột ngột thay đổi chủ đề.

– Con bé ổn.

– Tôi đã dụ dỗ vài đứa trẻ để hút máu… Bỗng dưng tôi lại muốn hành hạ chúng … – Allan nhìn Joseph đang ngồi im lìm trên ghế. – Tôi hy vọng chúng không sao. Tôi thấy rất có lỗi, tôi không muốn làm việc đó nhưng tôi không ngăn nổi mình…

Hít một hơi thật sâu, Allan tiếp tục nói:

– Tôi bị gia đình từ mặt, bị mất đi người yêu của mình. Tôi đã thử tìm cách treo cổ, tôi nhảy từ trên cao xuống, tôi uống thuốc độc… nhưng rồi tôi lại từ bỏ. Tôi vẫn còn yêu cuộc sống. Nhưng, bản năng ma cà rồng thật là khủng khiếp, Reginald. Hãy nói cho tôi, làm thế nào để chấm dứt sự dày vò vô tận này lại? Cuộc sống đâu có nghĩa gì nếu tôi cứ quanh quẩn hết ngày này qua ngày khác, lúc nào cũng bị cơn khát máu hối thúc?

– Đây không phải là buồng thú tội. Joseph cũng chẳng phải Cha xứ. – Reginald nhìn cảnh sát trưởng còn ngủ say, cảm thấy vẫn an toàn, anh mới cất lời. – Nhưng, ta có thể giúp ngươi.

– Bằng cách nào?

– …

Nghe thấy những tiếng nói chuyện rì rào, cảnh sát trưởng tỉnh dậy, nhận ra mình đang ngồi ở vườn cỏ nghĩa trang, bên cạnh người hàng xóm dang tay ôm chầm lấy cậu Allan mất tích bấy lâu nay.

– Allan, Reginald? Hai người làm gì ở đây vào lúc này?

Allan vội vã bỏ tay ra khỏi Reginald. Cả hai đều bất ngờ, không biết phải phản ứng hay giải thích ra sao.

– Allan Harrison, cậu đã bốc hơi đi đâu suốt? – Joseph lo lắng.

– Chuyện dài lắm… – Allan gãi đầu.

– …

Reginald bí mật lẻn ra đằng sau, giáng khuỷu tay vào gáy Joseph. Cảnh sát trưởng ngã gục xuống đất, mặt úp sấp.

– Sao ngài lại làm vậy? – Allan hoảng hốt.

– Đi đi, để ta lo chuyện này! – Reginald vác Joseph lên vai.

– Buổi tối tốt lành, Reginald.

Tiếng gọi của Joseph đưa Reginald trở về với thực tại. Anh nhìn thấy cảnh sát trưởng đang đi tuần ở ngã tư. Ít ra bộ đồng phục cảnh sát giúp Joseph trông cứng rắn hơn so với hình ảnh một người đàn ông hốc hác vì nghiện hút nặng lang thang trong cơn mộng du.

– Buổi tối tốt lành, cảnh sát trưởng.

– Lại một đêm vất vả cho cả hai chúng ta. Dù sao tôi vẫn muốn cảm ơn ngài vì đã đưa tôi về tận nhà. – Joseph cởi mũ chào hàng xóm.

– Bí mật của ông an toàn với tôi. – Reginald gật đầu.

Nhìn thấy không có ai qua lại, Joseph lại gần Reginald, chẳng mấy chốc cả hai bước song song nhau.

– Tôi luôn thắc mắc điều này. – Joseph nói nhỏ. – Ngài có tin vào ma cà rồng không?

Câu hỏi của Joseph khiến Reginald đứng sững lại.

– Tôi không hiểu ông muốn nói về cái gì.

– Ngài biết đấy, những con quỷ hút máu… – Joseph giơ hai tay lên giống như khi người ta kể chuyện ma dọa trẻ con.

Reginald lắc đầu.

– Khi tôi còn bé, bố tôi từng kể cho tôi một vài câu chuyện dân gian của Việt Nam. Tôi rất sợ truyện về một loài quỷ hút máu, khá giống với ma cà rồng ở đây.

– Thế hả?

– Họ tin rằng lũ quỷ ấy có hình dạng giống hệt như những người bình thường, ban ngày vẫn ra ruộng cày, vẫn lấy vợ và sinh con — nhưng khi đêm tới, chúng có thể bay vào nhà người khác và rút hết sự sống của nạn nhân, khiến họ suy yếu dần.

– Loài ma cà rồng này có thể đi lại tự do vào ban ngày? Thú vị thật. – Reginald nhướn mày.

– Đúng vậy. Và họ nói rằng nếu đêm tới mà nhìn thấy ngọn đèn dầu chuyển thành ánh sáng xanh thì phải gõ vào vách tường để đuổi chúng đi, nếu không sẽ đổ bệnh nặng ngay lập tức. Chúng có thể biến thành hình chó, mèo lẻn vào nhà người khác…

Reginald tăng tốc, Joseph biết người hàng xóm của mình đang cảm thấy không thoải mái.

– Chẳng phải ma cà rồng cũng là tiếng lóng để chỉ những con người chuyên làm việc về đêm? Như ngài chằng hạn, tôi cũng vậy. – Joseph cười lớn. – Chúng ta đều là những con ma cà rồng thèm ngủ.

– Phải rồi. – Reginald gượng cười.

– Ở Forest Hill này có nhiều kẻ hoạt động về đêm lắm nhỉ…

Joseph và Reginald trò chuyện một lúc, cùng nhau đi tới tận quãng đường qua quảng trường và chia tay ở đó. Toàn bộ những ký ức về Allan và Reginald ở nghĩa trang, với Joseph, chỉ là một giấc mơ kỳ quặc trong hàng triệu giấc mơ khác ông có mỗi khi mộng du. Nhưng giấc mơ ấy thật sống động, rất chân thật tới mức gần như đã khiến ông ta tin rằng mình đã ở đó và chứng kiến mọi thứ.

* * *

“Hy vọng món quà mình trao cho thằng nhóc Allan sẽ khiến nó khốn khổ!” – Reginald cười nhạt. Anh chưa bao giờ tử tế đến mức ban phát cái gì đó cho ai một cách dễ dàng chỉ vì họ hỏi xin anh.

Reginald tháo găng phải, nhìn vào lớp da tay đã hơi nhăn lại của mình, rồi vuốt lên mái tóc. Một vài sợi yếu ớt trên đầu anh rụng ra, màu ngả xám. Gã ma cà rồng không rõ mình thật sự chẳng bận tâm tới tuổi già mệt mỏi, hay gã chỉ tỏ ra dửng dưng vì muốn trốn tránh. Giống như Allan, Reginald cũng từng muốn tự giải thoát cho bản thân khỏi chuỗi ngày vô tận đắm chìm trong mặc cảm và dằn vặt, hoặc sợ hãi. Nhưng, khi đến phút chót – bên bờ vực mong manh của cái chết và sự sống – lại có một điều gì đó khiến họ thay đổi quyết định của mình. Và họ tự hỏi bản thân: liệu mình có thật sự muốn chết?

Reginald kề chiếc kèn lên môi, cố gạt đi hết mọi thứ đang diễn ra xung quanh mình để tập trung vào giai điệu trong đầu. Tiếng kèn vang lên u buồn và đơn độc; nhưng cũng nổi bật, nghiêm trang cùng một lúc. Kết thúc phần solo của mình, Reginald nhận ra từ phía đằng xa, một bàn tay chìa ngón trỏ nhỏ nhắn của ai đó ngoắc anh về phía ả. Ánh mắt cô gái rõ ràng chỉ trao cho mình anh. Lớp son đậm và đôi giày cao gót kia có khiến cô trông già thêm hai ba, tuổi. Mà thôi, quan tâm làm gì?

Absinthe, cần sa và Jazz đúng là một sự kết hợp tuyệt vời — nhưng, vẫn còn một thứ nữa. Reginald là ai mà có quyền phán xét? Reginald là ai mà có thể từ chối?

Anh rời khỏi vị trí của mình, bước nhanh qua quầy pha chế. Cô gái đang ngồi ở đó mỉm cười, đứng dậy đi theo sau anh, lén rút tờ tiền cuộn trong tay Reginald.

Nhạc lên, miệng không cần trao đổi quá nhiều, chỉ cần cười vui là đủ. Bởi nếu lỡ lời mà kể cho nhau nghe điều khiến mình bận lòng là bao vấn đề, rắc rối lại thi nhau ùa tới nặng trĩu cả đầu. Người mất ngủ không đếm cừu vì họ bận đếm miệng ăn sáng mai, bận đếm tiền cho con cái đi học. Phải trả tiền cho con đi học để chúng có thể kiếm được việc làm; có việc làm chúng mới kiếm được tiền để lớn lên lấy chồng, lấy vợ rồi sinh con và lại trả tiền cho con. Đó. Vậy thì cứ kệ, và nhảy, uống, ca hát, làm tình đã. Chỉ cần một-hai giờ đồng hồ thôi, để người ta được vui chơi trong thế giới của riêng mình. Có gì phải lo, lũ trẻ con giờ này ngủ say hết rồi.

Trên sàn nhảy, những bước chân lướt đi uyển chuyển theo tiếng nhạc hòa âm nhịp nhàng. Hơi xa khỏi đó, hương nước hoa kích dục đậm mùi xạ lại xộc lên trong nhà vệ sinh cùng tiếng rên rỉ khoan khoái của một cô gái. Bên ngoài đường — đứng từ xa nhìn khu đèn đỏ — lại có mấy con đàn bà mang trong mình bệnh tật, ma túy hay thậm chí là những bào thai bất hạnh bé nhỏ. Và đâu đó, một gã cảnh sát miệng ngậm thuốc lá, hai tay chắp đằng sau lưng, rảo bước trên vỉa hè với đôi mắt lờ đờ.

- - - - - - HẾT PHẦN 13 - - - - - -


"Phần 14. Gánh xiếc" bởi iamDage
Đêm hôm trước, Reginald chứng kiến từng chiếc xe kéo nối đuôi nhau đi vào trung tâm thị trấn, bên trong chật ních người. Đám người hát hò cùng nhau, bên đống bia và xì gà rẻ tiền. Đây đích thị là một đoàn xiếc lưu động đã chọn Forest Hill làm địa điểm biểu diễn tiếp theo. Vốn không phải là người ưa đám đông và hòa mình vào những trò vui, càng không thích việc có những kẻ ưa tự mang sự kỳ quặc của chúng ra để kiếm tiền, Reginald có nhiều ác cảm về hội chợ này.

* * *

“Reginald, Reginald!” – Vừa mới sáng sớm, Olivia đã réo gọi tên anh ầm ĩ.

– Cái gì? – Reginald gắt, chạy xuống nhà dưới.

– Tôi lạnh.

– Giờ vẫn chưa phải mùa đông đâu. Ngươi mặc thêm áo vào.

– Ngài có biết ngoài trời lúc này là bao nhiêu độ không? – Olivia run lập cập.

Reginald nặng nề bước từng bước tới khung cửa sổ gần nhất. Anh ta kéo mạnh chiếc rèm sang một bên, đẩy tung cánh cửa nhằm chứng minh cho đứa nhóc thấy rằng thời tiết có lạnh nhưng không tới mức phải làm ồn ào. Một cơn gió mùa ùa tới, cuốn theo bụi vào mắt Reginald, thổi tung tóc anh.

– Mặc thêm áo vào… – Reginald nói nhỏ, thấy hơi bẽ bàng. Anh đi vòng ra sau phòng khách, tiện dắt Olivia xuống tầng hầm. Chỗ than còn lại ở dưới chắc chỉ đủ dùng tới hết tháng Mười hai. Giá rét, mưa dầm và gió mùa – bộ ba này chẳng mấy chốc mà tới; cuối cùng chốt sổ mùa đông bằng vài đợt tuyết rơi. Cần phải chuẩn bị thật nhiều gỗ tích trữ trước khi cái lạnh thấu xương trùm lên khắp tòa lâu đài và khiến Olivia rơi vào cảnh ốm đau. Khu rừng trên đồi là nguồn cung cấp gỗ lý tưởng. Chỉ có điều, Reginald sẽ phải đốn hạ chỗ thân cây cứng như đá, cưa chúng ra thành từng khúc rồi bó lại mang về nhà qua đoạn đường hơn hai trăm thước. Vì thế, anh nên bắt tay vào làm ngay, càng nhanh càng tốt nếu muốn căn hầm của mình chật ních gỗ sưởi trước khi nhiệt độ hạ xuống mức 41 Fahrenheit (5 độ C).

– Tôi làm gì có áo ấm. – Olivia kéo vào tay áo của mình. – Ngài có cái áo nào không cần tới chứ?

– Thử tìm ở tầng hầm xem, dưới đó có nhiều thứ hay ho lắm. Ta phải ra ngoài kiếm củi. Cẩn thận mấy bậc thang và đống gỗ mục đấy.

Olivia tránh sang một bên cho Reginald xuống lấy rìu. Chờ anh ta trở lên nhà, cô bé mới nở nụ cười thích thú, tưởng tượng ra một kho báu nhỏ dành cho mình ở dưới kia:

– Tuyệt vời!

* * *

Reginald thở không ra hơi, ném rìu sang một bên, ngồi xuống một tảng đá trên bãi cỏ. Nhìn đống củi mình chặt suốt cả buổi sáng so với phần thân cây còn nguyên vẹn, rồi nhìn bàn tay bị trầy da tới rớm máu, gã ma cà rồng cảm thấy tiếc nuối cho chính bản thân. Gã từng làm được gấp mười lần những việc nặng tương tự trong thời gian ngắn hơn nhiều khi xưa.

– Cái mũ che hết cả mặt ngài, tôi suýt không nhận ra luôn. – Randolph đứng tựa vào một cây ở gần đó, tiến lại gần. Cậu ta cứ như vừa nhảy ra từ không đâu trong rừng, chẳng hề tạo bất cứ tiếng động nào. – Chào.

– Mặt trời sắp lên cao, tôi không thể ra ngoài nếu không đội mũ hoặc che ô. – Reginald đưa tay lên chỉnh lại vành mũ đen tuyền. – Chào Randolph.

– Nhưng nó cũng khiến cho tầm nhìn của ngài bị hạn chế. – Randolph cầm lấy rìu. – Trông ngài có vẻ mệt rồi, để tôi làm giúp cho.

– Tôi ổn…

– Không đâu, tay ngài đang run kia kìa. – Randolph chỉ về phía hai cánh tay run lẩy bẩy vì mỏi của Reginald. Cậu vung rìu lên, giáng thẳng vào gốc cây.

Reginald chếch vành mũ lên một chút để nhìn Randolph được rõ hơn. Những anh chàng nhà báo tự do thường mang cái vẻ rất phong trần, Randolph cũng không ngoại lệ. Điều đó khiến cho Reginald đôi chút cảm thấy ghen tị với chàng trai sở hữu một gương mặt hồng hào đầy sức sống cùng trái tim ấm nóng đập liên hồi kia, rồi lại mặc cảm với chính mình của ngày nào.

– Tôi rất xin lỗi vì đã cắn ngài. – Randolph vừa nói vừa bổ củi.

– Cậu không cần phải nhắc lại.

– Ngài nói vậy nhưng vẻ bề ngoài của ngài lại bảo với người ta là ngài không cho phép họ làm như vậy. Dù sao thì giữa người và người cũng nên có những mức tôn trọng nhất định. – Randolph đùa cợt. – Nhóc Olivia có vẻ rất sợ ngài.

– Nhóc đó mà sợ tôi thì nó đã chừa cái thói cứng đầu đi rồi! – Reginald bật cười.

– Tôi biết ngài chăm sóc cho con bé rất tốt, nhưng đừng lãng quên bản thân. – Randolph bê đống củi vừa chặt gom lại vào một góc. – Đừng vì lý do đạo đức hay lương tâm mà tự đánh mất quyền được sống và thỏa mãn của mình.

Reginald chau mày, cho rằng mình đang bị lên lớp bởi một người so với anh ta thì chẳng khác gì đứa trẻ con.

– Ngài đang thiếu máu. – Randolph dừng việc chặt cây lại để nhìn Reginald. – Lão hóa và suy giảm thể lực là dấu hiệu rõ ràng nhất rồi. Cơ thể ngài đang gào thét nhưng ngài tảng lờ và mặc kệ cho nó khô héo dần từ bên trong.

Reginald không đưa ra bất cứ phản hồi nào cho lời khẳng định ấy của cậu nhà báo.

Randolph kéo nhẹ lưỡi rìu xuống dưới và rút nó ra, ngồi xuống bên cạnh Reginald. Cậu tìm trong túi quần mình bao thuốc lá, đưa cho Reginald một điếu và ngậm một điếu khác. Cả hai chĩa đầu thuốc đối diện vào nhau, đốt chúng lên bằng que diêm của Randolph.

– Tôi còn không hiểu tại sao mình lại hút. – Randolph lắc đầu cười, nhẹ nhàng thở ra khói qua đường mũi.

– Chắc cậu hay làm việc muộn? Tôi không nghĩ cậu hút để tỏ ra “ngầu”. – Reginald vẩy tàn thuốc. – Tôi cũng chẳng nhớ mình đã hút từ bao giờ nữa, nhưng tôi không muốn phải dính chặt với nó như cảnh sát trưởng.

Randolph cười lớn.

– Có gì sai sao? Tôi giả tạo quá?

– Không. – Randolph lắc đầu cười.

– Mẹ kiếp! – Reginald chửi thề – Tôi vừa mới nhớ ra một chuyện! – rồi dập điếu thuốc, vội vã bê đống gỗ vừa chặt lên.

– Giúp tôi một tay được không?

– Có chuyện gì vậy? – Randolph đứng bật dậy.

* * *

Reginald cùng Randolph vừa trở về. Còn chưa kịp nói gì, họ đã nhìn thấy Olivia từ xa chạy lại, nét mặt tươi rói vì phấn khích.

– Reginald, Reginald, đoán xem tôi vừa nhìn thấy gì lúc đi ra trung tâm thị trấn đi!

– …

– Khăn đẹp thế em! – Randolph ngước nhìn chiếc khăn quàng kỳ lạ vắt lệch sang một bên vai của Olivia. Nhóc con trông thế mà điệu đà.

– Cảm ơn anh! Cái khăn ở tầng hầm của Reginald xấu òm, em phải tạo cho nó thêm kết cấu. – Olivia vô tư trả lời, rồi quay sang phía người đàn ông đang nhìn mình bằng đôi mắt hơi mở to vì bối rối. – Reginald, sao ngài không nói gì?

– Ta… – Reginald cảm thấy không biết nói sao cho phải.

– Họ đang tổ chức một hội chợ ở gần quảng trường. Làm ơn cho tôi đi đi! – Olivia rối rít, níu lấy tay áo anh.

– Không. – Reginald phũ phàng đáp.

– Tại sao? – Olivia nhăn nhó.

– Vì ta nói thế. Giờ thì vào nhà đi, ngươi không sợ lạnh à.

– Tôi có áo khoác rồi. Ngài cho tôi đi đi!

– Vào trong đã rồi chúng ta sẽ nói về chuyện này sau. – Reginald khoát tay, chỉ về phía cổng lâu đài.

– Tôi tìm được nhiều thứ hay ho dưới tầng hầm lắm! – Olivia phấn khởi kéo tay áo của Reginald qua phòng khách.

– Đó là điều mà ta đang định hỏi ngươi đây. Ngươi đi tới tận đâu và đã thấy những gì?

– Tôi chỉ đi xuống vài bậc thang và loanh quanh chỗ đó thôi, còn lại hơi tối nên cũng sợ không dám vào sâu hơn. – Olivia gãi đầu. – Có nhiều đồ chơi, áo khoác của trẻ con…

– Còn gì nữa không?

– Tranh, vài bức tranh và chân dung bị ném vào một xó. Chúng mốc và mục nhiều lắm! – Olivia chợt rùng mình. – Tôi có xem qua chỗ tranh đó rồi, người nào vẽ chân dung ngài tài thật!

Reginald lấy tay day day lên trán. Anh bỏ ra ghế ngồi, mệt mỏi thốt lên:

– Chúa ơi!

– Ngài làm sao vậy? – Olivia đuổi theo Reginald. – Tôi nói gì sai à?

Nhìn bộ dạng thất thần của Reginald, Olivia không hiểu mình đã làm gì sai. Cô bé ngước lên trên, nhận ra tóc anh ta có vài sợi đã chuyển sang màu xám.

– Tôi hiểu mà. – Olivia kéo tay áo Reginald. – Tuổi thanh xuân tàn phai theo thời gian kể cũng tiếc thật, nhưng ngài đừng buồn chứ.

– Ngươi nói linh tinh cái gì đấy? – Reginald bực bội.

– Những bức vẽ rất sống động, trông đẹp hơn ngài ngoài đời nhiều. – Olivia hồn nhiên tiếp lời.

– Đó không phải là ta. Đó là chân dung cha ta và anh ta.

– Chà! Tôi không ngờ đấy, thảo nào trông thần thái khác hẳn. – Olivia trầm trồ. – Nhìn ai cũng hao hao giống nhau nên tôi không nhận ra.

Reginald nhìn Olivia, thở dài trong bất lực. Rõ ràng đứa trẻ này chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra cũng như nó đang nói về cái gì.

– Con cháu giống người trong nhà có gì lạ đâu. Tôi mong được nhìn thấy tranh của bố mẹ mình lắm ấy chứ! – Olivia chống tay lên cằm. – Mà người thân của ngài ai trông cũng vừa đẹp lại còn sắc sảo, chả bù cho ngài.

Reginald bật một tràng cười ngắn ngủi, thán phục trước khả năng làm người khác phát điên của đứa nhóc ấy. Tưởng rằng Reginald cuối cùng cũng xuôi lòng, Olivia hớn hở hỏi:

– Giờ ngài sẽ đồng ý cho tôi đi chứ?

– Ngươi… – Reginald cố gắng kiềm chế. – Ngươi không thể đi. Ta nói không là không!

– Nhưng ngài lúc nào cũng bắt tôi ở trong nhà. Đi học về là phải về nhà, ở nhà mà không học thì lại phải làm việc nhà. Chán chết! Tôi không thể đi một lần được à?

– Olivia, ngươi thật cứng đầu! – Reginald gắt lên.

– Reginald, ngài thật cứng nhắc! – Olivia hét lớn.

Reginald không thể nói thêm một lời nào với đứa trẻ ngang ngạnh ấy nữa, chỉ thiếu nước đánh cho nó một trận nhừ tử. Randolph suốt từ nãy đến giờ vẫn đứng nép bên cửa phòng khách. Chứng kiến bầu không khí mỗi lúc một căng thẳng giữa hai người, cậu thấy thật ái ngại.

– Ờm… – Randolph nhẹ nhàng đi theo Reginald, mắt nhìn Olivia. – Anh sẽ nói chuyện với ngài ấy.

Reginald đứng tựa vào mép cửa phòng mình, hai tay khoanh trước ngực. Randolph thấy cả hai con người ấy đều cố chấp, chẳng chịu nhường nhau chút nào.

– Không hay đâu. – Randolph nhìn Reginald, khẽ chép miệng.

Reginald chau mày, cho rằng cậu viết báo tốt nhất đừng có xía vào hay phán xét một điều gì.

– Chỉ là đi chơi vui vẻ thôi mà, đâu có gì to tát. Tôi thấy ngài mới là người đang giận ngựa đánh yên đấy.

– Xin lỗi? – Reginald lại chau mày.

– Mọi chuyện đều bình thường cho đến khi Olivia nói rằng con bé tìm thấy mấy cái chân dung đó và trêu đùa về cha ngài, rồi ngài nổi khùng lên. Như thế là sao? Ngài có thể nhắc nhở Olivia là nó đang thiếu tôn trọng người lớn, hoặc ngài không thích cợt nhả.

– Không phải là chuyện cha tôi. Tôi cảm thấy nhóc đó thật sự không nên tới chỗ gánh xiếc. Tôi có linh cảm không hay chút nào.

– Reginald, tôi biết ngài là người sinh ra ở thời đại khác xa với bây giờ nên là… Đúng, Olivia không nên bình luận khiếm nhã về ai trong gia đình ngài, hãy bỏ qua cho nó. – Randolph hơi cười. – Tôi chỉ không hiểu cái thái độ cau có đột ngột mà ngài trút hết lên đầu con bé thôi.

– Tôi bảo cậu rồi, tôi chỉ mắng nó vì cái tính nhằng nhặng thôi. Và tôi cũng khuyên cậu nên dừng ngay việc đề cập tới cha tôi ở trước mặt tôi lại.

– Tại sao? Tôi đâu có ý bất kính? Chẳng lẽ ngài có vấn đề với cha ruột hả? Có phải ông ta là người nghiêm khắc? Có phải ông ta đã từng áp đặt ngài hệt như cách ngài áp đặt Olivia, thậm chí còn khắc nghiệt hơn? Ngài ghét cha mình, nên cấm người ta không được hỏi hay nói bất cứ điều gì liên quan đến cha ngài? Và vì Olivia là một đứa trẻ ngốc nghếch thiếu tinh tế, nó vô tình xoáy sâu vào những cảm xúc bị kìm nén bấy lâu trong lòng ngài, khiến ngài nổi xung lên và quyết định “chèn ép” lại nó cho hả cơn?

– Cậu chắc chứ? – Reginald nhìn Randolph. Quả là một sự võ đoán ngạo nghễ.

– À, tôi xin lỗi. Tôi không nên kết luận ẩu…

– Cậu là nhà báo phải không, tức là cậu biết cách khai thác thông tin từ người khác. – Reginald bước lại gần Randolph. – Nhưng nghe đây: Mọi thứ cậu lấy được, nó cũng chỉ là từ góc nhìn của cậu. Cậu chẳng biết gì về gia đình tôi hết, vì vậy làm ơn đừng bao giờ nhắc tới cha tôi trước mặt tôi.

Randolph không cảm thấy bị xúc phạm hay lấn lướt cho lắm khi phải nghe những lời như thế. Cậu cúi xuống, khẽ liếm môi và nở nụ cười. Randolph biết người ta thường hay phản ứng ra sao khi cảm thấy bất an — và lúc này, rõ ràng Reginald đang bất an.

– Nếu ngài là ma cà rồng bất tử và nếu những điều tôi nghe về ma cà rồng bất tử là thật, thì tôi hiểu rồi. Tôi sẽ không nói về vấn đề này nữa. – Randolph nhìn Reginald. – Còn chuyện giữa ngài và Olivia, tôi chỉ muốn góp ý rằng ngài cũng đừng nên bao bọc con bé quá mức. Bên cạnh học và làm việc vặt ra, nó cũng cần được vui chơi bên ngoài, với những người bạn cùng tuổi.

– Cảm ơn cậu. Tôi sẽ cân nhắc. – Reginald hạ giọng.

Randolph gật đầu. Trước khi ra khỏi phòng, cậu ta không quên quay lại và hỏi:

– Ngài có thể chia sẻ với tôi ngài là con thứ bao nhiêu chứ?

– Tôi là đứa thứ mười tám.

– Tôi rất tiếc!

– …

Cậu nhà báo rời phòng, nhường không gian riêng tư cho Reginald thoải mái suy nghĩ. Đúng, Olivia chỉ là một đứa trẻ. Reginald cũng muốn cho con bé đi chơi, nhưng những linh cảm xấu xí cứ khiến hai cánh tay anh nổi gai ốc. Cảm giác bồn chồn liên tục làm tóc gáy anh dựng lên, mách bảo Reginald rằng nếu đồng ý, đó sẽ là một quyết định khiến anh phải hối tiếc.

“Mày chỉ lo lắng thái quá thôi!” – Reginald day hai thái dương.

* * *

– Jules, họ đang dựng lều ở ngoài kia. Tối nay con có muốn ra ngoài chơi chút không? – Joseph ngồi bên cạnh giường con gái, đặt bàn tay ấm áp của mình lên trán con.

– Không, con mệt lắm. – Jules ngả đầu vào vai bố. – Con không muốn đi ra ngoài.

– Nhưng con cần phải ra để hít thở không khí ngoài trời. Trông con đi, tái nhợt hết rồi. – Joseph lo lắng. Con ông càng ngày càng yếu ớt và sợ ánh sáng hơn, nhưng ông lại không thể chăm sóc nó chu đáo.

– Con cần bố không hút thuốc nữa. Bố hôi lắm! – Jules vòng tay qua người bố, chạm vào cổ tay nhăn nheo của ông. – Bố ở đây với con được không? Con sợ nếu con ngủ rồi…

– Không sao. – Joseph hôn lên tóc con.

Nhẹ nhàng kéo cao tấm chăn lên cho con, người bố rùng mình, khẽ ho vài tiếng. Những cơn gió báo hiệu mùa đông sắp tới lùa qua ô cửa sổ, khiến cảnh sát trưởng cảm thấy cô đơn và uể oải hơn.

“Charlotte, anh nhớ em nhiều lắm.” – Joseph với tay lấy gạt tàn thuốc trên bàn.

* * *

Allan ngồi tựa vào bức tường bụi bặm thiếu người quét dọn lâu ngày, đôi mắt thẫn thờ hướng về phía chân giường chỏng chơ vài quyển sách nhàu nát. “Món quà” Reginald ban cho cậu ta thật sự có tác dụng vượt quá cả mong đợi: cậu không bất tỉnh mỗi khi trời sáng, không bị bỏng nắng, cậu còn không muốn hút máu những đứa trẻ con nữa. Điều tuyệt vời nhất là Allan đã bắt đầu tìm lại được những giấc mơ mỗi khi đi ngủ, và tiếng gọi thì thầm của kẻ đã biến đổi cậu không còn văng vẳng trong đầu cậu hằng đêm. Kể từ khi trở thành ma cà rồng một cách ngoài ý muốn, đây là lần đầu tiên Allan tìm thấy được yên bình và tự do.

Allan không còn bị hấp dẫn bởi máu người, bởi cậu đã tìm thấy một nguồn máu khác tươi ngon hơn, hấp dẫn hơn. Giờ đây, khi đã không còn bị kiểm soát, cậu mới thấm thía được nỗi khổ của John-Michael. Allan nhớ John-Michael, và cậu khinh ghét lũ ma cà rồng kia.

“Quỷ tha ma bắt, Reginald! Và tất cả các người nữa!”

* * *

Bước xuống cầu thang dẫn tới phòng khách, Randolph khẽ chạm vào cánh tay cô bé hờn dỗi, mỉm cười với nó.

– Anh nói chuyện với Reginald rồi đấy.

– Ngài ấy bảo sao? – Olivia không ngạc nhiên cho lắm khi thấy Randolph vừa mới lên trên đó mà giờ đã xuống đây. Chẳng mấy ai có được một cuộc hội thoại dài hơi hay thoải mái với người như Reginald cả.

– Khá là… – Randolph cảm thấy khó nói. – Anh nghĩ Reginald sẽ đổi ý thôi. Nhưng anh cần em biết là đôi khi em đừng nên đòi hỏi hay nhõng nhẽo ngài ấy nhiều quá. Người lớn có sức chịu tốt hơn trẻ con nhưng không vì thế mà em được quyền quấy, hiểu chứ? Trong lòng họ cũng chứa chất bao mối bận tâm, những áp lực và lo âu — em biết đấy — những điều khó có thể nói thành lời, và không phải đứa trẻ nào cũng hiểu được chuyện của họ. Reginald mệt mỏi vì nhiều thứ rồi, thỉnh thoảng em đùa vui một chút cũng không sao, nhưng đừng quá trớn.

– Reginald lúc nào cũng chỉ thích áp đặt thôi. Khó chịu lắm! – Olivia phụng phịu.

– Thật ra ngài ấy cũng chỉ có ý tốt cho em mà, Olivia. Mỗi tội cách thể hiện hơi—gia trưởng và thiếu mềm dẻo. – Randolph chống tay lên cằm. – Lớn thêm một chút em sẽ hiểu ra và thông cảm cho Reginald thôi.

– Em đã cố hỏi han nhiều rồi, nhưng Reginald chẳng chịu chia sẻ điều gì cả. – Olivia chau mày. – Cứ như là ngài ấy mắc bệnh sợ nói vậy.

– Em hỏi vì muốn thấu hiểu người khác, hay là nói chuyện phiếm cho qua thời gian? Thường thì đàn ông không thích nói nhiều, và họ cũng tệ luôn trong khoản lắng nghe phụ nữ nói nhiều, Olivia ạ. – Randolph bật cười. – Chắc ngài ấy hay nổi cáu mỗi lần em nói lan man gì đó hả?

“Sao anh ấy biết nhỉ?” – Olivia cúi đầu ngượng ngùng. Nhưng nhóc cho rằng anh Randolph chỉ bảo thế để bênh vực Reginald.

– Anh có chắc Reginald và anh không cần nói nhiều mà vẫn hiểu nhau?

– Olivia, em có đôi tai để nghe và cặp mắt để quan sát. Thắc mắc một chút cũng là điều tốt, nhưng đôi khi em cần phải tự mình tìm ra câu trả lời thay vì cứ đòi hỏi người khác phải làm mọi thứ cho em.

– Anh nói cứ như anh hiểu chuyện lắm vậy! – Olivia ngúng nguẩy. – Reginald là đồ độc ác suốt ngày chỉ biết cậy quyền bắt nạt em!

– Olivia!

Olivia giật mình theo tiếng gọi, nhận ra Reginald đang đi từ trên cầu thang xuống. Đứa trẻ bặm môi, hy vọng anh ta không nghe được những lời xúc phạm vừa rồi.

– Nếu ngươi muốn đi, được thôi, nhưng cần dưới sự giám sát của ta. – Reginald nói chậm rãi, nhưng nghe thật gượng ép và nặng nề.

– Thật không? – Olivia mừng rỡ.

– Ta đùa ngươi làm gì?

– Cảm ơn, Reginald. – Olivia nhảy ra khỏi ghế, lao thẳng vào người nó vừa mới lớn tiếng cãi lại. – Ngài không nghe thấy những gì tôi vừa nói chứ?

– Ta nghe rõ từng, từ, một. – Reginald trả lời đầy chán nản, cảm thấy sức chịu đựng Olivia của mình hóa ra cũng bền bỉ đến không ngờ.

Olivia cười ngượng nghịu.

– Ngài bỏ qua nhé?

“Con bé này!” – Randolph đảo mắt.

* * *

Mất gần nửa ngày để đoàn xe tới Forest Hill hoàn tất việc dựng lều và trang trí. Tới trưa, những đứa trẻ ở khu dân cư tò mò đi ra khoảng đất phía xa sau quảng trường, ngắm đoàn diễn viên làm việc. Chúng chạy nhảy khắp nơi, đùa nghịch quanh các quầy buôn bán, thậm chí còn chơi cùng lũ trẻ của đoàn xiếc. Không chỉ có trẻ con, người dân Forest Hill ngày hôm đó cũng háo hức vô cùng. Mọi người làm việc hăng hái hơn mọi khi, mong thời gian qua đi thật nhanh để có thể cùng nhau thư giãn. Chủ gánh xiếc quảng cáo rằng sẽ lấy giá vé buổi công chiếu thấp hơn một chút nhằm thu hút người đến xem.

Khi mọi túp lều lớn nhỏ đều đã dựng xong, vài thành viên đoàn biểu diễn bắt đầu chơi một vài trò vặt như múa rối tay và tung hứng trên xe một bánh để gây chú ý. Tuy nhiên, phải chờ cho tới lúc trời tối — khi bầu không khí được bao trùm bởi sự huyền bí, giúp bao mánh khóe lừa gạt đều bị che đậy khỏi những con mắt hiếu kỳ — những người nghệ sĩ mới có cơ hội phô bày hết tất cả tài năng họ có ra cho đêm diễn chính, trong ánh đèn đuốc rực sáng, trong tiếng nhạc Calliope lẫn tiếng người hò reo và tiếng động vật kêu.

* * *

Reginald ngồi vắt tréo chân, hai tay khoanh trước ngực nhìn lũ chó đội mũ chóp đi xe đạp vòng quanh lều. Anh ta cứ giữ nguyên tư thế gò bó ấy cùng gương mặt đăm chiêu, mặc cho người xung quanh mình hết lời hoan hô. Một chú hề nhận ra trong đám đông đang được giải trí lại lạc ra một Quý ngài cau có ở hàng ghế đầu. Chú trồng cây chuối đi tới, bóp chiếc kèn hơi, xịt nước vào gương mặt bí xị ấy. Cái miệng đỏ của chú ta ngoác ra cười, rồi chú lại xoay nhào trở về vị trí cũ.

– Anh ta muốn ngài vui vẻ đấy! – Olivia ôm bụng cười lớn.

– Phải rồi… – Reginald lấy khăn tay ra lau mặt.

Sau màn xiếc chó dạo đầu, lần lượt tới phần biểu diễn của sư tử nhảy qua vòng lử,; màn đi trên dây, màn phi dao quanh người kịch tính cực độ khiến khán giả không ít lần hoảng sợ tới co thắt lồng ngực. Ai nấy đều túm chặt lấy băng ghế mà thốt lên theo những mũi dao nhọn hoắt phóng vụt qua cổ, qua cánh tay cô gái; rồi lại thở phào nhẹ nhõm khi cô ấy không bị xây xước chút nào. Buổi diễn được đóng lại bằng vài trò ảo thuật ngắn ngủi cùng với phần ca hát, nhào lộn của các thành viên hai chân lẫn bốn chân trong đoàn. Người chủ rạp hô lớn báo hiệu kết thúc. Dứt lời, ông hất tung vạt áo lên, kéo theo một tràng tiếng pháo nổ ran, cùng bao cánh hoa giấy bay tứ tán khắp xiếc đài. Olivia mừng rỡ đứng lên vỗ tay cùng khán giả, cảnh tượng vừa rồi thật hoành tráng hết xảy.

– Cảm ơn ngài, Reginald. – Olivia nhìn anh, vẫn vỗ tay. – Điều gì đã khiến ngài thay đổi quyết định vậy?

Reginald nhún vai thay cho câu trả lời. Bản thân anh cũng chẳng rõ tại sao.

Olivia đi cùng Reginald ra khỏi túp lều chính, thích thú ngắm nhìn những con người diện đồ kẻ sọc và chấm bi mặt trang điểm trắng xóa, tô cặp má đỏ chót. Họ đội những chiếc mũ gắn đầy quả chuông to kêu inh ỏi, mang những bộ tóc giả khổng lồ chỉ nhìn thôi đã thấy nặng tới gãy cổ. Đôi mắt cô bé lướt theo mạng lưới dây cờ đủ màu sắc treo dọc ngang, bên dưới là những chú hề ném quả tung hứng.

Một chú hề lùn ngang ngửa Olivia lững thức bước tới, anh ta múa tay vài vòng rồi rút ra ba đóa hoa, tặng cho cô gái nhỏ tò mò.

– Cho tôi? – Olivia cầm lấy chỗ hoa giả ấy, mỉm cười rạng rỡ. – Cảm ơn nhé!

Reginald bị thu hút bởi âm thanh của kèn Saxophone, đàn Viola và những tiếng giậm chân chậm rãi. Anh đi về phía đám người da đen đang chơi Jazz, đung đưa đôi vai theo giai điệu của họ.

– Quý ông muốn làm một bài cùng cô gái trẻ xinh đẹp này chứ? – Người chơi trống nhìn về phía Reginald.

– Không, không… – Reginald lắc đầu, xua mạnh hai tay.

– Thôi nào, Reginald! – Olivia đẩy anh vào.

Reginald mượn một chiếc kèn Trumpet không ai chơi, anh lau qua phần ống trước khi cất lên một giai điệu tùy hứng. Người cầm Saxophone nhìn nhanh qua Reginald, chơi đoạn tiếp theo của bản nhạc ấy. Hiểu ra điều mà Saxophone muốn nói, Reginald hướng Trumpet về phía anh chàng, rồi cả hai cứ lần lượt tiếp nối nhau. Những người trong ban nhạc lẫn người yêu Jazz quanh đó vỗ tay tán thưởng màn song tấu ngắn ngủi giữa một bên là tiếng nhạc réo rắt, gợi cảm và nhịp nhàng của kèn gió; và bên còn lại thì chậm rãi, đường hoàng đúng chất kèn đồng. Reginald mỉm cười, gật đầu với anh chàng Saxophone; tất cả đều rất vui.

– Reginald, tôi không ngờ đấy. – Randolph đứng từ quầy bán đồ uống cũng được tận mắt (và cả tận tai) chiêm ngưỡng tài lẻ của Reginald, thích thú vô cùng. – Bia chứ?

Reginald vui vẻ nhận lấy cốc còn lại, làm một hớp.

– Cảm ơn. Cậu cũng tới đây?

– Thỉnh thoảng nên xả hơi chút, dù sao thì một bài báo về đám người này cũng giúp “đổi gió” cho mục tin tức của tôi. Đừng gọi tôi là thằng “phân biệt chủng tộc” nhé, nhưng tôi đoán kiểu gì cũng sẽ có một hai vụ chôm chỉa đồ sắp tới. – Randolph tỏ ra hài hước. – Bia Czechslovakia đấy, ngon tuyệt vời! Tôi mua chúng từ lều bên kia kìa.

Olivia vỗ tay lia lịa, vốn chưa từng thấy Reginald trổ tài vặt bao giờ, cô bé không thể ngờ được rằng người sống cùng mình bấy lâu nay lại chơi kèn hay đến thế.

– Sao ngài không nói với tôi là ngài biết chơi nhạc?

– Jazz đâu phải là thứ được chấp nhận dễ dàng. – Reginald cười gượng. – Hơn nữa, ta chỉ là hạng xoàng thôi…

– Không, ngài chơi hay lắm! – Olivia hồ hởi reo lên, rồi lại kéo áo Reginald. – Chúng ta đi tiếp chứ?

Olivia vô tình nhìn về phía Randolph mua bia trước đó, thấy có vài người đàn ông đang đứng vây quanh phía sau một chiếc xe kéo nhỏ. Cô bé chạy tới, háo hức tìm hiểu xem họ đang bị mê hoặc bởi điều gì.

Đám người ngồi quanh đống lửa trại vỗ tay không ngớt, hò hét theo ba vũ công Gypsy sở hữu làn da nâu rám nắng, đôi mắt to tròn và mái tóc đen bồng bềnh. Các cô mặc những bộ váy sặc sỡ nhiều tầng dài tới tận gót chân, nhảy giậm theo nhịp điệu của những tiếng vỗ tay và tambourine1. Ánh mắt của họ, động tác của họ, thật đầy lôi cuốn mà không kém phần dữ dội, đủ sức thâu tóm biết bao đôi mắt và trái tim hiếu kỳ.

1


Loại nhạc cụ được chơi bằng cách lắc hoặc vỗ vào tay.

– Họ múa đẹp quá, Reginald! – Olivia trầm trồ.

– Ừ. – Reginald cũng không thể rời cặp mắt của mình khỏi vòng eo những người con gái đang múa.

– Chúng ta vào chơi nhé? – Olivia chạy vụt đi.

– Đợi ta nào!

Reginald bước qua hàng dài những cỗ xe vardos2, nhìn nhóm đàn ông ca há bên các cô gái uốn mình dẻo đến phi thường, nhìn những người phụ nữ rao bán đủ loại trang sức cồng kềnh đậm chất Bohémian3. Thỉnh thoảng lại có một vài người nháy mắt tình tứ với Reginald, ngỏ ý muốn mời anh vào trong.

2


Loại xe được người Gypsy dùng làm phương tiện di chuyển, cũng là “nhà” của họ.

3


Theo thuật ngữ hiện đại, Bohémian dùng để chỉ những người đến từ Bohemia, thuộc Czech. Tránh nhầm lẫn người Bohemia với những người Gypsy đến từ Romania hay bất cứ đâu trên khắp châu Âu. Bohémian cũng là một phong cách thời trang và từng là một trào lưu nghệ thuật. Trong truyện, từ “Bohémian” được dùng để ám chỉ về phong cách và không mang bất cứ ý nghĩa sắc tộc hay tâm linh nào.

– Tôi muốn vào đây! – Olivia chỉ lên một chiếc vardos treo biển “Lều ngoại cảm”.

– Ta không vung tiền cho những thứ ngớ ngẩn đâu, Olivia.

– Reginald, đâu phải lúc nào cũng có dịp vui chơi như thế này. Tôi chỉ muốn biết người du mục xem bói như thế nào thôi. Chẳng phải ngài thỉnh thoảng cũng xem trăng sao còn gì!

– Ngươi vào trong đi, ta đợi ở ngoài.

– Đi mà! – Olivia kéo Reginald vào trong…

“Chào mừng đến với lều ngoại cảm của cô Nadzieja” – Giọng một người phụ nữ trẻ trung nói tiếng Anh trọ trẹ vang lên khắp túp lều treo đầy những đồng xu và đá nhỏ lấp lánh.

– Chào cô Nadzieja. – Olivia vẫn mải mê ngắm nhìn và thưởng thức mùi hương trầm bay thoang thoảng. Chủ nhân của chiếc lều thật biết cách tạo ra không khí huyền bí cho nơi này.

– Chào Olivia xinh xắn của ta. – Người phụ nữ quấn khăn che kín mặt từ từ hiện ra bên quả cầu pha lê lớn.

– Chúa ơi, cô ấy biết tên tôi! Cô ấy đúng là thầy bói! – Olivia reo lên trong kinh ngạc, níu vào tay áo Reginald.

– Ả chắc là đã nghe thấy ta nói tên ngươi từ bên ngoài thôi. Trò lừa đảo đó ngươi cũng tin à.

– À, một kẻ nghi ngờ. Ta thích thế! – Nadzieja nhìn Reginald. – Như vậy thì phép thuật của ta sẽ càng ấn tượng hơn khi hắn đã bị thuyết phục.

– Thôi đi cô em, phán nhanh lên. – Reginald thờ ơ.

– Ở đây có bói tình yêu, sự nghiệp và cuộc đời. Tình yêu là đắt nhất, cuộc đời là rẻ nhất. Chọn một đi. – Nadzieja cao giọng.

– Reginald, tôi nên chọn cái gì đây? – Olivia băn khoăn.

– Kiểu gì chả được.

– Vậy cô Nadzieja hãy bói cho em về cuộc đời em và Reginald đi. – Olivia ngồi vào chiếc gối.

– Bói riêng lẻ. Miễn phí cho cô bé này, tên da trắng kia gấp đôi.

“Như thế có khác gì.” – Reginald nghĩ.

Nadzieja lẩm nhẩm một câu hát dân gian nào đó mà Olivia không thể hiểu được. Cô ta đưa những ngón tay đeo đủ thứ vòng nhẫn của mình lên quả cầu pha lê, khẽ đung đưa người như thể linh hồn mình sắp nhập vào đó đến nơi.

– Olivia, em là một đứa con lạc lõng, một đóa hoa dại mọc lên từ cánh đồng hoang tàn — cô đơn và không nơi nương tựa. – Nadzieja nhìn vào quả cầu. – Em sinh ra là để phiêu lưu, cuộc đời em là những chuyến đi không dứt…

Olivia ngỡ ngàng, khóe miệng cô bé hơi mở.

– Em mong manh nhưng đầy quyết liệt, luôn mang đến niềm vui cho bất cứ ai ở bên. Tuy vậy, trái tim em luôn chìm đắm trong nỗi buồn. Em rất có duyên số với những quý ông. Họ đi đôi giày sáng bóng nhưng sở hữu tâm hồn chẳng hề đơn giản chút nào. Tôi nhìn thấy một bàn tay đeo… hai bàn tay… không rất nhiều bàn tay đeo nhẫn vàng… Thật đáng sợ!

– Đủ rồi đấy. – Reginald ngăn không cho Nadzieja tiếp tục nói.

– Phải rồi, anh chàng da trắng — người lãnh đạo thông thái, viên phán quan mạnh mẽ… – Nadzieja chìa tay về phía Reginald. – Và tất nhiên, kẻ sùng bái mặt trăng!

– Người lãnh đạo thông thái? – Olivia thắc mắc.

– Không, ả đang nói về cái tên của ta. Reginald nghĩa là vị quan mạnh mẽ và thông thái. – Reginald ngán ngẩm.

– Tay ngài! – Nadzieja nhắc, ngửa lòng bàn tay mình lên chờ đợi.

Reginald tháo găng phải ra, chìa tay cho cô thầy bói.

– Một người đàn ông sống rất lâu. – Nadzieja cầm lấy đôi tay gân guốc và lạnh ngắt đó. – Một người đàn ông không ngại gian khổ. Người đàn ông của gia đình nhưng luôn cố trốn tránh khỏi gia đình… Máu đã từ lâu nhuộm đỏ đôi tay cũng như những chiếc cổ áo này… Nhiều nỗi đau và giết chóc quá!

– …

– Reginald, tôi nhìn thấy sự mất mát và thù hận, rất nhiều sự thù hận trong mắt ngài. – Nadzieja hạ giọng xuống. – Cuộc đời quả thật đã không ưu ái ngài chút nào và nó sẽ còn tiếp tục đối xử với ngài như thế.

– Ai mà chẳng bị cuộc đời ngược đãi. – Reginald mỉa mai.

– Bị cuộc đời ngược đãi? Không! Tự ngài đã ngược đãi bản thân và đẩy mình vào chỗ suy vong. Thật là mệt mỏi và khổ đau khi luôn phải khép mình đằng sau chiếc bóng khổng lồ của “ông ta”, khi bị dằng xé giữa bản năng khát máu nguyên thủy và tính mạng của bản thân, của gia tộc, của những người mình yêu quý…

Olivia ngây thơ thật sự đã tin vào những lời của “tiên tri” Nadzieja. Cô bé cảm thấy Reginald thật đáng thương.

– Ngươi suýt nữa thì lừa được Olivia, nhưng ngươi không lừa được ta đâu. – Reginald rút tay ra và đứng dậy, không quên ném vài đồng tiền vào chiếc đĩa trên bàn. – Nếu đoán bậy về quá khứ là bói toán, ta kiếm còn được nhiều hơn ngươi. Thử nói về tương lai lần sau ngươi muốn bịp ai ấy. Đi thôi, Olivia.

– Đợi đã! – Nadzieja hoảng sợ trông theo dòng chất lỏng đỏ như máu loang dần ra từ bên trong quả cầu pha lê của mình. – Cả ngài và cô bé kia, hai người đã đánh mất tình yêu và niềm tin từ rất lâu rồi. Định mệnh, định mệnh và tội lỗi đã đưa hai người đến với nhau…

“Định mệnh? Tội lỗi?” – Reginald cảm thấy thật nhảm nhí.

– … rồi tội lỗi và định mệnh sẽ chia cắt hai người vô cùng phũ phàng. – Nadzieja nhìn hai người bằng ánh mắt đượm buồn vẻ cảm thông. – Đừng bao giờ đánh mất lòng tin… Đừng bao giờ ruồng bỏ nhau…

– Tạm biệt! – Reginald bỏ đi khỏi túp lều, hơi tiếc rẻ chỗ tiền lẻ.

Chờ cho anh chàng đa nghi đã bỏ đi xa, Nadzieja túm lấy tay Olivia.

– Nghe ta đây, cô bé đáng yêu, Reginald không phải như những gì em thấy đâu. Hắn là một con quỷ, một con quỷ không có trái tim và hắn sẽ còn mang theo những con quỷ khác, cùng chúng gieo rắc thêm nhiều nỗi đau và sự dày vò hơn nữa. Hãy tránh xa hắn ra khi còn có thể. Kẻo một ngày, người bị nhấn chìm trong máu đỏ sẽ là em đó!

Olivia sợ hãi rút tay lại. Cô bé chạy vụt đi, đuổi theo Reginald.

– Reginald, đợi tôi với! – Olivia nói to. – Đừng đi nhanh thế, tôi phải chạy này.

Reginald bỏ ra bãi đất trống chỉ toàn xe kéo, ngồi một mình. Bản thân anh không hề định đi tới đây. Kể từ khi đồng ý cho Olivia đi chơi, ruột gan Reginald lúc nào cũng cồn cào mách bảo rằng đưa con bé ra ngoài là một việc làm hết sức sai lầm. Nghe thấy bước chân của Olivia rón rén lại gần, Reginald nói nhỏ:

– Đi chỗ khác chơi đi nhóc, đêm vẫn còn dài lắm.

– Ngài không buồn đấy chứ? – Olivia ngồi xuống cạnh Reginald, lồng tay vào bên dưới cánh tay anh.

– Ta? Không. – Reginald lắc đầu. – Đấy là cách chúng lừa lọc kẻ nhẹ dạ đó nhóc. Chúng sẽ nói những thứ thật đen đủi để dọa dẫm, sau đó gạ ngươi mua vài lá bùa may mắn tránh nạn.

– Không, ý tôi là… – Olivia thở dài rồi im lặng, không biết phải nói sao nữa.

Cô bé ngước nhìn bầu trời đêm rải đầy những vì sao lấp lánh. Thỉnh thoảng lại có một cơn gió thổi mái tóc nâu bù xù bay lên.

– Ngài thấy thế nào? – Olivia vén mái tóc mình, để lộ ra con mắt bị lác.

– Ý ngươi là sao? – Reginald nhìn vào gương mặt nhỏ lấm chấm tàn nhang, không tỏ ra ngạc nhiên hay dè bỉu.

– Ngài không thấy tôi xấu xí à? Tôi luôn cố giấu con mắt bị tật này đi …

– Làm gì có ai hoàn hảo. – Reginald nói nhẹ nhàng. – Cái lưng ta chẳng hạn này.

– Ý ngài là tôi nên chấp nhận và yêu mến bản thân mình, vì ai cũng có những điểm mạnh và yếu riêng? Chúng ta chỉ là chính mình khi chúng ta biết chấp nhận và đừng cố tự biến mình thành như những người khác?

– Ta ngạc nhiên đấy nhóc. – Reginald bật cười, không ngờ Olivia ngô nghê thường ngày cũng có thể suy nghĩ được những điều như vậy. – À đâu, ý ta là, “Hả”! – Anh bắt chước vẻ mặt nghệt ra của Olivia mỗi khi con bé nghe điều gì dài dòng.

Olivia đấm vào vai Reginald, can tội dám trêu chọc mình.

– Reginald… Ngài nghĩ có một gia đình, dù tốt hay xấu, vẫn còn hơn là không có chứ? – Olivia run rẩy cất lời, không dám nhìn vào anh. – Tôi vẫn hay tự hỏi cảm giác mất đi người thân khi ta còn quá bé để biết được, so với việc phải sống cùng họ rồi chứng kiến họ lần lượt qua đời — như thế nào thì đau đớn hơn?

– Ta không biết…

– Tôi kể cho ngài một bí mật nhé? – Olivia cười buồn.

Reginald thở dài. Anh thích giấu nhẹm chuyện của mình hơn là kể lể chúng ra, và cũng hy vọng người khác sẽ làm vậy.

– Về một người đàn ông này. Ông ta không cứu tôi khỏi một bầy ma cà rồng khát máu, mà khỏi một nơi toàn lũ háu đói bẩn thỉu. Ông cho tôi ăn, cho tôi ở, chăm sóc tôi khi ốm. Lúc ấy tôi còn bé, cứ ai tốt với tôi thì tôi quý mến người đó thôi, tôi không suy nghĩ gì nhiều cả. Ông ta lúc đầu cũng ít khi trò chuyện với tôi lắm, chỉ hỏi han một số điều lặt vặt và dạy tôi ngôn ngữ của ông. Nhưng, ông ấy rất chiều tôi. Cái gì tôi muốn cũng được hết.

Reginald bật cười.

– Rồi chúng tôi thân nhau hơn, người ấy dần bộc lộ nhiều tình cảm cho tôi hơn. Tôi đã từng nghĩ mình muốn ở bên ông ta mãi…

Nói tới đó, Olivia chợt ngừng lại.

– Rồi sao? – Reginald lên tiếng, rồi lại tự hỏi tại sao mình làm vậy.

– Ngài gần giống ông ấy, và đó là điều khiến tôi sợ hãi.

– Ngươi nên sợ ta, nhất là khi ta cáu.

– Không! Không phải như thế đâu. – Olivia bối rối. – Ông ta đáng sợ lắm! Lúc đó tôi ngu lắm! Khi nhận ra ông ta không tốt đẹp như mình vẫn nghĩ, tôi chẳng biết làm gì ngoài chạy trốn. Tôi đi lang thang khắp nơi, bị người ta bắt, bị đánh, rồi, rồi nhiều thứ khác… nhưng tôi nhất quyết không bao giờ quay trở lại với ông ta. Rồi mọi chuyện cứ như lặp lại khi tôi gặp ngài.

– …

– Ngài rất tốt, Reginald. Tôi tin ngài. Hứa với tôi là ngài không bao giờ trở nên xấu xa nhé? – Olivia lấy tay quẹt nước mắt. – Ngày hôm nay tôi vui lắm. Ngài có nghĩ tôi là đứa trẻ hư hỏng đáng ghét, hay vòi vĩnh không?

Reginald quàng tay kéo Olivia lại gần. Anh ôm nhóc vào lòng, xoa lên đầu nó. Thật lạ lùng, Reginald đâu phải kiểu người thích động chạm như thế này.

– Gã đàn ông đó có phải là người Ý? – Reginald nghĩ ngợi.

– Sao ngài biết? – Olivia nhìn anh đầy kinh ngạc.

– Ta chỉ đoán mò thôi. Còn ai dạy ngươi nói tiếng Ý hay như vậy, cả cách làm sốt Pesto nữa.

– Reginald, ngài có hứa được không? – Olivia run rẩy.

Reginald định nói điều gì đó, rồi lại ngừng lại.

– Reginald? – Olivia hối thúc.

– Ngươi bắt đầu nghĩ linh tinh giống ta rồi đấy nhóc! Ta đã bảo là đêm hãy còn dài, cứ tận hưởng đi. Cầm lấy chỗ tiền lẻ này và chơi bất cứ trò nào ngươi muốn.

Olivia bám chặt lấy Reginald và khóc một chút, rồi cô bé đứng dậy, lấy tay quẹt gương mặt nhỏ thó ướt dính bê bết.

– Tôi vẫn muốn vào nhà gương. Ngài có đi không?

– Đi trước đi, ta theo sau ngay. – Reginald xua tay.

“Nhờ có cái miệng gian xảo của ngươi, Nadzieja, ta biết phải lấy máu của ai rồi…” – Reginald nghĩ.

* * *

Olivia chạy tung tăng tới Nhà gương. Cô bé đưa cho người trông coi vài xu rồi đi vào trong.

– Ngài biết không, tôi sợ mê cung nhưng không hiểu sao lại bị nó hấp dẫn vô cùng. Tôi sẽ bị vấp vào đâu đó mất! – Olivia thích thú đưa tay rờ những tấm kính trong suốt trước mặt. Chỗ kính ấy sao mà rối rắm, đi tới đâu cô bé cũng bị cộc đầu.

– …

– Reginald, ngài có thích nhà gương không?

Olivia lại đâm vào một tấm kính, mạnh tới mức vang lên tiếng “cộp”. Cô bé lùi lại vài bước trong choáng váng, ngã vào vạt áo khoác đen đằng sau. Hai bàn tay của người ấy đỡ lấy Olivia, che kín mắt cô bé.

– Vui tính ghê, đã không giúp tôi lại còn…

– …

– Ở đây chỉ có mỗi chúng ta thôi, ngài có bịt mắt thì tôi vẫn đoán là ngài mà!

– …

– Trò này không vui đâu! – Olivia rùng mình, giọng run run. – Bỏ tôi ra đi.

Sự im lặng của Reginald lúc này thật đáng sợ. Olivia sờ vào đôi bàn tay đang ở trên mặt mình: nó không có găng, vừa lạnh lại vừa mảnh dẻ – chứng tỏ đằng sau không phải là Reginald, càng không thể là Randolph vì tay anh ấy ấm áp và vuông vức hơn nhiều. Cô bé rụt rè rờ lên phía trên, chạm vào một chiếc nhẫn.

Bàn tay thả lỏng dần, Olivia nuốt khan, quay lại nhìn. Cô bé đã biết đó là tay của ai rồi.

* * *

Reginald gạt bớt chỗ máu trên miệng mình, đặt Nadzieja xuống đất. Bỗng, anh nghe thấy đằng sau lưng là tiếng gọi hớt hải của Olivia.

– Reginald, Reginald, chúng ta phải đi khỏi đây…

Olivia lùi lại trước bộ dạng ghê rợn của Reginald lúc này. Mặt anh ta, cổ áo anh ta, tay anh ta… khắp nơi đều dính đầy máu. Nadzieja thì nằm bất động dưới nền đất lênh láng máu loang ra từ vết cắn trên cổ.

– Có chuyện gì? – Reginald lạnh lùng hỏi.

– Chúng ta đi khỏi đây, mau lên! Tôi xin ngài đấy, chúng ta phải đi! – Olivia kéo áo Reginald. Con bé rít lên thứ giọng choe chóe và run rẩy, sắp sửa bật khóc.

– Được, được. Ta đưa ngươi về.

– Đây là cách em chào người đã chăm sóc và nuôi nấng mình sao, Colomba mia (Bồ câu nhỏ của ta)? Bỏ đi không một lời tạm biệt rồi lại tiếp tục trốn tránh ta?

Cả Reginald và Olivia đều kinh hãi trước điều họ nhìn thấy.

– Em làm ta tổn thương đấy. – Hắn đặt tay lên má cô bé, khẽ chạm vào lọn tóc hơi xoăn

– Reginald, người mà tôi kể cho ngài, ông ta…

– À đúng rồi, chào bạn cũ. Lâu ngày không gặp, cậu có nhớ tôi không, Reginald? – Hắn ngước lên nhìn Reginald, ánh mắt sắc lẹm và đầy khiêu khích.

– Reginald, ngài biết ông ta? – Olivia bắt đầu khóc sụt sùi.

– Renato. – Reginald ôm lấy Olivia.

– Cũng mất kha khá thời gian để ta tìm được Livie bé nhỏ của mình. Có vẻ như một mũi tên trúng hai đích rồi! – Renato mỉm cười. Từ khóe miệng vươn cong của hắn lộ ra bộ hàm nhọn hoắt.


"Phần 15. Renato Innamorato " bởi iamDage
– Chào mừng đến với lều ng… Ồ, lại là ngươi à!

Nghe thấy tiếng bước chân ai đó tiến vào vardos của mình, Nadzieja tưởng là khách mới, nhưng hóa ra đó chỉ là Reginald. Reginald khoanh hai tay trước ngực, mắt nhìn Nadzieja.

– Tại sao quay lại đây? Ngươi muốn gì?

– Ngươi là thầy bói mà, đoán thử đi.

– Lùi lại đồ quỷ hút máu! – Nadzieja giơ biểu tượng cây thánh giá lên trên cao, hướng về phía Reginald khi anh ta định tiến thêm bước nữa.

– Sợ thật. – Reginald mỉa mai.

Nhận ra không còn nơi nào để chạy, Nadzieja bắt đầu khóc lóc và xin xỏ:

– Xin ngài, làm ơn hãy tha mạng! Tôi là thầy bói, tôi không phải phù thủy hay kẻ chiêu hồn!

– Thầy bói cái con khỉ. – Reginald kéo Nadzieja đi ra ngoài.

* * *

Reginald gạt bớt chỗ máu trên miệng mình, đặt Nadzieja xuống đất. Bỗng, anh nghe thấy đằng sau lưng là tiếng gọi hớt hải của Olivia.

– Reginald, Reginald, chúng ta phải đi khỏi đây…

Olivia lùi lại khi trông thấy bộ dạng ghê rợn của Reginald lúc này. Mặt anh ta, cổ áo anh ta, tay anh ta… khắp nơi đều dính đầy máu. Nadzieja thì nằm bất động dưới nền đất lênh láng máu loang ra từ vết cắn trên cổ.

– Có chuyện gì? – Reginald lạnh lùng hỏi.

– Chúng ta đi khỏi đây, mau lên! Tôi xin ngài đấy, chúng ta phải đi! – Olivia kéo áo Reginald. Con bé rít lên thứ giọng choe chóe và run rẩy, sắp sửa bật khóc.

– Được, được. Ta đưa ngươi về.

– Đây là cách em chào người đã chăm sóc và nuôi nấng mình sao, Colomba mia (Bồ câu nhỏ của ta)? Bỏ đi không một lời tạm biệt rồi lại tiếp tục trốn tránh ta?

Cả Reginald và Olivia đều kinh hãi trước điều họ nhìn thấy.

– Em làm ta tổn thương đấy. – Hắn đặt tay lên má cô bé, khẽ chạm vào lọn tóc hơi xoăn của Olivia.

– Reginald, người mà tôi kể cho ngài… ông ta…

– À đúng rồi, chào bạn cũ. Lâu ngày không gặp, cậu có nhớ tôi không, Reginald? – Hắn ngước lên nhìn Reginald, ánh mắt sắc lẹm và đầy khiêu khích.

– Reginald, ngài biết ông ta? – Olivia bắt đầu khóc sụt sùi.

– Renato. – Reginald ôm lấy Olivia.

– Cũng mất kha khá thời gian để ta tìm được Livie bé nhỏ của mình. Có vẻ như một mũi tên trúng hai đích rồi! – Renato mỉm cười. Từ khóe miệng vươn cong của hắn lộ ra bộ hàm nhọn hoắt.

Reginald bặm môi lại, đôi bàn tay ướt đẫm mồ hôi siết chặt vào nhau, cố tỏ ra bình tĩnh hết mức có thể. Lúc này, anh ta biết mình cần phải bình tĩnh và cũng thật sự muốn được như vậy; nhưng cái nhìn thách thức mà Renato dành cho Reginald cùng những tiếng khóc của Olivia khiến tinh thần anh rối loạn.

– Renato, chúng ta hãy về lâu đài của tôi nói chuyện. Được chứ?

* * *

Renato ngồi đối diện với Olivia tại phòng khách của Reginald. Tay phải hắn không ngừng mân mê chiếc nhẫn vàng trong khi vẫn chăm chú hướng đôi mắt về phía cô bé. Olivia không ngừng run rẩy, nép mình sát bên Reginald. Reginald không rõ Renato đã làm gì, Olivia thường ngày đâu phản ứng tiêu cực đến vậy. Biết con bé cần sự an ủi nhất vào lúc này, Reginald nắm lấy bàn tay đang co giật tới mất kiểm soát, kéo nó lại bên cạnh mình.

– Phép lịch sự đâu hết rồi? Cậu không định mời tôi trà như người Anh vẫn thường làm hả? – Renato chìa tay về phía Reginald.

– Vào luôn chủ đề chính đi. – Reginald cảm thấy phiền hà. – Renato, mục đích cậu đến đây là gì?

– Tất nhiên là để đòi lại cái gì thuộc về tôi rồi. – Renato hướng mặt mình về phía cô bé. – Tôi đoán Olivia cũng đã cho cậu biết rằng con bé là trẻ mồ côi.

– …

– Nhưng điều nó không cho cậu biết, Reginald, đó là tôi đã nhận nuôi Olivia một cách hợp pháp từ trại trẻ L’Arbre Jaune. Đừng nghĩ con bé mồ côi thì nó không cần danh phận.

Vừa dứt lời, Renato rút ra một tờ giấy cũ kĩ được gấp làm tư từ trong túi áo. Hắn đặt nó lên bàn, đẩy về phía Reginald.

“Madeleine van Schoolderwalt(…) tháng Mười hai năm 1892 tại trại mồ côi L’Arbre Jaune(…) đã được nhận nuôi hợp pháp bởi ông Renato Innamorato vào ngày 23 tháng Chín năm 1900(…)” – Reginald nhìn vào nội dung bên trong, yết hầu anh run rẩy, hết trồi lên rồi lại trôi xuống. Reginald thật quá chủ quan và thiếu trách nhiệm với Olivia. Anh ta vốn là một ma cà rồng sống ẩn dật, mà đã sống ẩn dật thì không cần màng tới chuyện bên ngoài. Nhưng Olivia thì khác. Con bé là người, nó thuộc về thế giới con người và cần phải có lai lịch rõ ràng. Nếu những gì Renato nói là sự thật, việc giữ Olivia ở trong tòa lâu đài bấy lâu nay hóa ra lại sai trái hoàn toàn.

– Madeleine…? – Reginald nhìn Olivia, tròng mắt long lên vì bối rối.

– Đừng… – Con bé nói khẽ, bám chặt vào cánh tay Reginald.

– Reginald, đừng nấn ná vô ích nữa. Tôi không muốn cậu lại phải vướng vào rắc rối đâu.

– Renato, có cách nào khác để giải quyết chuyện này không? – Reginald thở dài, cảm thấy khó xử.

– Có. Cậu có thể chờ tới khi Livie trưởng thành, lúc đó tôi không còn nghĩa vụ gì nữa. – Renato cười lớn.

– Xin ngài. – Đôi mắt xanh lam của Olivia khẩn khoản nhìn Reginald.

– Mad… à—Olivia, ta…

Reginald nín thở, cảm thấy lồng ngực mình bị nén như lò xo. Anh và Renato đã từng có một thời gian là bạn của nhau, đủ để hiểu được tính cách và con người hắn. Renato hơi xấu tính, nhưng hắn không xấu xa. Điều gì đã khiến cho hắn trở nên kinh khủng trong mắt Olivia đến vậy?

– Olivia, hắn đã làm gì ngươi?

– Tôi xin ngài! – Olivia bắt đầu nghẹn ngào. Những ký ức về Renato ùa về trong trí óc bé nhỏ.

– Renato, tôi không thấy Olivia có vẻ gì là thích được ở bên cạnh cậu cả. Nếu cậu muốn mọi thứ dễ dàng, cứ nhượng quyền nuôi con bé cho tôi. Tôi hứa sẽ chăm sóc tốt cho nó. Nếu muốn, cậu có thể tới đây thăm nó hàng tháng, thậm chí hàng tuần.

– Thôi đi, tôi chẳng rỗi thời gian tới cái lâu đài bẩn mốc của cậu! – Renato nhún vai. – Không có tư thù cá nhân gì đâu, tôi chỉ lo cho Livie—à, thật ra thì có đấy. Tôi muốn được chiêm ngưỡng cái vẻ mặt khốn khổ của cậu khi chứng kiến điều mình quan tâm bị lấy đi mất bởi, cậu biết đấy, một người bạn.

– Olivia nó là đứa trẻ con. Đừng có lôi con bé vào chuyện giữa hai chúng ta.

Renato lấy tay che miệng, cố gắng kìm nén lại tiếng cười mà hắn cho là không được lịch sự lắm sẽ thoát ra. Điều Reginald nói thật mỉa mai.

– Phải rồi. Reginald — ông thánh của đạo đức và lòng trắc ẩn vô bờ bến — nói với tôi rằng Olivia là đứa trẻ con nên đừng có làm ảnh hưởng nó? Cậu muốn chứng tỏ với tôi và Livie rằng cậu xứng đáng có được con bé trong khi tất cả những gì cậu làm là nói dối, áp đặt và chiếm nó làm của riêng để thỏa mãn thói ích kỷ — y hệt ông bố mình?

Reginald hơi cúi mặt xuống. Điều Renato nói đâu phải sai hoàn toàn.

– Sao thế? Mèo tha mất lưỡi rồi à? – Renato cất giọng nhẹ nhàng đầy chế nhạo. – Vào tối hôm chàng trai của tôi cuối cùng cũng tìm thấy Bồ câu nhỏ và muốn đưa nó trở về, cậu đã giở trò anh hùng rồi mang con bé tới tận nơi khỉ ho cò gáy này. Allan và John-Michael buộc phải đuổi theo để hoàn thành mệnh lệnh của tôi, đó cũng là lúc cậu nhẫn tâm hại chết John-Michael. Tôi tự hỏi liệu Livie sẽ phản ứng ra sao khi nhìn thấy được ý đồ đằng sau việc cậu cố tình cướp con bé đi.

– Reginald? – Olivia cảm thấy khó hiểu. Reginald cứu mạng nó, đâu phải cướp nó đi như Renato nói. Chẳng lẽ có gì mờ ám đằng sau việc làm ấy? – Lúc đó ngài có biết Renato là người đứng sau không?

Reginald cảm thấy khó xử. Olivia còn nhỏ quá, anh không muốn làm nó hiểu lầm.

– … Olivia, lý do ta không muốn ngươi đi ra ngoài nhiều là vì ta không thể lúc nào cũng bảo vệ ngươi được. Một số loài ma cà rồng có khả năng đi lại và sinh hoạt như người bình thường ngay cả khi trời sáng, chúng rất nguy hiểm.

– Tôi biết! Tôi biết ngài lo cho tôi! – Olivia gật đầu lia lịa. Cô bé cứ giữ chặt lấy tay Reginald, không muốn bỏ ra một giây nào. Olivia sợ nếu bỏ ra rồi, Renato sẽ bắt mình phải xa Reginald mãi mãi.

– Ma cà rồng bẩm sinh không thể làm được điều đó và cũng không thể sinh sản. Chúng cần một loại máu đặc biệt… – Giọng Reginald chợt nghẹn lại. – Hôm đó, khi ngươi bị Michael đuổi theo và ta cứu ngươi, ngươi đã hỏi ta rằng liệu ta có làm điều tương tự với những người khác không. Câu trả lời của ta là không — vì ngươi là đứa trẻ đặc biệt đó, Olivia. Nếu ma cà rồng có được máu của ngươi, chúng sẽ không còn bị đe dọa bởi mặt trời, thậm chí còn có khả năng tạo ra thêm nhiều thế hệ ma cà rồng khác. Ta không thể để điều đó xảy ra.

Olivia sửng sốt. Cô bé chưa bao giờ biết máu mình lại có giá trị đến vậy.

– Tôi hiểu rồi… Nhưng ngài đâu có lỗi trong việc này?

Renato nóng ruột, đấm rung cả bàn. Đây không phải là điều hắn muốn Reginald tiết lộ cho Olivia.

– Phải, phải! Sao không mau chuyển sang phần tôi thích nhất, phần mà cậu nhận ra ngay con bé sở hữu dòng máu đặc biệt của nhà van Schoolderwalt?

Sửng sốt trước câu nói của Renato, Olivia vội vã chất vấn Reginald:

– Nhà van Schoolderwalt? Có liên quan gì đến gia đình tôi không?

Reginald khẽ gật.

– Lúc ấy ta đoán ngươi là người nhà van Schoolderwalt… Ta nhận ra đôi mắt xanh lam và mùi máu đó ở bất cứ đâu. Ta luôn cảm thấy dằn vặt. Để duy trì được dòng giống, gia đình ta đã giữ khá nhiều người mang họ van Schoolderwalt và rút cạn máu của họ. Ta rất xin lỗi.

– Chúa ơi!

Olivia rút tay ra khỏi Reginald, đôi mắt xanh lam giờ chuyển đỏ và ướt đẫm nước. Olivia là trẻ mồ côi, chỉ cần một chút manh mối về họ hàng hay người thân đối với nó còn quý giá hơn bất cứ thứ gì trên đời. Reginald biết việc làm của những kẻ đi trước mình là sai mà lại giữ im lặng, cư xử với con bé như thể chưa từng biết người mang họ van Schoolderwalt là ai. Mọi sự chăm sóc, những lần trò chuyện, những gì cả hai trải qua cùng nhau… có phải chúng đều là dối trá, nhằm giúp cho Reginald bớt cắn rứt lương tâm vì cố gắng che đậy tội ác gia đình anh ta đã gây ra? Olivia muốn chạy đi thật xa, nhưng đôi chân run rẩy gần như tê liệt hoàn toàn trong choáng váng. Nó đã tin tưởng Reginald, nào ngờ gã lại có thể giấu những bí mật khủng khiếp đến vậy.

– Chúa ơi! Chúa ơi! – Olivia gục xuống bàn, òa khóc nức nở. Lúc này, con bé chỉ muốn cầm lấy con dao đâm cả nghìn nhát vào Reginald. Nhưng nghĩ đến những gì anh đã làm cho mình trước đó, nó lại càng thấy đau khổ hơn.

Reginald quay sang hướng khác, không dám nhìn cảnh tượng Olivia khóc lóc vật vã.

– Olivia, chuyện đó đã xảy ra từ rất lâu rồi, có lẽ là từ thời cụ ngươi. Ta chưa từng nhìn thấy cha mẹ ngươi, ta không giết họ.

– Im đi! Tôi ghét ông! – Olivia hét lên. – Ông còn kinh khủng hơn cả Renato! Bao giờ thì ông định giết nốt tôi?

Renato lại gần Olivia, quỳ một bên gối. Hắn ôm cô bé vào lòng, nhẹ nhàng an ủi:

– Thôi nào, Livie. Để ta đưa em đi khỏi đây. Nơi này thật đáng ghê tởm! Reginald thật đáng ghê tởm! Nhanh lên trước khi trời sáng.

Reginald chưa bao giờ cảm thấy mình đê tiện và đáng khinh đến thế. Anh ta thật sự đã luôn cố che giấu Olivia khỏi sự thật mất tính người về gia đình mình; khỏi sự thật rằng bản thân luôn bị ám ảnh bởi đôi mắt xanh lam đầy ắp nỗi tuyệt vọng và hận thù của những người đã phải bỏ mạng dưới tay cụ, ông, hay cha anh. Reginald từng mong rằng mình sẽ là người chấm dứt hoàn toàn chuỗi ác mộng đẫm máu đó. Và giờ đôi mắt kia nhìn anh, không khác gì cách mà những người nạn nhân xấu số trước đó vẫn nhìn — mà có lẽ còn tồi tệ hơn, bởi Olivia đã đặt niềm tin và tình cảm của nó quá nhiều vào một nơi quá không xứng đáng.

– Ta không muốn làm tổn thương ngươi, Olivia. – Reginald nói khẽ.

– Có thật không, Reginald? – Renato lắc đầu.

– Olivia, ta xin lỗi. – Reginald nhìn theo Olivia bỏ đi cùng Renato.

“Thấm rồi chứ? Đó chính là cái vẻ mặt mà ta muốn nhìn thấy đấy!” – Renato mỉm cười nhẹ. – “Nhận lấy nó đi!”

– Lần sau nếu muốn không làm tổn thương ai đó, có lẽ đừng nên cố tạo ra cái vỏ bọc tốt đẹp để lừa gạt họ trước nhé, bạn mến!

Đó là lời cuối cùng của Renato trước khi hắn đóng sầm cánh cửa, dắt theo Olivia và mất hút dần trong màn đêm. Reginald không tiễn, cũng không đuổi theo. Anh đứng yên, câm lặng trong bất lực. Olivia ra đi mà không thèm nói một lời tạm biệt, hẳn con bé sẽ hận cái tên Reginald này tới tận xương tủy. Nhưng dù sao thì Renato cũng đủ khả năng chăm sóc và bảo vệ cho Olivia, có khi còn tốt hơn Reginald làm gấp nhiều lần. Reginald tự an ủi bản thân như vậy.

* * *

Randolph trở về ngôi nhà nhỏ với gương mặt đỏ bừng và mùi bia nồng nặc khắp người. Cậu ta lảo đảo ngồi vào bàn làm việc, sắp cái máy đánh chữ cũ kĩ, run rẩy châm điếu thuốc lá và lấy toàn bộ xấp bản thảo đã bị gạch xóa chỉnh sửa chi chít ra. Từng tiếng gõ lạch cạch vang lên. Randolph quyết định sẽ làm việc thâu đêm, không phải vì cậu ta bị trễ hẹn hay sắp tới hạn chót nộp bài, mà vì cậu cảm thấy màn đêm tạo ra không khí dễ chịu hơn, giúp cậu tĩnh tâm và có nhiều cảm xúc dạt dào hơn.

Có tiếng khóc thét lên của ai đó, Randolph giật mình. Lúc ấy anh chàng nhà báo vẫn đang say sưa và bận viết, không muốn bị phân tán và tụt cảm xúc chút nào. Dù sao thì chuyện gào hét và khóc lóc lúc nửa đêm cũng đâu phải điều gì lạ lẫm ở Forest Hill.

“Đến chán!” – Randolph thở mạnh, tiếp tục đánh máy.

* * *

Jules ngồi dậy, bước ra khỏi giường khi trời đã rất khuya. Cô cầm tay nắm cửa phòng, vặn liên hồi. Nó đã bị Joseph khóa. Lần theo mép tường, Jules đụng phải chiếc bình hoa loa kèn trắng trên bàn. Tiếng đổ vỡ làm cô giật mình tỉnh giấc. Jules mở mắt, nhận ra suýt nữa thì mình đã bị chảy máu khi cố tìm cách lẻn ra ngoài.

– Bố! Bố! – Jules vội vã mở tung cửa sổ.

Đáp lại tiếng gọi của Jules là sự im lặng, cảnh sát trưởng đã rời đi từ lâu. Vì không còn ai ở nhà, nhằm đảm bảo con mình không thể trốn đi đâu trong cơn mộng du, khóa phòng là biện pháp duy nhất dù Joseph biết con mình rất sợ không gian kín.

* * *

Cảnh sát trưởng đứng tựa vào một góc tường, xoa xoa hai bàn tay buốt cóng vì sương giá. Khi tỉnh dậy, ông thấy cổ hơi ngứa, có lẽ là do rệp hay muỗi cắn. Gió lạnh thổi ào ào, ông ho không dứt. Vẫn đang trong chuyến tuần đêm quanh thị trấn, Joseph phải duy trì sự tỉnh táo thay vì gà gật ở xó xỉnh bẩn thỉu nào đó. Điều duy nhất ông còn nhớ được là đang đứng trước cửa nhà chung1 của thị trấn, vo đống giấy kẹo chanh bỏ vào túi áo và bước vào trong.

1

Nguyên văn: Meeting house. Đây là một ngôi nhà chung để những người dân trong một thị trấn có thể tới họp, bàn bạc những vấn đề của cộng đồng. Trong truyện, tác giả đã có hơi biến thể và hư cấu hóa công dụng của nó so với thực tế.

Tòa nhà chung là một ngôi nhà lớn xây bằng loại gỗ thông lấy từ chính khu rừng trên đồi. Toàn bộ đều được bao phủ bởi một màu sơn trắng, cách quảng trường không xa. Tầng một được sử dụng làm khu vực họp mặt, đặt hai dãy ghế hai bên tường. Hướng lên chính giữa phía trước là bục phát biểu khá cao, có cánh gà rèm nhung phía sau.

Joseph đi lên tầng hai – nơi dành cho nhân viên lau dọn và trang trí, cũng là nơi đặt văn phòng làm việc của người quản lý Forest Hill – ngài thị trưởng.

Đứng trước cửa phòng, cảnh sát trưởng nín thở, gõ vài tiếng.

“Mời vào.” – Đáp lại là tiếng của một người đàn ông già.

Joseph ngồi đối diện với ngài thị trưởng tại chiếc bàn tiếp khách. Những âm thanh ồn ã của đám hội ngoài kia đã được ngăn cách khỏi căn phòng nhờ tấm kính cửa sổ khép chặt.

– Chào Joe. Ngoài kia có vẻ rất vui. – Thị trưởng lên tiếng.

– Vâng. – Joseph gật đầu, cảm thấy không thoải mái cho lắm khi nhìn vào đôi mắt xám của ngài thị trưởng. Chúng như lóe sáng lên trong căn phòng, đem tới một cảm giác lành lạnh.

– Tại sao cậu cũng không thả lỏng một chút? – Thị trưởng lặng lẽ rót trà. – Cậu có ngửi thấy mùi gì kỳ quặc không?

Joseph hơi cúi đầu, kéo cổ áo mình lên để kiểm tra. Ngài thị trưởng là một người rất khó tính, ông ta ưa sạch sẽ và căm ghét mùi thuốc lá. Hành động vừa rồi của Joseph thật ra chỉ mang tính hình thức. Nhờ khói thuốc, đã từ lâu cảnh sát trưởng không còn cảm nhận được gì ở mình qua khứu giác.

– Rất xin lỗi thưa ngài, tôi không kiềm chế được nên đã hút vài điếu. – Joseph khẽ ho.

– Làm một chút trà đi, giải độc rất tốt đấy. – Ngài thị trưởng khẽ cười. – Sức khỏe của cậu dạo này tồi quá. Mà tôi thấy cậu đã sử dụng đồ uống cồn khi làm việc.

– Là lỗi của tôi. – Joseph trầm ngâm, biết thị trưởng cũng có mặt khi ông mua vài cốc bia. Cứ hễ Joseph đi tới đâu thì ngay lập tức ông ta xuất hiện ở đó, thoắt ẩn thoắt hiện. – Ờm, ngài muốn tôi tới đây để trao đổi về vấn đề gì? Tệ nạn? Giáo dục? An ninh?

– Joe, cậu lại nghiêm túc quá rồi! – Ngài thị trưởng cười lớn. Đôi vai ông rung lên, khuôn mặt già nua với những nếp nhăn ở khóe miệng rộng bị che lấp bởi bộ ria xám cũng hằn lên nhau, theo tiếng cười giòn giã. – Lúc nào cũng chỉ nhắc đến việc.

– Tôi lo cho lũ trẻ ở đây. Bạo hành, lạm dụng rượu, nghiện ngập, trẻ lao động… thật sự ảnh hưởng xấu đến chúng. Đặc biệt là mại dâm, tôi còn chẳng rõ nó len lỏi vào thị trấn này từ khi nào nhưng giờ nó bùng nổ công khai quá.

– Giáo dục là cách tốt nhất để tạo ra những thế hệ trẻ có ích. Tôi muốn mục tiêu hướng tới là tất cả những thiếu niên ở Forest Hill đều được đến trường thay vì cứ ở nhà làm việc hoặc bôn ba kiếm sống ngoài kia dù chúng chẳng phải trả học phí. Khi đó chúng sẽ tự ý thức được rằng nên hạn chế uống rượu, và—cả việc đó nữa. Cậu đâu thể cấm chúng mãi được. Chẳng phải chúng ta cũng coi nó chỉ là một hành động thuộc về thể xác, hoặc nhằm duy trì nòi giống thôi mà. – Thị trưởng ngồi vắt tréo chân, khẽ tựa vào ghế. – Nhân tiện, các cậu đã tìm ra thêm được manh mối nào chưa?

– Cái này hơi khó nói, thưa ngài. – Joseph cầm chừng. – Tôi không nghĩ nhiều người sẽ tin, điều gì khiến ngài tin được?

– Tôi hiểu ý cậu, con trai. – Thị trưởng gật đầu. Ông rời khỏi ghế của mình, bước về phía cửa sổ. – Cậu có nhớ những câu chuyện mà mọi người hay kể cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác không?

– Nhiều quá, tôi không rõ là chuyện gì.

– Truyện kể lúc đi ngủ, truyện để dọa trẻ con, truyện về tay lãnh chúa khát máu và tàn bạo của vùng này: Bá tước Dracula. – Ngài thị trưởng nói chậm rãi.

– … Ra là chuyện đó. – Joseph không ngạc nhiên cho lắm. – Ngài có vẻ biết nhiều về lịch sử ở đây, cách ngài kể lại cũng ấn tượng và rất sống động — như thể ngài từng chứng kiến mọi thứ diễn ra lúc đó vậy. Ngài định bảo tôi là “Bá tước” chịu trách nhiệm cho việc này?

– Gần như thế. Không giấu gì cậu, gia đình tôi từng năm đời làm người giúp việc cho nhà Dracula và tôi có thể xác nhận hầu hết những gì các cậu được nghe đều là đúng đấy. – Thị trưởng nói nhỏ. – Mà hình như cậu sống ở gần tòa lâu đài đúng không? Cậu có cảm nhận được điều gì bất thường về những người đang sinh hoạt ở đó không?

– … Ngài biết Reginald và Olivia? – Joseph thốt lên, không rõ thị trưởng đã gặp hai người hàng xóm mới của mình từ khi nào.

– Chỉ Olivia thôi, một cô bé dễ thương! Reginald có vẻ—dè dặt. Mà hình như từ ngày anh ta tới, nơi này cũng hỗn loạn hơn thì phải. – Ông ta trầm ngâm. – Không phải là tôi có ý nghi ngờ hàng xóm của cậu đâu, nhưng…

– Tất nhiên rồi, ngài thị trưởng. – Joseph cười gượng gạo.

Người đàn ông già nhẹ nhàng đưa bàn tay gầy khô như cành cây lùa lên mái tóc xám sắp ngả hết thành màu bạc. Thị trưởng bước vài bước ngắn quanh bàn làm việc, dừng lại chếch phía sau cảnh sát trưởng.

– Joe, tôi đâu còn trẻ nữa. Tôi nghĩ cậu biết để chuẩn bị cho một vụ mùa mới, ta cần phải loại bỏ mọi thứ gốc rễ mục nát và sâu bệnh của đợt thu hoạch trước để gieo những mầm non thay thế.

– Vâng… – Joseph đáp bâng quơ, thấy thị trưởng thay đổi chủ đề hơi nhanh.

– Cậu rất tận tâm, khiêm tốn, trung thành và biết nghĩ cho người khác — đó là điều tốt. Nhưng chính vì thế mà cậu tỏ ra tuân phục, cậu tỏ ra nghe lời và chịu sự sai bảo giỏi hơn là sai bảo được người khác. Cậu không thể trở thành một người lãnh đạo, mãi mãi chỉ là một chú chó ngoan ngoãn. – Thị trưởng cúi về phía Joseph, vẫn là đôi mắt xám long lanh nhìn thấu cả tâm can người khác. – Tôi cần một người có đủ bản lĩnh để thay mình tiếp quản mọi việc.

– Ước mơ cả đời của tôi là trở thành một người cảnh sát, – Joseph chợt thấy hồi hộp – đồng thời làm tròn trách nhiệm của một người chồng và người cha.

– Tôi quý cậu, Joe. Tôi luôn coi cậu như người con trai chưa bao giờ có của mình vậy. Một đứa con trai biết phục tùng vô điều kiện.

Ngài thị trưởng tiến về phía Joseph, chạm vào mặt ông cảnh sát. Bàn tay vuông vắn của ông lùa lên mái tóc Joseph, khẽ xoa lấy như người ta vuốt ve một chú chó con. Cảnh sát trưởng vẫn ngồi yên.

– Phải rồi, ngoan lắm! – Ông già ngồi xuống bên cạnh Joseph, mỉm cười với cái miệng rộng ngoác và hàm răng nhọn. – Cậu không thể làm một con đực đầu đàn, nhưng cậu vẫn là chú cún cưng tôi yêu quý nhất…

Joseph rùng mình bởi đầu tàn thuốc lá rơi xuống bàn tay. Ông hất nó đi, khẽ lau nước mắt. Xung quanh cảnh sát trưởng nồng nặc mùi khai, không rõ là mùi nước tiểu của mèo hay của người nhưng nó làm mắt Joseph cay.

“Có lẽ mình không đủ năng lực cho những thứ như thế này nữa…” – Joseph đứng dậy. – “Dạo này mày làm sao vậy, Joe? Sắp đến lúc nghỉ hưu rồi à?”

Lúc này là ba giờ sáng, dưới ánh đèn đường tù mù, chỉ còn một vài người ngồi ngủ gật phía vỉa hè. Cảnh sát trưởng cúi đầu, cố bước thật nhanh.

* * *

Ánh sáng của một ngày mới chiếu qua khung cửa, đánh thức anh chàng nhà báo chuyên làm việc về khuya vẫn còn đang ngủ mơ. Randolph nhấc mình khỏi mặt bàn đầy giấy tờ và bút vương vãi, cúi xuống nhặt chiếc gạt tàn úp ngược dưới đất. Cậu cầm lấy chai rượu ngô làm một hớp, xem lại bản đánh chữ lần cuối cùng.

* * *

“Có lẽ trời cũng sáng rồi”. – Reginald ngước nhìn tia nắng lọt qua tấm rèm, chậm rãi đứng dậy.

Sau sự việc đêm hôm qua, anh ta đã ngồi im lặng hàng giờ liền trên chiếc ghế dài nơi phòng khách. Tâm trí của anh không suy nghĩ về bất cứ điều gì cố định, chẳng có một trạng thái cảm xúc hay tinh thần nào đến và đi một cách quá sâu sắc. Không hẳn là Reginald buồn hay tiếc nuối, nhớ nhung điều gì — chỉ cảm thấy mọi hành động lúc đó là thừa thãi, và điều nên làm duy nhất là ngồi yên, nghĩ đi nghĩ lại những điều đã xảy ra rồi tự quở trách mình. Cho tới thời điểm này, hầu hết mọi mối quan hệ của Reginald với những người khác đều kết thúc trong sự tổn thương, phản bội và thù hận. Anh không phủ nhận những gì Renato nói, nhưng hắn sai một điều: Reginald chưa bao giờ mảy may âm mưu gì với Olivia. Hành động cứu mạng, chấp nhận nuôi và dạy nó, Reginald làm vậy vì anh muốn vậy.

– …

Chú chó Labrador của Olivia từ trên cầu thang chạy xuống, sà vào Reginald. Nó hướng đôi mắt nâu tội nghiệp nhìn anh, ve vẩy cái đuôi và không ngừng hít hít bàn tay của ông chủ.

– Chủ mày không còn ở đây đâu. – Reginald bế Reg vào lòng.

Reg rên rỉ. Nó đưa hai chân trước cào lên vai Reginald.

– Thôi được rồi, để tao kiếm gì đó cho mày ăn. – Reginald đem nó theo vào trong nhà bếp.

Reginald có thể hiểu được lý do tại sao Renato lại muốn Olivia đến thế. Mang con bé đi chỉ là cái cớ. Điều hắn thật sự muốn là khiến Reginald phải trả giá cho những gì anh đã làm với hắn, với nhà Innamorato. Chuyện xảy ra chẳng đẹp đẽ gì, Renato đã vô cùng quý mến và thân thiết với Reginald nên mới căm hận đến vậy. Reginald định cho Reg ăn và đi giải quyết, sau đó, anh sẽ làm một giấc tới chiều. Đâu phải ngày nào lâu đài này cũng được một dịp yên tĩnh đến lạ lùng, khi mà kẻ gây ồn ào và phiền toái nhất đã bỏ đi.

* * *

Không có Olivia, mọi thứ vẫn diễn ra như thường lệ. Seth vẫn đi bán báo, người lớn vẫn đi làm, Randolph vẫn tới tòa soạn, ông già thị trưởng râu xám vẫn lặng lẽ quan sát mọi thứ từ văn phòng nhỏ của mình. Hầu như ai cũng mang một vẻ mặt đượm buồn, họ tiếc nuối vì đã trải qua một đêm vui chơi tuyệt vời mà có lẽ sẽ nhớ mãi. Không còn những ông hàng xóm khoác vai nhau và cụng ly bia, cùng ngắm nhìn những cô vũ công xinh đẹp; không còn những chú hề nhảy múa cùng lũ động vật mặc váy xòe biết làm nhiều trò hay; không còn bóng bay; không còn tiếng pháo, lửa trại… họ trở về với công việc lặp đi lặp lại sự nặng nhọc và tẻ nhạt hàng ngày.

Đoàn biểu diễn lưu động vẫn còn ở lại đó cho tới cuối tháng, nhưng những trò vui chỉ thật sự thú vị khi mọi người được cùng nhau tận hưởng nó lần đầu. Ai cũng muốn tiệc tùng diễn ra ngày này qua ngày khác, nhưng người ta cũng chẳng có tiền để chơi mãi mà không cần làm.

* * *

“Này cô gái xinh đẹp đội mũ đen ơi, cô có muốn ăn táo không?” – Tiếng một người bán hoa quả gọi theo cô gái đội chiếc mũ rộng vành che hết cả nửa gương mặt. Cô ấy cầm cặp đựng tài liệu, lướt nhanh qua gian hàng, không thèm ngoái lại nhìn. Ông chủ quầy cảm thấy người đâu mà thô lỗ ghê gớm! Nếu không mua thì cũng nên từ chối một tiếng thay vì cứ thế mà bỏ đi chứ.

– Cô gái đó bị điếc đấy, đừng hiểu lầm cô ta mà tội nghiệp. – Một người nói với ông bán táo.

– À, ra vậy.

Khắp những con đường lớn nhỏ ở Forest Hill tấp nập người đi lại, kẻ mua bán.

– Của cậu đây. – Ông chủ cửa hàng bánh mỳ đưa chiếc túi nghi ngút khói cho Randolph.

– Cảm ơn. – Randolph đặt vài đồng tiền lẻ lên và rời đi.

Một anh chàng vô tình lao vào Randolph, suýt nữa làm cậu đánh rơi chiếc cặp đựng giấy.

– Tôi xin lỗi! – Anh chàng vội vã đứng dậy cùng Randolph.

– Không sao. – Randolph cười.

Nhìn bóng Randolph hòa vào dòng người ở quảng trường, anh chàng kia đứng lặng, tự hỏi hình như mình đã gặp Randolph ở đâu đó chưa.

* * *

Thị trưởng đang ngồi theo dõi sổ cân bằng ngân sách thu chi cho nhà thờ, bệnh viện và trường học ở Forest Hill, cô gái cầm tập tài liệu gõ cửa vài tiếng rồi bước vào trong, tiến tới bàn ông. Ông buông bút, ngước ra ô cửa sổ hướng về phía quảng trường.

– Cứ mỗi lần ngắm nhìn những đứa trẻ hàng ngày đến trường là tôi lại cảm thấy thêm hạnh phúc một chút. Chúng thật may mắn vì được hưởng một nền giáo dục hiện đại hơn và phổ biến hơn.

– …

– Cảm ơn Gina, cô trợ lý yêu dấu của tôi. – Ông ta mỉm cười, nhẹ nhàng rút tập tài liệu và không quên lợi dụng việc đó để cầm lấy bàn tay trắng thanh mảnh của cô.

– … – Gina không rút tay lại, cũng không nói gì. Cô để mặc cho thị trưởng làm bất cứ điều gì ông ta muốn.

– Cô nói đúng, tôi nên tiếp tục với công việc dang dở thay vì xao nhãng. – Thị trưởng chậm rãi. Ông ta thả lỏng bàn tay gân guốc của mình ra khỏi Gina và cầm bút máy lên. – Cô có thể giúp tôi sắp xếp lại văn phòng một chút chứ? Nếu cô không muốn cũng không sao nhưng dạo này có nhiều giấy tờ được mang đến đây quá, nơi này chẳng mấy chốc lại trở thành cái chuồng lợn mất thôi. Và sau đó chúng ta sẽ cùng bàn bạc về việc chi tiêu cho dịp giáng sinh này, cũng đâu còn lâu nữa.

Tuy ngài thị trưởng tuổi tác đã cao nhưng khả năng quan sát kỹ càng của ông ta vẫn còn đó. Gina – người trợ lý đã gắn bó với ông vài năm – có lẽ cũng sẽ học hỏi và kế thừa được rất nhiều kinh nghiệm từ người đi trước của mình. Tuy nhiên, như mọi ứng cử viên sáng giá khác mà thị trưởng từng theo dõi suốt chặng đường dài, Gina không đáp ứng được điều kiện đủ. Ông già râu xám tự tin rằng cho tới thời điểm hiện tại, không ai điều hành được thị trấn này tốt hơn mình. Nếu như có một phép màu nào đó xảy ra và giúp ông ta trẻ, khỏe lại, thì thật tuyệt vời. Tuổi tác, sức khỏe với kinh nghiệm và tri thức — đáng buồn thay chúng luôn quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau.

* * *

Reginald nhẹ nhàng đặt chiếc đĩa than lên mâm xoay của máy phát. Phần đầu kim chạm vào từng rãnh nhỏ trên bề mặt, kéo chiếc đĩa chuyển động nhanh dần theo vòng tròn, phát ra những âm thanh chậm rãi man mác buồn của một bản Jazz. Cả ngày hôm nay anh đã nằm ở trên giường, nhắm chặt hai mắt và cố gắng ngủ một giấc thật dài — có thể kéo dài mãi cũng được — nhưng không tài nào ngủ yên.

Reginald cuối cùng cũng đã quen với tiếng Olivia gọi réo tên anh ầm lên, chạy quanh phòng khách đùa nghịch cùng Reg rồi va quệt, rồi làm rơi làm vỡ đồ; đã quen việc nhóc chất vấn anh những câu hỏi ngớ ngẩn trong lúc ngồi bên anh, lồng cánh tay nhỏ của nó dưới cánh tay anh và ngả mái tóc rối lên đầu gối anh. Thật lạ lùng và khó hiểu — Reginald vẫn ghét sự ồn ào và động chạm thân mật quá đà của con bé, nhưng đồng thời cảm thấy có gì đó thiếu vắng ở quanh đây. Tại sao lại tỏ ra bực bội khi Olivia có mặt, và khi nhận ra con bé đã bỏ đi thì lại muốn nó trở về?

– Có ai ở nhà không? – Randolph gõ cửa, gọi lớn vào trong. Cậu nghe thấy tiếng máy quay đĩa đang phát ra nhạc.

– Vào đi. – Reginald không buồn nhìn ra ngoài. Anh không biết phải làm gì ngoài việc lau đi lau lại cái chân nến bằng đồng thau (vốn đã quá sáng bóng) đang ngự trên thành lò sưởi.

Randolph nhìn xung quanh, vẻ mặt bối rối. Trực giác mách bảo với cậu rằng giữa Reginald và Olivia có gì đó không ổn, nên cậu quyết định ghé thăm.

– Olivia…

– Con bé đi rồi, ý tôi là đi hẳn luôn… – Reginald nói nhanh. Anh đã mong ai đó thắc mắc với mình điều này, để anh có thể đem kể điều đó ra và hy vọng được an ủi phần nào.

– Hai người có vẻ thân nhau mà. Chuyện gì xảy ra vậy? – Randolph chau mày, cho rằng việc Olivia bỏ đi đột ngột quả thật vô lí.

– Người nhận nuôi hợp pháp của Olivia đã tới và yêu cầu tôi trả lại con bé trước khi vướng phải kiện tụng hay rắc rối nào trong tương lai gần. – Reginald trả lời bằng thứ giọng phũ phàng và thờ ơ cố hữu của mình.

– Hẳn là ngài buồn lắm. – Randolph ngại ngùng nói. Vẻ ngoài vô cảm đến kì lạ của gã ma cà rồng khiến cậu thấy khó xử. – Tôi rất tiếc.

– Đừng như vậy, tôi còn thấy nhẹ nhõm hơn vì giờ cái đồ phiền nhiễu đó đã biến mất khỏi cuộc đời tôi.

– … Ít nhất cũng nên để Olivia tạm biệt tôi đã. Tôi sẽ nhớ con bé nhí nhảnh đấy lắm.

Randolph nhìn vào đôi mắt của Reginald, thật khó để đoán xem người đàn ông này có buồn hay không nếu anh ta đã được tạo hóa “ưu ái” tặng cho một gương mặt toát lên sự nghiêm nghị với cái miệng chẳng bao giờ cười tươi cùng hai khóe mắt dốc xuống như thể chán nản với tất cả mọi thứ trên đời. Không khí xung quanh Reginald trở nên dễ thở hơn một phần nhờ vào sự lạc quan và vô tư của Olivia, giờ thì không còn nữa.

* * *

Earlene ngồi tựa vào bức vách, nhẹ nhàng xoay chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay mình, nâng niu nó trong tay mà ngắm nhìn. Cô đội chiếc mũ vành loe sáng màu, đủ để che gương mặt thanh tú khỏi tiếp xúc với ánh mặt trời từ cửa sổ. Nắng sớm chiếu qua lưng Earlene, làm ánh lên dòng suối tóc vàng bồng bềnh.

Earlene nghe thấy tiếng động đậy trên giường, vội vã vơ lấy lọ thuốc mê tẩm vào khăn, ghì lên miệng Olivia.

– Renato khốn kiếp! Sao lại bắt tôi phải trông trẻ cho anh? – Earlene nói lầm rầm, thở phào khi Olivia lại tiếp tục chìm vào giấc ngủ. – Tôi muốn anh ấy còn anh lại lợi dụng tôi để giữ con oắt đần độn này. Cứ chờ đến lúc anh thức dậy xem…
– – – – – – HẾT PHẦN 15 – – – – – – –


"Phần 16. Round and round" bởi iamDage
Olivia vùng dậy khỏi giường, thấy xung quanh chỉ toàn là bóng tối. Một tay ôm lấy bụng, tay còn lại vén tóc ra phía sau tai, đứa trẻ để ý có bóng người đang ngồi bên giường — chắc là Reginald. Tạ ơn Chúa, thì ra mọi chuyện chỉ là một giấc mơ. Olivia không thể tin được rằng Renato lại gây nên nỗi ám ảnh khủng khiếp cho mình đến thế.

– Tôi vừa gặp ác mộng. Kinh khủng lắm! Nhưng may quá, ngài ở đây! – Olivia tì lên đầu gối anh ta và khóc.

Bàn tay lạnh lẽo chạm lên mái tóc rối, nhẹ nhàng xoa đầu con bé. Hơi lạnh từ chiếc nhẫn lướt qua gò má ướt đẫm của Olivia, nó rùng mình.

– Ta đây, đừng sợ. Cơn ác mộng nào rồi cũng qua đi, phải không Livie?

Olivia vội vã bò lùi lại. Điều duy nhất nó muốn làm lúc này là tránh xa Renato, càng xa càng tốt.

– CỨU TÔI VỚI! – Olivia hét toáng. Ánh mắt đầy ắp sự kinh hãi. – CỨU TÔI…

– Yên lặng! Lúc nào cũng hét ầm lên! – Renato lấy tay bịt chặt miệng Olivia. – Tại sao em cứ làm khó ta?

– … – Olivia khóc, kèm theo những tiếng làu bàu gì đó hắn không hiểu được.

– Nói đi!

Cảm thấy gần như không còn chút kiên nhẫn nào với một đứa trẻ cứ hễ thấy mình là la hét và khóc lóc, Renato nhìn vào mắt Olivia. Cái nhìn chòng chọc và hau háu ấy của hắn như rút hết sạch sức phản kháng ra khỏi con bé.

– …

Rồi Renato thả tay. Ôm Olivia vào lòng, hắn bỗng đổi giọng nhẹ nhàng hơn:

– Livie, ta rất xin lỗi. Ta lại làm em sợ? – Renato lùa tay vào mái tóc đứa trẻ, nuốt nước bọt. Cảm giác khuôn mặt của Olivia áp vào ngực hắn và cả cơ thể nhỏ nhắn run lên luôn làm hắn rạo rực. – Đừng khóc nữa.

– Tại sao lại đưa tôi tới đây? Tôi đâu muốn đi theo ông. – Olivia nấc lên. – Ông đã làm gì đầu tôi?

– Em nói gì thế, Bồ câu nhỏ? – Renato nhếch môi cười.

– Tôi muốn về!

– Về? Ý em là về đâu? Về cô nhi viện ở Paris? Về Venice? Về cái nhà chứa bẩn thỉu đó? Hay là về với Reginald “thật thà thánh thiện” của em? – Renato siết chặt tay lại hơn.

Olivia cố gắng cựa quậy hòng thoát khỏi Renato. Lần nào cũng vậy, tay hắn quá khỏe.

– Ta vẫn nhớ khi còn nhỏ em luôn thích được ngồi trong lòng ta…

Olivia cắn nghiến vào tay Renato, vùng chạy về phía cửa, giật lấy tay nắm, cố giật nó ra. Đáp lại kỳ vọng của của đứa trẻ, cánh cửa vẫn không nhúc nhích. Olivia rút con dao giấu trong tay trái mình cạy vào ổ khóa nhưng không tài nào phá được. Renato vẫn ngồi yên bên chiếc giường. Chứng kiến cảnh Olivia cố gắng xoay xở trong vô ích, hắn thấy phấn khích vô cùng.

– Cửa đã khóa. Em nghĩ ta không tính trước điều này? – Renato cởi áo khoác ra. – Áo ta ướt hết rồi. Nếu muốn bỏ đi đến thế, em ở lại chịu khó tìm một chút đã. Chìa khóa ở trong người ta này….

– … Xin ông đấy! – Olivia quỳ xuống. Con bé gục đầu vào cửa, khóc nức nở trong tuyệt vọng.

– Em cắn còn đau hơn cả ma cà rồng vậy. – Renato rút chiếc dao găm khỏi tay Olivia, ném nó vào góc tường. – Ta đâu muốn hại em, Livie.

* * *

– Chúa ạ! – Brook cởi chiếc áo khoác đồng phục của mình ra bọc lấy đứa trẻ đang nằm dưới đất. Nếu chậm thêm một phút nữa, không rõ tính mạng của nó sẽ ra sao.

Người cảnh sát trẻ đang trong ca tuần tối ngang qua nghĩa trang Forest Hill, bắt gặp một bóng người lướt rất nhanh qua những tấm bia đá. Trên tay hắn ôm một cái bọc gì vẻ rất đáng ngờ. Cậu nhanh chóng tắt đèn pin, bám theo sau và nhận ra đó là một cô gái trẻ chạy về phía hầm mộ.

Brook nhìn về phía cô gái bí ẩn đang loay hoay trước tấm cửa đá, không thích cái cảm giác rùng rợn ở đây một chút nào.

Nghe thấy tiếng động, ả vội vã chạy đi, đánh rơi thứ mình vẫn giữ khư khư bên cạnh. Brook chạy tới, mở tấm khăn ra. Trước sự bất ngờ của cậu, đó là một đứa trẻ khoảng năm tuổi, vẫn còn hồng hào và khỏe mạnh nhưng đã bất tỉnh.

“Thế này là sao?” – Brook gồng hết sức kéo cánh cửa lên. Mặt cậu đỏ gay và ướt đầm mồ hôi. Cậu ta bế đứa bé trong tay, rọi đèn pin xuống từng bậc thang. Cô gái vừa nãy nhỏ bằng hai phần ba cậu mà cái cửa này ả đẩy nó lệch hẳn ra chỉ bằng một cánh tay, còn Brook thì không khác gì vừa đánh vật xong.

Chàng cảnh sát viên thận trọng đi từng bước vào trong. Không khí ở dưới căn hầm ẩm thấp lâu ngày bốc lên mùi tanh tưởi, ngột ngạt vô cùng. Ở đâu cũng đầy rêu mốc, mạng nhện. Bầy gián, tắc kè thì thi nhau bò loạn xạ. Càng vào sâu bên trong, cậu càng cảm thấy khó thở hơn. Brook run rẩy, trước mắt cậu là những chiếc quan tài xếp liền kề thành ba hàng ngang dọc đối xứng nhau.

“Ở đây là nghĩa trang, tất nhiên họ phải đặt quan tài chứ!” – Brook tự trấn an. Cậu chiếu đèn pin vào chỗ quan tài rồi chiếu khắp tứ phía, nhận ra phía bên kia hầm là đường cụt. – “Nhưng ả vừa nãy vào đây với một đứa trẻ còn sống để làm gì?”

Thấy một cỗ quan tài có vài vết trầy ở phần mép, Brook liếm môi, xắn hai tay áo lên cao. Cậu vốn không phải là người mê tín, nhưng có vài điều vẫn phải dè chừng, như là xâm phạm vào nơi ở của người đã mất chẳng hạn. Dù sao cậu cũng đã đuổi theo tới tận đây, và những vết cào này vẫn còn khá mới. Brook quyết định đánh liều và hành động theo trực giác. Cậu cần phải cạy chúng lên, cậu muốn biết bên trong đống hòm này là gì. Thế là Brook đặt đứa bé cùng đèn pin xuống đất, tay hơi run.

Gió từ trên cao liên tục bị hút xuống căn hầm, Brook rét run người nhưng hai bàn tay cậu thì đẫm mồ hôi vì căng thẳng. Kết quả có là gì đi nữa cũng chẳng tốt đẹp chút nào. Tất cả các nắp đều đã bị đóng chặt, cần phải có dụng cụ mới cạy được chúng ra. Chàng cảnh sát cố hít thở sâu, quệt đôi bàn tay vào áo rồi lau mồ hôi trên trán. Vừa tì vào một chiếc hòm, Brook chợt cảm thấy có sự hiện diện của kẻ thứ ba từ phía sau. Chưa kịp quay đầu lại, một vật gì đó cứng và sắc giáng vào gáy cậu. Anh chàng ngã xuống đất, bất tỉnh.

* * *

Reginald ngồi lặng lẽ bên quầy rượu, đôi mắt khép nửa của anh hững hờ nhìn về phía cô gái có mái tóc vàng óng đang ngồi hát bên chiếc đàn dương cầm. Ngày hôm nay thật tệ hại, họ toàn chọn những bản nhạc không có kèn Trumpet để chơi, khiến Reginald chẳng làm được gì và cảm thấy mình như một kẻ vô dụng thừa thãi.

(…)
Bill Bailey told his lady friend “Our dream of love is past”
He said “No more”, just slammed the door.

Hai bàn tay hơi chai sần vì việc nội trợ của cô gái lướt nhịp nhàng trên từng phím đàn đen trắng, mái tóc vàng nhẹ đưa theo dòng chuyển động của bờ vai thon thả. Đôi môi cô cất lên những lời ca thánh thót khiến bao trái tim của những gã đàn ông xung quanh rụng rời. Cô ấy đã tạo ra một phiên bản hoàn toàn khác cho Ain’t dat a shame1, vốn yêu cầu chất giọng baritone2 nam, bằng một giọng nữ cao người da trắng.

1 Ain’t dat shame: một bản Coon của nhà soạn nhạc Walter Wilson và John Queen.
Coon: một thể loại nhạc đại diện cho khuôn mẫu về hình tượng của người da đen. Khá phổ biến ở Mỹ và những nước nói tiếng Anh trên khắp thế giới từ 1880-1920.

2 Một trong những hình thức phân loại chất giọng hát cổ điển. Baritone có nghĩa là trầm (deep, heavy sounding), khá phổ biến ở nam giới.
Phân loại giọng (theo thứ tự giảm dần về cao độ): Nữ gồm Soprano, Mezzo-soprano và Contralto. Nam gồm Counterteno, Tenor, Baritone, Bass.

Carousel: tên gọi theo tiếng Anh-Mỹ cho trò Merry-go-round, gồm một bục cao hình tròn với những chỗ ngồi ở trên được làm bằng gỗ đẽo theo hình ngựa hoặc những con vật khác.
He wandered round the town, but he didn’t have a cent.
He thought about his pork chops and back to the house he went.
Oh listen to his mournful cry.

Rồi cô chợt ấn mạnh những ngón tay xuống, tạo ra phần hợp âm làm mọi người giật mình khỏi cơn say sưa. Giọng hát của cô ngân dài ra, cô nhìn về phía Reginald bằng ánh mắt phảng phất sự trách móc.

Ain’t dat a shame, a measly shame.
To keep your honey, out in the rain.
Will you open that door and let me in?
I stand here freezin, wet to my skin.

Trong lúc hát, cô đặt bàn tay phải lên ngực, để lộ ngón áp út đeo chiếc nhẫn vàng. Reginald chợt mỉm cười buồn, vội cúi mặt xuống bàn nhìn vào ngón áp út bên tay trái của mình. Cứ như thể họ đã bàn bạc trước với nhau âm mưu chọn ra hàng loạt bài hát để dày vò gã chơi kèn này. Cô gái ngồi bên đàn dương cầm càng hát, Reginald càng cảm thấy người cô ta muốn nhắm tới chính là anh.

Đã từng tại một ngõ hẻm chật hẹp nào đó, có gã Reginald mệt mỏi đang lang thang vật vờ thì bắt gặp một giọng hát trong trẻo tựa thiên thần.

He cried “Oh mama, I know that I’ve done wrong”
I’ll prove it see, please whisper to me (…)

Reginald tự thấy mình là một gã đàn ông hời hợt và vô tình. Gã không quyến rũ, không biết nói lời ngọt ngào, cũng chẳng giàu có, nhưng cuối cùng vẫn có người con gái nguyện cầm tay gã và chia sẻ mọi nỗi đau và niềm hạnh phúc tới khi cái chết chia lìa hai người, vì cô ấy yêu gã thật lòng.

Nhưng vấn đề là: Reginald không thể chết, và gã càng không thể đem lại hạnh phúc cho cô.

You find some other hay pile, you don’t roost here anymore.
And passers by could hear Bill cry.

Reginald nhấp một ngụm, gã đã uống Absinthe quá nhiều và quá lâu, vị đắng và mùi hương của nó không phải thứ gì gây khó chịu cho cổ họng. Đó là chưa kể những tín đồ của nàng tiên ấy luôn cảm thấy như được “khai sáng” và giải thoát, nhờ vào cảm giác nhẹ nhõm lâng lâng.

Ain’t dat a shame, a measly shame.
To keep your honey, out in the rain.
Will you open that door and let me in?
I stand here freezin, wet to my skin.

Bài hát kết thúc, cô gái kia đứng dậy cúi chào và cảm ơn trong tiếng vỗ tay, Reginald thì vẫn mải mê đắm chìm. Những gì của quá khứ cứ ngày ngày chồng chất lên nhau, đè nát hy vọng vào tương lai và khiến gã chẳng buồn quan tâm tới hiện tại; càng cố quên thì lại càng nghĩ tới.

“Chết tiệt! Ta có muốn Renato mang ngươi đi không?”

Nhận ra ban nhạc bắt đầu chuyển sang chơi bài mới, Reginald vừa định cầm Trumpet lên thì cô tóc vàng tới bên cạnh.

– Khỏi cần! High Society (tên một bản Jazz) đâu có kèn Trumpet. – Earlene ra hiệu ngăn Reginald lại. – Chào Reginald.

– Miếng cơm của tôi cả đấy. – Reginald nhấc li lên rồi tiếp tục uống. – Chào Earlene.

– Cái thứ bám nhèo nhẽo đằng sau đi rồi, anh đâu còn trách nhiệm nuôi nó mà phải đi làm cái nghề này kiếm tiền… Nó thật chẳng phù hợp với người như anh. – Earlene nhận lấy ly nước anh đào từ người phục vụ, nhấp một chút. Ả giơ bàn tay phải lên, hướng chiếc nhẫn về phía anh ta. – Hẳn là anh nghĩ tôi không còn giữ thứ này nữa.

Reginald không tỏ ra hứng thú lắm với Earlene. Anh ta liếc nhìn cái nhẫn rồi lại quay đi.

– Vừa nãy thế nào? – Earlene vén một bên tóc của mình qua tai.

– Mọi người thích cô hát đấy thôi. – Reginald thờ ơ đáp.

– Anh đâu có. Anh mải nghĩ về cái khác.

– Khá chắc là không phải nghĩ về cô.

Earlene cười nhạt.

– Vậy là giữa chúng ta chẳng còn gì nữa à? Chán thật!

Reginald cảm thấy cuộc nói chuyện gượng ép đầy nhạt nhẽo này rồi sẽ chẳng tới đâu cả.

– Tại sao? Nói xem tôi đã sai ở đâu? Tôi sẽ tha thứ cho anh nhưng tôi muốn một lời giải thích thỏa đáng. – Earlene lấy tay gạt đi một giọt nước nhỏ nơi khóe mắt. Cô muốn được vô cảm như Reginald. Anh ta chẳng mảy may động lòng chút nào khi nhìn thấy cô, thậm chí vẫn thản nhiên nói ra lời cay đắng đến thế.

– … Tôi không thể, Earlene. – Reginald ngoảnh mặt, không thích nhìn cảnh phụ nữ rơi lệ một chút nào. – Cô xứng đáng có được người đàn ông của đời mình, người sẽ làm cha cho con cô. Người đó không phải là tôi thôi.

– Anh định sống độc thân cả đời và khước từ mọi người phụ nữ chỉ vì không sinh được con? Vậy cha anh đã làm gì để có anh, đồ ngu? – Earlene gắt lên.

Earlene ôm lấy Reginald, òa khóc. Đây không phải là điều cô ta muốn, cũng chẳng phải điều cô ta nghĩ mình sẽ làm, nhưng cô không thể kìm lại được. Reginald lúc nào cũng cộc lốc, không cộc lốc thì im lìm, khiến Earlene buồn và bực bội. Nhưng tại sao cô vẫn nghĩ tới Reginald, nghĩ tới những cảm xúc tồi tệ anh ta đem đến cho cô? Earlene mới là đồ ngu khi cứ cắm đầu vào một kẻ như vậy.

– Nếu cô có một đứa trẻ như Olivia, cô có đồng ý để gã ma cà rồng nào đó cướp nó đi từ tay cô? Nếu cô đã chứng kiến cảnh họ hàng nhóc bị giết, cô có muốn giết nó nốt không, đặc biệt là khi Olivia chẳng làm gì sai và cũng chẳng làm gì cô?

– … Reginald, tôi biết anh luôn là người nhún nhường. Nhưng — chỉ một lần trong đời thôi — anh không thể cứng rắn lên và dành lấy cái gì xứng đáng thuộc về mình được sao? Tôi chỉ cần nghe được lời ấy từ anh thôi, anh có bao giờ yêu tôi, thật sự yêu tôi?

– Tôi, đã từng yêu cô, Earlene. Nhưng tôi là thằng đàn ông khốn nạn. Nếu cô muốn ai đó nói “Anh yêu em” suốt cả ngày với cô, thì cô cũng nên chấp nhận việc cô sẽ không phải là người duy nhất được rót mật vào tai. Những gì không phải là của tôi, làm sao tôi giữ được. – Reginald thản nhiên đứng dậy. – Vì vậy, để cho tôi yên.

– Đàn ông các người đúng là giống nhau! – Earlene tát lệch mặt Reginald, đùng đùng bỏ đi.

Reginald không có ý định giải thích cho Earlene hay giữ cô ta lại như đã muốn làm với Olivia. Gã thấy mình không nợ gì người phụ nữ đó, chỉ là sự hiểu lầm mà càng giải thích thì mọi thứ càng tồi tệ thêm. Có lẽ vì thế mà mọi người cứ liên tục hiểu lầm gã? Vì nếu họ không hiểu thì họ đâu thể đồng cảm. Olivia cũng vậy. Reginald chưa bao giờ nói gì quá nhiều cho ai vì gã sợ họ bị tổn thương, và trên tất cả chính là vì sợ tự làm tổn thương bản thân mình. Thật là vô lí khi mọi người cứ dùng những lời nói dối vô hại kèm mục đích nghe chừng thì thật cao cả để bao biện cho việc làm của bản thân, nhưng lại yêu cầu người khác phải luôn thành thật với mình.

* * *

Olivia ngồi tựa vào tường, khoác tấm chăn mỏng trên người, hướng đôi mắt trống rỗng về phía góc phòng, cắn nghiến lên đầu ngón tay. Những giọt nước mắt của con bé đã khô từ lâu, vết máu rỉ ra trên móng tay cũng vậy. Renato đã rời đi được một lúc, nhưng hắn ta có thể quay lại bất cứ khi nào.

Con bé giật mình khi nghe thấy tiếng đập cửa, rồi tiếng chửi rủa lầm rầm của người phụ nữ nào đó. Earlene bước vào phòng, đúng lúc Olivia quay lại nhìn.

“Chị ấy đẹp quá.” – Đó là điều đầu tiên hiện ra trong suy nghĩ của Olivia khi nhìn thấy Earlene. Cô bé bị choáng ngợp trước đôi mắt xanh đầy căng thẳng và mái tóc vàng nhạt mượt mà, trước người con gái có một làn da trắng muốt không tì vết và thân hình như tạc tượng — trái ngược hoàn toàn với đứa bé này.

– Nhìn cái gì hả! – Earlene cảm thấy bị xúc phạm cảm nhận thẩm mỹ cá nhân nặng nề. Trước mặt ả không phải là một đứa trẻ, mà là sinh vật gì đó có cấu tạo giống như con người nhưng tệ hại hơn cả con người. Mặt nó dính đầy nước mũi nhầy nhụa, hai con mắt sưng húp lên và bị tật lác một bên. Nhất là mái tóc nâu bù xù xõa ra, cứng và rối tung, lại còn bết dính lại. Olivia thật là một đứa con gái mang sự tổng hợp của tất cả những điều phi lý, bởi nó xấu xí khủng khiếp. Vậy chỉ càng khiến Earlene khổ tâm thêm khi một người xinh đẹp như cô lại không thể giữ được Reginald như con bé lọ lem này.

– Renato bảo ta trông chừng ngươi khi hắn không có ở đây. – Earlene ngồi lên ghế, lấy một điếu thuốc đầu lọc ra hút, không thèm đoái hoài gì đến Olivia. – Hắn nói ngươi rất quỷ quyệt và thế nào cũng sẽ tìm ra cách trốn đi như mọi khi. Ta thấy ngươi chẳng đến mức đó, tốt nhất đừng có nói chuyện với ta.

– Chị là—vợ của Renato? – Olivia nhìn thấy chiếc nhẫn trên tay người con gái đẹp, chợt nghĩ về câu chuyện cổ tích của Pháp và muốn đùa cợt một chút. – Người đẹp và quái vật.

– Đừng làm ta cười! Renato không phải chồng ta… Mà im mồm đi!

– Em chỉ muốn có người nói chuyện cùng thôi. Thật may mắn vì có chị! – Giọng Olivia hơi run rẩy. – Em thấy nhức lắm, và bẩn thỉu…

Earlene lúc này chỉ muốn đánh Olivia một trận đòn thật đau cho con bé thôi hẳn cái trò nói năng thiếu suy nghĩ. Nhưng rồi ả chợt mỉm cười. Ả muốn chơi đùa với đứa trẻ này một lúc.

– Nhóc thật sự muốn biết là ai không? – Earlene tỏ ra say mê với chiếc nhẫn.

– Tại em thấy chị đeo nhẫn và Renato cũng đeo nhẫn nên… – Olivia lấy tay lau mũi. – Chị có thể cho em biết chồng chị là ai không?

– Reginald. Anh ấy là chồng ta.

Olivia gãi đầu. Con bé hơi bất ngờ vì từ trước tới nay, Reginald chưa hề đeo chiếc nhẫn nào và anh ta cũng chẳng nói với ai rằng mình là người đã lập gia đình. Dù sao thì Reginald đâu phải người hay kể lể chuyện riêng ra cho người khác.

– Sao? – Earlene thích thú khi nhìn thấy Olivia không nói nên lời.

– Em chỉ ngạc nhiên thôi, tại Reginald không nói gì về chị cả. – Olivia thủ thỉ, rồi nhắc nguyên xi lại lời của anh chàng Randolph. – Reginald là người hơi gia trưởng và thiếu mềm dẻo, có thể sẽ làm chị buồn.

Earlene im lặng hoàn toàn, không ngờ rằng Olivia lại suy nghĩ như vậy.
Con bé nói đúng, ả thừa nhận. Reginald là một người đàn ông chu đáo và cầu toàn, nhưng luôn tỏ ra lạnh nhạt và cáu bẳn khi mọi thứ không thuận theo ý anh ta. Dù đã thử mọi cách, Earlene vẫn chẳng thể cứu vớt được cuộc hôn nhân ngắn ngủi của mình. Chỉ thỉnh thoảng Earlene mới cảm nhận được tình cảm ngọt ngào và thân mật của chồng, dù hiếm hoi lắm anh ta mới thể hiện ra. Reginald có cái nét gì đó u ám và kín đáo theo kiểu đàn ông truyền thống, khiến anh trở nên lôi cuốn. Có phải là vẻ lôi cuốn của sự trưởng thành, vững chãi và pha chút bí ẩn, dễ làm siêu lòng những cô gái mới lớn?

– Reginald, anh ấy, đó không phải là người mà tôi biết… – Ả nói nhỏ.

– Ngài ấy có bao giờ mắng chị vì tội bừa bãi không? – Olivia hỏi nhỏ.

– Có.

– Thế thì đúng là Reginald rồi. – Olivia bật cười.

Earlene hút tiếp điếu thuốc lá. Ả chống tay lên cằm, hơi ngả người ra phía sau nhìn Olivia. Dù sao thì nói chuyện với con bé ấy cũng đỡ tẻ nhạt hơn là cứ im lặng nhìn nhau trong cái phòng này như hai kẻ tâm thần.

– Vừa khóc à?

– Một ít. – Olivia giơ hai ngón tay trỏ và cái sát vào nhau.

– Tại sao? – Earlene vẫn cười, vẻ giễu cợt.

– Em không biết. – Olivia tì cằm lên đầu gối, cố gắng quên đi những gì Renato đã làm với mình. Giọng con bé nghe ngập ngừng và đau đớn. – Em cũng không thích khóc nhưng…

Earlene đã cười, cho tới khi ả nhìn thấy rõ năm ngón tay lớn vẫn còn in hình chiếc nhẫn của Renato hằn trên cổ và má Olivia. Một cảm giác bức bối nhói lên trong ngực cô, có lẽ là sự đồng cảm giữa nữ giới với nhau, khiến nụ cười khinh miệt ấy lụi dần. Cô tới chỗ Olivia ngồi, ôm lấy con bé và vuốt nhẹ mái tóc nâu bị vẩy đầy tinh dịch. Tại sao Renato lại tàn bạo đến mức đi tìm kiếm sự thỏa mãn trên một đứa nhỏ?

– Không sao đâu, chị ở đây. – Earlene lau nước mắt cho Olivia. – Chúng ta hãy cùng chơi trò gì đó và quên hết mọi thứ của cuộc đời đàn bà khốn khổ này đi, được chứ?

* * *

Randolph lấy tay che miệng lại, vươn vai và uể oải ngáp. Con người không giống như ma cà rồng, họ không hoạt động về đêm. Nếu cứ làm trái với tự nhiên, thì ủ rũ chỉ là một trong những dấu hiệu có thể thấy rõ trước tiên và dễ bị bỏ qua nhất, trước khi những biểu hiện suy nhược nặng hơn ùa tới. Thư viện vốn là một nơi yên ắng, riêng thư viện Forest Hill lại càng vắng vẻ hơn. Ngoài mấy đứa trẻ ham học như Seth ra, chẳng mấy ai lai vãng nơi này ngoài số người thuộc tầng lớp trí thức ít ỏi như Randolph, luật sư của thị trấn hay bác sĩ Connor.

– Buổi sáng tốt lành, Huffington.

– Buổi sáng tốt lành… – Randolph nhìn về phía người đàn ông đang mỉm cười với mình, cậu rõ ràng đã gặp anh ta ở đâu đó rồi thì phải.

– Bác sĩ Connor, từ bệnh viện tâm thần Forest Hill. – Harrold lại gần và bắt tay Randolph. – Nhà báo mà trí nhớ tệ quá.

– Tôi viết bán thời gian thôi mà, không hẳn là chuyên nghiệp. – Randolph lấy tay che phần tiêu đề của cuốn sách mà cậu đang cầm.

– Thế hả, vậy nghề tay phải của cậu là gì? – Connor liếc mắt, cố nhìn cuốn sách mà Randolph giấu. Anh vẫn có thể đoán được nó thuộc về lĩnh vực gì, nhờ vào vị trí sắp xếp các chồng sách: Một cuốn tiểu thuyết lãng mạn của Pháp. Randolph che đi hẳn vì cậu ta không muốn ai biết một nhà báo như mình lại đọc truyện tình cảm.

– Tôi thích cái đẹp… – Randolph nở nụ cười để bù lấp cho câu nói chẳng đầu chẳng cuối của mình. Cậu dang hai cánh tay ra, khẽ nhún vai và tiếp tục với quyển sách đang dang dở.

– Cuộc đời vốn khắc nghiệt, với người nghệ sĩ nó lại càng đối xử tàn nhẫn hơn. Nhưng dù sao thì tôi vẫn trân trọng những ai đề cao đời sống tinh thần. Đầu óc minh mẫn cũng quan trọng như cơ thể khỏe mạnh, đúng chứ? – Harrold gật đầu. Anh coi việc đọc sách truyện tưởng tượng như một loại hình thư giãn là điều rất bình thường. – Không làm phiền cậu nữa đâu, tôi cũng phải đi tìm một cuốn sách cho mình đây. Tạm biệt.

– Tạm biệt. – Randolph vẫy tay.

Randolph tiến về phía bàn đọc, giật mình khi nhận ra Reginald đứng ở phía bên kia giá sách.

– Ngài đứng ở đó bao lâu rồi?

– Cũng được một lúc. – Reginald thản nhiên đáp, không buồn ngước lên nhìn.

– … Được rồi. – Randolph thấy hoàn cảnh lúc này thật không thoải mái. – Tôi đoán là ngài cũng nghe thấy hết cuộc đối thoại rồi nhưng chẳng bận tâm đến đâu, phải không.

– Chính xác. – Reginald lật sang một trang mới.

– Ngài hài hước thật. – Randolph lấy tay gạt cho chồng sách trên bàn xô nghiêng xuống. Tất cả đều là sách liên quan tới luật về giám hộ và trẻ vị thành niên cơ nhỡ.

Reginald tỏ vẻ khó chịu khi đống sách đang được đặt ngay ngắn lại bị làm nghiêng đi. Anh xếp chúng lại như cũ, nhìn Randolph.

– Tôi không hiểu. – Randolph đảo mắt. – Ngài đang nghi ngờ tôi? Tôi đã nghĩ rằng chúng ta có thể trở thành bạn của nhau.

Reginald lắc đầu. Từ trước tới nay anh vẫn nghi ngờ Randolph, nhưng sẽ không bao giờ để cậu ta biết.

– Tôi vẫn sẽ giúp cậu nếu cậu cần.

Randolph mỉm cười và bắt đầu lật qua những trang sách, xem một cách chăm chú, Reginald cũng không nói gì thêm. Cùng là những kẻ thích được ở một mình, cả hai đều không thấy thoải mái với sự có mặt của người đối diện vào lúc này. Thỉnh thoảng, Reginald lại lén ngước nhìn Randolph và ngược lại.

– … Dạo này ngài có vẻ ra ngoài nhiều hơn. – Randolph đột ngột lên tiếng khi hai người bắt gặp ánh mắt nhau. Thật là bối rối nếu cứ nhìn mà chẳng làm gì.

– Tôi thấy cũng bình thường. – Reginald chống tay lên cằm.

– Ngài đang buồn phải không? – Randolph không hẳn muốn nói ra điều cậu ta nghĩ, nhưng cậu cảm thấy mình cần làm vậy. – Tôi hiểu cảm giác trải qua nhiều đau khổ và mất mát như thế nào. Tôi hiểu tại sao ngài lại cố chối bỏ sự thật là ngài nhớ Olivia.

Reginald cười. Lúc này anh lại nghĩ về Olivia, nhưng không rõ mình đang ở trong trạng thái cảm xúc gì.

– Cậu nghĩ tôi buồn vì chuyện gì?

– Tôi không biết, bản thân ngài có lẽ sẽ hiểu rõ hơn người khác. Tôi chỉ nhận ra được dấu hiệu khi ai đó đang bế tắc và chán nản. – Randolph trả lời thành thật, mong muốn Reginald mở lời hơn. – Thật khó để tin tưởng vào người khác khi chúng ta đã trải qua những chuyện tồi tệ.

– Mỗi người có vấn đề riêng của mình. – Reginald lạnh lùng đáp. Có vẻ cậu Randolph này lại thích lên lớp người khác.

– Bố tôi, mẹ tôi, những đứa em của tôi bị người ta thiêu sống dù họ chẳng làm gì sai. – Randolph hơi chững lại, giọng cậu ta lạc đi. – Tôi tới London và tự lập từ năm mười tuổi. Cũng giống như ngài, tôi thấy thế giới con người là một nơi đáng ghê tởm và chỉ muốn tránh xa nó ra; cũng giống như Olivia, tôi hoàn toàn bơ vơ, lạc lõng. Tôi hiểu lý do ngài luôn cảm thấy khó có thể chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ của mình cho người khác. Tôi hiểu lý do tại sao Olivia thường xuyên quá mức nhạy cảm và dễ bị kích động.

– Cậu cho rằng chúng ta giống nhau?

– Tôi cho rằng chúng ta có thể hiểu nhau. Tôi tin một ngày nào đó, chúng ta sẽ là bạn tốt của nhau và tôi mặc Kilt (trang phục truyền thống của dân tộc Celt), vừa nhảy múa vừa chơi kèn túi trước mặt ngài cũng được.

Reginald thở dài:

– Tôi sẽ cố. Tôi nghĩ chúng ta nên mượn sách về và nói chuyện với nhau ở một nơi riêng tư hơn. Nơi này không được… bảo mật cho lắm.

– Tất nhiên rồi.

Randolph đứng dậy, cậu cũng cảm thấy không an tâm nổi khi bác sĩ Connor vẫn còn ở quanh. Điều gì sẽ xảy ra nếu hai người cứ trao đổi qua lại những chuyện bí mật ở một nơi công cộng?

Chàng nhà báo nhìn theo cái dáng đi cứ như chúc thẳng xuống phía dưới của Reginald khi anh tiến về phía thủ thư, tự hỏi Reginald bị như vậy là do bẩm sinh hay tai nạn. Người Anh từ lâu đã quan niệm sống là luôn phải ngẩng cao đầu và đứng thẳng, những đứa con thuộc về gia đình nề nếp lại càng phải chú ý hơn; vì nếu một người sinh ra với cái cột sống vặn vẹo, cả cuộc đời anh ta sẽ mãi mãi chìm trong cực khổ và bị xem thường. Randolph không coi thường Reginald, phải chăng do một người là ma sói còn một người là ma cà rồng, cả hai đều bị coi là quái vật ở thế giới loài người? Ngay từ lần đầu tiên gặp mặt, cậu đã bắt được một tín hiệu ngầm từ Reginald: một tâm hồn khao khát được thấu hiểu. Nếu cậu không giúp anh ta, ai sẽ giúp?

* * *

Joseph vo đống băng đã cứng vì những vết máu khô, bỏ chúng vào thùng rác. Cảnh sát trưởng chấm chút thuốc sát trùng lên trán, xuýt xoa theo vết thương vẫn chưa khép miệng lại được.

“Joseph, Joseph!” – Có tiếng ai đó nhốn nháo từ bên ngoài đồn cảnh sát.

– Làm sao hả Brook? – Joseph nhận ra ngay giọng của người cảnh sát trẻ.

– Tôi có chuyện này vô cùng quan trọng, thưa ông… – Brook không kịp thở, nhìn lên cái đầu quấn kín băng của Joseph. – Trán ông bị làm sao vậy?

– Kệ đi. Mau báo cáo cho tôi. – Joseph thúc giục.

– Tối qua, khi tôi đi tuần thì phát hiện một đối tượng khả nghi mang theo một đứa trẻ tới nghĩa trang Forest Hill. Tôi cho người đi thông báo và cha mẹ nó tới nhận lại con rồi. Đứa bé vô dụng, chẳng nhớ được gì hết! Ông không đoán được tôi đã thấy những gì đâu.

– Cậu thấy gì? – Joseph đốt một điếu thuốc lá.

– Rất nhiều quan tài!

Joseph ngừng việc hút thuốc lại. Về mặt logic mà nói, quan tài là một vật gắn liền với nghĩa trang. Những lời của Brook nghe thật nhảm nhí, khiến ông nổi giận. Đập mạnh xuống bàn, Joseph chửi thề.

– Đừng cợt nhả với tôi, con trai! Cậu có muốn tôi đuổi thẳng ra khỏi đây không mà ăn nói như thế?

– Không, ông không hiểu! Nếu đó là những cái hòm bình thường, tôi đã không làm lớn rồi. Người mà tôi theo dõi là một cô gái trẻ mặc váy trắng, cô ta kéo cánh cửa đá ở hầm mộ ra rất dễ dàng trong khi tôi phải gắng lắm mới mở được. Tôi nghĩ cô ta là người đã bắt cóc đứa trẻ con và đánh ngất tôi.

Joseph chau mày.

– Vậy cậu bị đánh bởi một đứa con gái, sau đó tỉnh lại và…

– Trán ông… – Brook chỉ vào vết thương lại bắt đầu rỉ máu ra sau cơn xúc động của Joseph.

– Tôi mà phát hiện cậu bịa chuyện thì đừng có trách! – Joseph gằn giọng. Điều duy nhất ông ta muốn lúc này chỉ có manh mối, bằng chứng và manh mối.

– Tôi cần ông phải tin tưởng tôi và mang một bộ đồ nghề tới để cạy chỗ quan tài đó lên. Một mình tôi không làm được. Lỡ có kẻ nào phát hiện? Tôi sợ chúng có đồng bọn…

– Con trai, cậu làm tôi rối trí quá. – Joseph chợt túm lấy cổ áo của anh chàng. – Đứng yên đó cho tôi…

Joseph nuốt khan, nhìn chằm chằm vào cổ Brook. Trên đó hằn một vết cắn nhỏ vẫn còn mới.

– Trời mẹ… – Joseph vội buông cổ áo cấp dưới. Ông bàng hoàng ngồi xuống ghế, đôi bàn tay lên gân đan chặt vào nhau, những giọt mồ hôi hột bắt đầu vã ra.

– Joe, ông không sao chứ? – Brook lo lắng.

– Tôi ổn, tôi ổn… Làm ơn để cho tôi ở đây một mình.

Cảnh sát trưởng thở phào sau cái đóng cửa của Brook. Ông không muốn nói thêm bất cứ một lời nào với bất cứ ai vào lúc này. Tâm trí của ông giờ rối bời như mớ rơm chất đống trong nhà kho. Nỗi sợ hãi vô hình khiến Joseph cảm thấy lưng mình gai gai, cả căn phòng như quay vòng vòng trước mắt ông.

* * *

Cô gái trẻ đội chiếc mũ dạ màu đen vành lớn ngồi trên vòng quay ngựa gỗ Carousel3 của đoàn xiếc lưu động. Ngoài cô tới chơi, nơi đây chẳng có ai. Kể từ sau ngày đầu tiên ra mắt, mọi thứ không còn đông vui và náo nhiệt như trước nữa. Những gương mặt quái dị đã trở nên quen thuộc, những màn biểu diễn đã trở nên nhàm chán, mọi người phát ngán vì những chiêu lừa đảo túi tiền của những trò chơi trúng thưởng…
Nghe có vẻ ích kỉ, nhưng nhờ sự lai vãng thưa thớt mà nơi này bớt ồn hẳn. Khu vui chơi đìu hiu làm cô cảm thấy yên bình và phấn chấn hơn — giống như một thế giới bị cô lập để mình cô tận hưởng mọi trò vui vậy. Cả cuộc đời tuổi trẻ cô đã sống như một chú chim nhỏ bị giam cầm trong cái lồng hẹp, cô chỉ mong muốn có được một nơi dành riêng cho mình tận hưởng — một cái lồng lớn hơn với nhiều đồ chơi hơn.

Cô khép đôi mắt lại, khẽ ngả đầu vào con ngựa gỗ vẫn đang di chuyển chầm chậm theo chiều kim đồng hồ cùng tiếng nhạc. Coi như tâm hồn cô đang được tự do.

3 Carousel: tên gọi theo tiếng Anh-Mỹ cho trò Merry-go-round, gồm một bục cao hình tròn với những chỗ ngồi ở trên được làm bằng gỗ đẽo theo hình ngựa hoặc những con vật khác.
* * *

Randolph và Reginald cùng nhau đi bộ trở về khu vực phía dưới ngọn đồi thấp. Họ ngồi ở trước cửa nhà Randolph, hút thuốc lá và uống chỗ rượu mà Randolph đưa. Gã ma cà rồng không thể ngừng nghĩ về Olivia, tự hỏi giờ này con bé đang ở đâu và như thế nào.

– Reginald, tôi không muốn tỏ ra là kẻ tọc mạch — nhưng tôi có thể biết người đã mang Olivia đi là ai chứ?

– Một trong những người bạn cũ của tôi. – Reginald thấy sao mà oái oăm.

– Tệ nhỉ. Ngài đã thử thỏa hiệp với ông ta chưa? Chẳng lẽ Olivia cứ thế mà đi? Tôi, tôi chỉ thấy nó không hợp lý chút nào!

– Renato không ưa thỏa hiệp với tôi cho lắm. – Reginald buồn bã. – Tôi cũng có nhiều điều nghi vấn, nhưng Olivia ghét tôi. Nếu con bé đã quyết định thì tôi đâu thể ép.

– Ngài đã làm gì?

– Không gì cả. Tôi chỉ cố giúp nó tránh khỏi tổn thương… Nhưng mọi chuyện không như tôi mong muốn.

Randolph nhíu chân mày.

– Tôi không muốn nhóc khóc. Cậu đâu phải chứng kiến cái cách nó nhìn tôi… – Reginald mỉm cười chua chát. – Nhóc đã hy vọng tôi có thể — ít nhất là làm gì đó giúp nó — khi Renato đột nhiên xuất hiện như ông ba bị trong bóng tối. Olivia sợ hắn vô cùng. Và sau khi biết được sự thật, con bé bảo tôi còn tồi tệ hơn cả hắn.

– Với tất cả sự tôn trọng của tôi, bạn ngài lẫn ngài gàn dở quá! – Randolph cầm cả chai rượu lên uống. – Ý của Olivia là gì khi nói ngài còn tồi tệ hơn hắn?

– Tôi không biết. Tôi không thể ngăn bản thân có những suy nghĩ không trong sáng về Olivia và Renato. – Reginald thở dài. – Cậu có nghĩ tôi hoang tưởng?

Randolph ôm lấy đầu mình. Đêm hôm đó cậu nghe thấy những tiếng khóc và gào hét của Olivia, chỉ không nghĩ đó lại là con bé. Reginald và Olivia tuy có trái tính nhau nhưng đâu thể vô tình đến mức nhóc nỡ chửi rủa và bỏ đi như vậy — nhất là cách mà nó thể hiện tình cảm của mình với Reginald; bên cạnh những hành động lặng lẽ Reginald làm vì nó, những tâm sự Reginald giấu kín cho tới tận bây giờ. Cậu thấy Reginald thật là vụng về, anh ta không bao giờ biết hoặc chịu tìm cách để người khác hiểu được tấm lòng mình. Nếu Reginald khéo léo hơn, biết đâu mọi thứ đã diễn biến theo chiều hướng khác? Nhưng tại sao Reginald lại có thể “tồi tệ hơn Renato”, điều đó cậu nhà báo vẫn thắc mắc.

– Reginald, tôi muốn hỏi ngài một chút về quá khứ của Olivia.

– Cậu muốn biết điều gì? – Reginald đáp bằng thứ giọng não nề, cảm thấy hành động của Randolph thật sự vô ích vào lúc này.

– Olivia có bao giờ kể về cuộc sống trước đây của con bé cho ngài không?

– Cũng thỉnh thoảng. Nhóc chỉ nói rằng nó là trẻ mồ côi và từng bị bắt đem bán cho bọn ấu dâm. Chúng khắc lên tay con bé, trao đổi nó qua lại như thứ hàng hóa… – Reginald hơi trùng giọng xuống. – Olivia có vẻ rành thói khôn vặt và lừa dối khi chúng tôi mới gặp nhau, nhưng nó chưa bao giờ bộc lộ sự yếu ớt của mình cả. Rồi Renato tới, hắn búng một cái ngón tay và Olivia trở thành đứa sướt mướt tổn thương vô dụng.

– Khắc vào đây? – Randolph chỉ vào cổ tay của mình. – Reginald, khi nhìn thấy Renato, ngài còn nhớ phản ứng đầu tiên của Olivia không? Sợ hãi? Không vui? Tức giận?

– … Hoảng loạn và khiếp đảm thì đúng hơn. Olivia khóc lóc và cầu xin tôi đưa nhóc về ngay lập tức. Thậm chí ở cạnh tôi rồi Olivia vẫn run rẩy và thở hổn hển như đang trong cơn hen suyễn vậy.

– Ngài nói với tôi rằng Renato dọa sẽ khiến ngài gặp rắc rối với luật pháp và kiện tụng, thế là ngài chùn bước ngay lập tức. Hẳn tay Renato này là một gã thừa cả tiền lẫn quyền nên mới tự tin lấn át ngài như vậy.

– Cậu đúng là sinh ra để làm nhà báo nhỉ. – Reginald khen khéo trí nhớ và cách xâu chuỗi vấn đề của Randolph. Những điều cậu ta phỏng đoán là đúng, nhưng không phải là tất cả.

“Reginald có suy nghĩ ‘không trong sáng’ về Olivia và Renato hả?” – Randolph nhìn Reginald, cảm thấy cái suy nghĩ không trong sáng ấy đâu phải thiếu căn cứ.

– Ngài có nghĩ Olivia thành ra như vậy là vì bạn ngài không?

– Tôi không muốn gợi chuyện với Olivia vì sợ nói nhiều về quá khứ sẽ khiến nhóc buồn. Và cậu biết đấy, hay ho gì khi một người trưởng thành nói chuyện với đứa bé mới lớn về những thứ như thế… – Reginald chau mày. – Cậu nghĩ đó là lý do ảnh hưởng đến Olivia?

– Tôi có biết về tổ chức buôn bán người xuyên Tây Âu chuyên đánh dấu bằng những đường rạch tay. Đã từng có thời gian tôi muốn theo đuổi để viết báo nhưng một người bạn cảnh sát đã ngăn lại. – Randolph hút điếu thuốc. – Tôi chưa từng có cơ hội để kiểm chứng tin đồn về việc chúng thực hiện triệt sản hàng loạt để tránh ảnh hưởng tới quá trình “kinh doanh”, cũng như mổ sống bào thai bán cho những bộ óc đồi bại nhất quả đất này.

Reginald nhún vai. Đó là sự thật mà anh không muốn tin và chấp nhận chút nào — dù anh vẫn biết, hàng đêm, từ phòng ngủ của Olivia phát ra biết bao nhiêu tiếng khóc thảm thiết.

– Sở thích tình dục của Renato, tôi không quan tâm cho lắm…

– Tôi có linh cảm xấu về gã Renato bạn ngài, xấu vô cùng.

– Nếu hắn muốn, Renato có thể khiến cả hai chúng ta bị treo cổ và thiêu cháy…

– Vậy ngài mặc kệ Olivia? – Randolph chợt thấy Reginald thật ích kỉ. – Con bé khôn vặt nhưng liệu một mình nó có sống sót nổi không? Ngài phải thừa nhận rằng Olivia dù đôi khi hơi hỗn với ngài, nhưng nó thật sự coi ngài như người thân của nó mà! Ngài không quan tâm đến nó, một-chút-nào à?

– Không. – Reginald vội vã đáp lại. Đêm hôm đó anh đâu hề muốn Olivia bỏ đi, nhưng thái độ con bé thật quyết liệt.

– Vậy thì đi tìm nó đi! – Randolph ngửa hai lòng bàn tay cậu ta lên, như thể cầu xin Reginald hãy làm điều đó.

– Cậu nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ đâu? Olivia có thể ở bất cứ nơi nào. – Reginald nói bâng quơ. Anh chỉ muốn xem phản ứng của Randolph sẽ ra sao.

– Hẳn Renato cũng biết Olivia là một đứa trẻ ham vui. Ngài không nghĩ việc đoàn xiếc và Renato cùng xuất hiện ở đây là một sự ngẫu nhiên chứ?

Reginald không thể nói được thêm một lời nào nữa. Thái độ của Randolph rất quả quyết.

– … Tôi, tôi phải về cho Reg ăn đây. Gặp lại cậu sau.

“Cậu bốc phét với tôi hả Randolph?”

Reginald chỉnh lại chiếc mũ đang đội, lặng lẽ đứng dậy. Điều làm anh choáng ngợp không phải là những suy luận của Randolph, vì anh cũng đã đoán ra được từ lâu. Cách cậu ta suy luận — khi hoàn toàn không phải là người trong cuộc, chỉ được nghe những lời Reginald kể lại — mới thật sự đáng chú ý.

Tưởng tượng ra cảnh cơ thể gầy gò và trần trụi của Olivia dưới tay Renato; và con bé gào hét xin tha, bị chảy máu, thậm chí có thể bị nhiễm bệnh gì đó, rồi nó vĩnh viễn mất đi thiên chức làm mẹ, hai tay Reginald siết chặt lại, gân trên trán anh ta nổi lên thành từng đường. Cần phải có một cái đầu bằng thép mới may ra không hóa rồ dại nếu bị đối xử như vậy. Làm thế nào để giúp Olivia? Nếu Reginald cứu được con bé, cố gắng phân trần đôi điều với nhóc — nó sẽ tha thứ? Có phải là Renato đã thôi miên và dẫn dụ nó, từ trước tới nay?
Phải tới lúc này đây, Reginald mới hiểu và chấp nhận rằng anh ta thật sự nhớ con bé ấy, nhớ cái cách nó ngang nhiên vi phạm không biết bao nhiêu lần Luật ngầm của
Reginald, và muốn nó trở về trong vòng tay mình. Chỉ là, kể cả nếu Olivia có đồng ý quay trở lại với Reginald đi nữa, thì làm thế nào để hợp pháp hóa được quyền giám hộ từ Renato sang anh? Đó mới là lý do khiến Reginald đi tìm tài liệu tham khảo về luật chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em. Cần phải có kẽ hở nào đó trong chuyện này mà Reginald có thể lợi dụng, cần lỗi lầm nào đó của Renato mà Reginald có thể dùng để chống lại hắn và dành lấy thứ thuộc về mình — như Earlene đã nói. Nhưng, nếu tội lỗi ấy thật sự tồn tại, thì chẳng phải đó cũng chính là lời xác nhận rằng Olivia chẳng sở hữu gì ngoài một tuổi thơ tan nát và tương lai mờ mịt?

“Mâu thuẫn quá nhỉ.” – Randolph nhìn theo cái lưng gù của của Reginald.

– – – – – – HẾT PHẦN 16 – – – – – –


"Phần 17. The horseman" bởi iamDage
Tỉnh dậy sau giấc ngủ ngắn buổi trưa, Jules hít một hơi thật dài, tận hưởng mùi hương béo ngậy từ nồi cháo gà vừa được bố nhấc ra khỏi bếp. Cảnh sát trưởng nghiêng đầu sang một bên, tránh cho những giọt mồ hôi trên trán ông khỏi rơi vào chiếc nồi nóng.

– Chúng ta để ở đây cho nguội bớt đã, rồi sau đó con ăn bao nhiêu cũng được.

Joseph đặt nồi bên cửa sổ mở. Những cơn gió lạnh chẳng mấy chốc sẽ làm bay hết hơi nóng đi. Ông khẽ thở dài, tiến về phía cây treo và gấp bộ đồng phục lại, bỏ vào túi đeo. Joseph chẳng rõ lần cuối cùng mình được hưởng một ngày thảnh thơi, được mặc thường phục và gạt công việc sang một bên để lo cho gia đình là từ bao giờ. Chừng nào còn chưa tìm ra được thủ phạm, ông không thể yên tâm. Cảnh sát trưởng đâu còn trẻ nữa, tuổi về hưu mỗi lúc một tới gần — và trước khi trả lại phù hiệu cùng bộ quần áo khaki xanh thẫm này, Joseph muốn ấn tượng lưu trong ký ức mọi người về vụ án cuối cùng ông phá phải thật là vinh dự và to tát.

“Cảnh sát trưởng, ông có nhà chứ?” – Joseph nghe thấy có tiếng gõ cửa. Nhận ra giọng nói từ bên ngoài là người quen, ông bỏ qua luôn phép xã giao mở cửa thường ngày.

– Vào đi!

– Chào Joe. – Randolph mỉm cười. – Chúng ta nói chuyện một lúc được không?

– Được chứ. Vào nhà và ngồi xuống đi. – Joseph mời Randolph vào trong.

Nhìn thấy đầu cảnh sát trưởng quấn một lớp băng, cậu nhà báo lo lắng.

– Trán ông bị làm sao vậy?

– Tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ đó mà, chuyện thường ngày. – Joseph cười ái ngại. Ông không muốn có nhiều người biết về vết thương của mình cũng như ai là kẻ đã gây ra nó, phần lớn là vì xấu hổ.

Không phải ngẫu nhiên Randolph lại xuất hiện trước cửa nhà cảnh sát trưởng như vậy. Hầu hết những người sống ở đây đều biết mối quan hệ giữa phe cảnh sát với nhà báo địa phương chẳng tốt đẹp gì. Tuy nhiên, Randolph vẫn đàng hoàng đứng ở cửa trước và hỏi thăm Joseph. Cậu tới không phải với tư cách là một người viết báo tự do mở một cuộc điều tra cá nhân, mà chỉ là một người bạn có chuyện cần giúp đỡ. Joseph hoàn toàn có thể nhận ra điều đó, tất nhiên ông không nói ra. Giữa ông và Randolph không hẳn là bạn bè quá thân thiết, nhưng dù sao tình nghĩa vẫn là tình nghĩa.

Sau cuộc nói chuyện với Reginald về Olivia trước cửa nhà mình, Randolph quyết định nếu đã giúp thì sẽ giúp anh ta đến cùng. Một người đàn ông ở Forest Hill có thể giúp cậu điều đó, còn ai khác ngoài ông cảnh sát đã từng học tập và sinh sống ở Paris?

– Tôi biết việc tôi sắp nói ra có thể khiến ông không được thoải mái — nhưng làm ơn, hãy giúp tôi hoặc nói cho tôi biết nếu ông thấy phiền. Chuyện này liên quan đến khoảng thời gian ông còn ở Paris cùng bà Phan và… – Randolph vừa nói vừa chỉ vào cổ tay cậu ta. Ánh mắt cậu hướng về phía Joseph, cố gắng phán đoán trạng thái cảm xúc của ông lúc này.

Ngay lập tức, cảnh sát trưởng hiểu Randolph muốn ám chỉ điều gì. Những dòng ký ức về thời điểm hơn hai mươi năm trước ùa về, khi Joseph vẫn chỉ là một anh chàng vô danh thường ký tên “C.J.” vào cuối mỗi bài báo không phải do mình viết ra. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi, lúc ấy Randolph thậm chí còn chưa chào đời, hoặc cùng lắm vẫn còn đang thò lò mũi xanh nghịch đất bẩn ở đâu đó. Joseph chỉ không hiểu tại sao anh chàng này muốn nhắc lại.

* * *

Thấy ông chủ trở về nhà với cái bọc giấy lớn dính máu tươi, chú chó đen quấn quýt bên chân Reginald, đi theo anh vào trong nhà bếp, liên tục ve vẩy cái đuôi nhỏ của mình đầy thích thú. Reginald chưa bao giờ cưng nựng hay trò chuyện với thú nuôi như Olivia làm — nhưng rốt cuộc chính anh mới là người cho Reg ăn, tắm rửa và giúp nó giải quyết nhu cầu hàng ngày một cách gọn gàng, hợp vệ sinh. Vì vậy, nếu Olivia có đi mất, thì khi muốn ăn Reg vẫn sẽ theo thói quen chạy tới Reginald chứ không phải người chủ đích thực của mình.

Reginald đặt miếng gan lên thớt và cắt nhỏ nó ra, đổ vào bát của Reg. Anh không thích cảm giác bị thúc giục bởi một chú chó. Reginald trải ba lớp giấy báo cũ xuống dưới sàn trước khi đặt bát lên trên, tránh cho Reg khỏi làm dây máu tanh ra nhà. Chỉ chờ khi bát gan vừa mới chạm đất, Reg ngay lập tức vùi đầu mình vào trong, ăn một cách ngon lành. Reginald ngồi xuống bên cạnh chú chó, nhẹ nhàng vuốt lên lưng nó và mỉm cười. Anh cũng muốn có một con vật nhỏ nào đó để kết bạn, nhưng lại không biết phải làm sao để bày tỏ tình yêu của mình với chúng cho đúng ngoài cung cấp những thứ hết sức cơ bản như thức ăn và chỗ ở. Chẳng mấy chốc, đống gan vụn đã hết sạch. Reg liếm mép tỏ vẻ thèm thuồng và nũng nịu ông chủ với “ý đồ” xin thêm.

Reginald nhẹ nhàng kéo đầu chú chó đang liếm lên mặt mình ra, nhặt những tờ giấy báo cũ lại. Đôi mắt anh vô tình lướt qua mục nhỏ thông báo Tìm thấy người thất lạc.

“Sao không nghĩ ra sớm hơn!”

Reginald vội vã vo chỗ giấy ném vào sọt rác và đem bát đi rửa, thấy mình thật ngu ngốc. Gã vốn chẳng quan tâm tới bất cứ điều gì ngoài việc làm sao để bản thân không gặp bất trắc. Ngay cả việc cưu mang Olivia cũng nằm ngoài dự đoán, khá dễ hiểu nếu Reginald tỏ ra rất vụng về và chưa sẵn sàng trong chuyện này. Renato là một kẻ khá thích đùa cợt, không chừng đó chỉ là một trò đùa mà hắn bày ra để khiến gã phải khổ tâm. Tất cả những gì Reginald cần làm lúc này là có được tờ giấy chuyển nhượng từ Renato, một người cố vấn pháp luật sở hữu chút địa vị ở Forest Hill — ngài thị trưởng1.

Reginald rời nhà, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ xin sự giúp đỡ từ một người đàn ông mà mình còn chẳng biết tên hay nhìn thấy mặt bao giờ.

1

Trước năm 1926 chưa có chính sách, tổ chức hay bất cứ dịch vụ xã hội nào dành riêng cho việc nuôi và chăm sóc trẻ mồ côi, lang thang hoặc cơ nhỡ. Mọi hành động chuyển nhượng trẻ chỉ hợp pháp khi chúng diễn ra tại một văn phòng của người cố vấn luật pháp có thẩm quyền, nhưng không nghiêm trọng tới mức phải thực hiện ở tòa án.

* * *

Seth lau chỗ mồ hôi trên trán, sắp chồng báo chiều bỏ vào túi. Việc bán báo vốn đã chẳng lời lãi là bao, cậu cũng không phải đứa trẻ duy nhất được “độc quyền” kinh doanh ở thị trấn này. Cậu biết vậy, nhưng cậu không đủ can đảm để ngồi lì ở nhà và nhìn cảnh bố mình ho hắng đờm dãi triền miên vì không có tiền mua thuốc.

Và thế là Seth chẳng thể làm gì hơn ngoài tiếp tục bước đi, bất chấp cổ họng sưng đau và khát khô, bất chấp cái dạ dày sôi sục, để bán báo cho xong. Lúc này đang là khoảng thời gian giao nhau giữa mùa thu và đông, không khí ngày càng thêm khô và lạnh. Dù người Seth ướt đẫm như vừa bị dội cả xô nước từ trên xuống, cứ mỗi lần một đợt gió nào thổi qua là cậu lại rùng mình theo tiếng hắt xì.

* * *

– Về cơ bản thì cứ sau mỗi lần tết, chị lại lấy thêm một lọn tóc nhỏ nữa bắt vào… cứ thế cho đến khi hết thì thôi. – Olivia quấn nhẹ nhàng tóc Earlene vào phía bên trong sau khi đã hoàn thành kiểu tết-vấn kết hợp người ta thường hay làm cho những cô dâu.

– Chị không có gương nhưng chị nghĩ nó đẹp lắm đấy nhóc! – Earlene khẽ chạm vào phần tóc hơi thả ra phía tai trái, thích thú vuốt ve kiểu đầu cầu kỳ mà không kém phần lãng mạn này. – Người Pháp có nhiều cách tết tóc đẹp thật. Dạy chị thêm nữa đi!

Trước lời khen hào hứng của chị tóc vàng, Olivia cười khúc khích. Khi mới nhìn thấy Olivia, những gì đã trải qua với Reginald khiến Earlene không vui và ghét tất cả mọi thứ liên quan đến anh ta, bao gồm cả đứa bé bú rù này. Nhưng giờ thì mọi thứ đã khác. Cô quên mất rằng cô đã coi Olivia xấu xí và đáng ghét đến mức nào, chỉ thấy thương và tội nghiệp cho nó. Còn Olivia, nó biết Earlene không thể nào là một người xấu; cũng vì nó sợ sự im ắng, sợ phải ở một mình, bất lực trong căn phòng trống với một gã đàn ông. Con bé nhớ Reginald nhưng vẫn cảm thấy khó có thể tha thứ cho anh ta vì đã giấu giếm quá nhiều thứ và coi nó như một con ngốc. Nếu lúc này Reginald xuất hiện trước mặt, Olivia không rõ mình sẽ xông vào đánh anh ta tới tấp hay khóc một trận thật to.

– Chị chỉ cần tết thành thạo ba kiểu cơ bản vừa rồi thôi, hầu hết chỉ là những biến thể cho thêm điệu đà hay tao nhã… – Olivia ngắm những gợn sóng tóc óng ánh của Earlene. – Tóc chị tết lên đẹp lắm, mà người đẹp như chị thì làm gì cũng đẹp hết! Em gọi chị là Người đẹp có được không?

– Cảm ơn Olivia… – Earlene mỉm cười ngại ngùng. – Sao em tết đẹp như vậy mà không tết tóc gọn vào? Như thế trông sẽ sáng sủa hơn đấy. Em có khuôn mặt trái xoan đáng yêu lắm, sẽ thật là phí nếu lòa xòa tóc như vậy.

Olivia lấy lược chải tóc cho Earlene, không biết phải đáp lời chị Người đẹp như thế nào ngoài cách nói lảng.

– Em đổi sang kiểu tết Hà Lan cho chị nhé?

– … – Earlene chợt thấy có lỗi khi sực nhớ ra nguyên cớ đằng sau mái tóc rối xù của Olivia. – Làm đi!

Trong lúc để cho Olivia nghịch ngợm mái đầu của mình, Earlene lại cùng con bé luyên thuyên đủ thứ nào váy áo, giày dép, và cả những lời nói xấu về cánh đàn ông. Renato nằm im lìm trong chiếc quan tài của hắn ở căn phòng bên cạnh. Những tiếng cười nói rộn ràng của đám đàn bà nhiều chuyện truyền qua cả vách tường, vọng vào hòm gỗ.

* * *

– Cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều. – Randolph nắm chặt tay Joseph và lắc mạnh, tỏ ra rất biết ơn.

– Không có gì. – Joseph vỗ vào vai Randolph, gật đầu vài cái. – Những gì tôi biết là những gì cậu biết. Tiếp tục làm việc nhé. Giờ tôi phải tới đồn cảnh sát đây, có nhiều thứ phải làm lắm.

Joseph và Randolph đường ai nấy đi.

Anh chàng nhà báo cảm thấy lo cho Olivia, chỉ muốn chạy tới chỗ Reginald ngay lập tức. Randolph không rõ tại sao Joseph lại dễ dàng chia sẻ những gì ông ta đã trải qua cho mình biết đến vậy. Cậu đã chuẩn bị sẵn tâm thế sẽ phải đặt ra những câu hỏi thế nào, cách điều hướng cuộc nói chuyện ra sao — nhưng cuối cùng, mọi thứ lại nằm ngoài dự đoán: ông Phan chỉ ngồi vắt tréo chân, kể một mạch cho Randolph nghe.

Giống như Reginald, Joseph Phan cũng là một người đàn ông có quá khứ với nhiều bí mật không thể tiết lộ cho ai; và cũng chỉ có Randolph là người duy nhất biết được, vì cậu ta giỏi tạo lòng tin cho người khác. Để thuyết phục được những kẻ đa nghi và kín lời như vậy, khiến họ nghĩ rằng Randolph là một người bạn tốt bụng và nhiệt tình, đâu dễ dàng gì.

Vừa nhìn thấy cái dáng còng lưng quen thuộc đang rảo bước phía bên kia con đường, Randolph vội vẫy tay, chạy tới.

– Reginald! Tôi có việc này cần phải nói với ngài…

* * *

– Buổi chiều tốt lành, thưa ông!

Brook giơ tay lên ngang thái dương và chào Joseph, tay trái cậu giữ chặt cái xích quấn quanh cổ chú chó chó chăn cừu Đức to lớn bị rọ mõm; dưới chân cậu là hòm đồ nghề với đầy đủ rìu, xà beng, dùi phá khóa, lưỡi cưa tay, túi đựng tang vật, găng, panh kẹp… Cảnh sát trưởng rất hài lòng vì mọi thứ đã đâu vào đấy, cùng với vẻ hừng hực khí thế sẵn sàng của anh chàng Brook.

– Được rồi! – Joseph hít một hơi dài, nói dõng dạc để lấy động lực cho cấp dưới. – Người ta phàn nàn về tình hình an ninh gần khu dựng lều xiếc mấy hôm nay. Saunders, cậu đi tuần quanh đấy và báo cáo lại cho tôi ngay mọi sự bất thường. Nếu không còn bất cứ câu hỏi nào nữa, tôi và Brook sẽ tới nghĩa trang ngay bây giờ cùng với anh bạn Mark này trong khoảng hơn một giờ đồng hồ.

* * *

Ánh hoàng hôn đỏ hắt lên Reginald, tạo thành cái bóng đen dài đổ trên mặt đất. Anh đứng trước cổng ngôi nhà chung, chỉnh lại trang phục của mình và bước vào trong. Trong lúc nhìn quanh nơi làm việc của ngài thị trưởng, Reginald suýt thì va phải ai đó.

– Tôi xin lỗi. Buổi tối tốt lành, tôi là Reginald. Cô có thể cho tôi biết văn phòng làm việc của ngài thị trưởng ở đâu chứ? Tôi có việc cần gặp ông ta. – Reginald nhìn lên cô gái mặc váy đen vừa bước tới. – Tôi không hẹn trước nhưng…

Cô gái bắt tay Reginald, chỉ lên phía trên tầng.

– Cảm ơn cô…

Reginald chợt cảm thấy có gì đó kỳ lạ ở cô gái này: cô ta đeo găng tay và đội mũ rộng vành, rộng tới mức không thể nhìn được nửa trên của gương mặt — giống hệt như anh. Nhưng rồi, nghĩ đến khoảng thời gian gấp rút, Reginald nhanh chóng đi lên cầu thang dẫn tới tầng hai thay vì tiếp tục nấn ná. Văn phòng làm việc của thị trưởng ở ngay đó, không thể không nhận ra.

Reginald gõ cửa từ bên ngoài, chờ đợi sự cho phép. Một cảm giác khó tả cứ bủa vây lấy anh, khiến anh thấy ngực mình hơi nặng và nhức nhối.

“Mời vào.”

Chờ cho giọng nói nhẹ nhàng và hơi khàn ấy kết thúc, Reginald mở cửa bước vào.

– Xin chào ngài thị trưởng, tôi là Reginald. Tôi tới đây vì có một việc rất…

Vừa đưa tay lên bỏ mũ và chào hỏi, Reginald chợt nhận ra tất cả cửa sổ ở văn phòng của thị trưởng đều treo kín rèm.

– Reginald? Chà, cuộc sống quả là đầy những sự bất ngờ! – Ngài thị trưởng già hướng đôi mắt lấp lánh của mình về phía người đàn ông trẻ đang đứng ngây người bên cánh cửa. Nụ cười thân thiện của ông bắt đầu hé nở, kéo theo bộ râu màu xám. – Xin chào Reginald. Làm ơn, ngồi xuống đi.

Reginald nuốt khan, hơi lùi lại về phía sau, hơi thở mỗi lúc một gấp gáp trước đôi mắt xám dốc xuống và cái nhìn sắc như dao đó. Trạng thái của Reginald lúc này có lẽ không khác Olivia khi nhìn thấy Renato là bao, anh nhận ra nụ cười và đôi mắt đó ở bất cứ đâu. Gót giày đen của Reginald di nửa vòng về hướng ngược lại. Anh cần phải đi khỏi đây ngay lập tức.

– Như vậy là không lễ phép chút nào đâu, Reginald. Tôi khá chắc chắn cha anh đã dạy anh không được thất lễ với người trên mình chứ? Tùy tiện bỏ đi như vậy là mất lịch sự lắm. – Bàn tay ông ta túm vào Reginald, giữ anh lại trong căn phòng bí bách.

Reginald lặng lẽ ngồi xuống ghế, cố gắng trấn tĩnh bản thân. Anh không thể tin nổi những gì đang xảy ra trước mắt mình là thật.

* * *

Joseph cùng Mark và Brook đứng tại nghĩa trang Forest Hill. Mục tiêu của họ là căn hầm chứa những chiếc quan tài vốn được Brook phát hiện trong chuyến đi tuần đêm trước. Lối vào đã bị phong tỏa lại, ngăn không cho bất cứ sự tác động nào từ bên ngoài vào trong hòng phi tang chứng cứ.
Cả ba bước vào căn hầm. Ánh chiều tà chưa tắt hẳn. Tuy bầu không khí cứ rợn ngợp và ẩm thấp như thường, đông người vẫn hơn.

Joseph dùng xà beng cạy nắp từng tấm ván lên một. Hai người nín thở lắng nghe tiếng tim đập thình thịch thành từng hồi. Mark chợt gầm gừ, rồi nhảy chồm lên trên một cỗ quan tài mà sủa ầm ĩ. Đến chú chó này cũng biết trong đó không phải là xác chết. Brook rọi đèn pin vào, nhẹ nhàng đưa bàn tay đã đeo găng rờ khắp hòm.

– Đây là…? – Brook nhìn Joseph, chờ đợi một phản ứng nào đó từ cảnh sát trưởng. Những chiếc quan tài đó đều đã cũ, nhưng chẳng có ai hay cái gì ở bên trong.

Trái ngược với kỳ vọng của Brook, cảnh sát trưởng không nói nên lời. Có lẽ như vậy tốt hơn, vì ông không muốn bình luận thứ gì khó nghe vào lúc này. Hai người cảnh sát và chú chó lại nhìn nhau, điều gì bên dưới những tấm quan tài đã rõ, còn họ chẳng khác nào một lũ ngớ ngẩn. Vậy còn cô gái với sức khỏe phi thường và đứa trẻ con hôm đó? Tại sao lại có người tấn công anh chàng Brook, và tại sao Joseph lại có một vết thương lớn ở trán? Liệu chúng có liên quan gì tới vụ giết người? Liệu có phải một thế lực siêu nhiên nào đó đứng đằng sau thao túng tất cả như ông cảnh sát trưởng hoang tưởng? Hay chỉ là một vài kẻ có quá nhiều thời gian rảnh rỗi, muốn đám cảnh sát ở Forest Hill nhấc mông ra khỏi đồn và vận động?

Câu trả lời chỉ có một, nhưng giả thuyết đưa ra thì quá nhiều. Họ cần có cái gì đó xác thực hơn là vài câu chuyện kể hoang đường dọa trẻ con, dù rằng đổ lỗi cho quỷ hút máu đâu phải là một ý tưởng tồi. Joseph, với tư cách là người có trách nhiệm lớn nhất, vẫn tỏ ra cứng rắn và cương quyết trong vụ này — nhưng tận sâu trong lòng, ông cảm thấy hoang mang cùng cực, và bắt đầu hoài nghi năng lực của chính mình. Mỗi một manh mối, mỗi một sự kiện lại đưa ông tới một trò đùa oái oăm khác. Một nửa của ông nôn nóng muốn đem mọi thứ phơi bày ra ánh sáng cho xong, nhưng một nửa còn lại trong ông biết kết quả chắc chắn sẽ không tươi đẹp chút nào.

* * *

Xốc lại chiếc túi quai chéo trên vai, Seth ôm áo khoác, nhìn về phía nhà thờ đã đóng cửa từ lâu. Một ngày bán báo của cậu lại kết thúc, với vài tập báo ế trong túi như thường lệ. Trên đường trở về nhà, Seth trông phía đằng xa có một nhóm người đang túm tụm với nhau, nói một tràng thứ ngôn ngữ gì đó cậu không rõ.

* * *

Trở về đồn và bước vào trong phòng riêng, Joseph ngồi xuống ghế, hai tay đan chặt vào nhau. Những suy nghĩ vụt đến rồi vụt đi trong đầu ông ta, hỗn loạn và đầy ngẫu hứng như đàn thỏ con nhảy nhót trong hang. Bằng mọi giá, cảnh sát trưởng phải chứng minh cho mọi người thấy rằng ma cà rồng ẩn nấp khắp nơi đây và chúng có thể là bất cứ ai. Thêm một giây phút chần chừ nào sẽ lại khiến cho một người xấu số khác trở thành nạn nhân của hắn, và cứ thế cái vòng xoáy luẩn quẩn này lại tiếp diễn và lan ra ngày một rộng hơn. Nhưng vấn đề mấu chốt là: không ai tin Joseph cả; và nếu chưa thể làm cho hai cậu cảnh sát tâm phục khẩu phục, Joseph chẳng còn cơ hội nào để cảnh báo với những người khác. Khi đó, họ sẽ nói rằng ông cảnh sát trưởng là một thằng điên rồi cách chức ông. Joseph sẽ bị tống vào cái trại tâm thần bẩn thỉu của Forest Hill, nơi ông phải một mình gặm nhấm sự dày vò, bị bao quanh bởi những kẻ mất trí, trong một cái xó hôi thối và ẩm mốc cho đến hết cuộc đời. Nghĩ đến đó thôi, tóc gáy của Joseph đã dựng hết cả. Ông không muốn và không thể để điều đó xảy ra!

“Cảnh sát trưởng có ở đây không ạ?” – Tiếng ở bên ngoài làm gián đoạn giây phút suy nghĩ của Joseph. Tò mò, ông đứng dậy bỏ ra xem đó là ai.

– Chú Joe! – Seth gọi tên thân mật của Joseph khi thấy ông xuất hiện.

– Seth? Cháu làm gì ở đây? – Thấy Saunders đang giữ Seth cùng một thiếu niên lạ mặt, cảnh sát trưởng linh cảm có chuyện chẳng lành.

– Báo cáo với ông về tình trạng mất cắp, họ đổ lỗi cho lũ Gypsy. – Anh cảnh sát thả tay Seth; cùng đó lấy ra một chiếc đồng hồ đeo tay, một sợi dây chuyền và rất nhiều tiền lẻ — những thứ anh ta tịch thu được. – Tôi đuổi theo thằng Gypsy và bắt gặp nhóc này ở cùng với chúng. Đám còn lại đã chạy mất rồi.

Mặt ông cảnh sát trưởng chợt đỏ gay.

– Cậu giam thằng Gypsy lại, lấy lời khai của nó và lập biên bản đi.

– Chú Joe, cháu xin lỗi! – Seth lấm lét nhìn chú, giọng hơi run.

– Cháu có liên quan đến việc này không, Seth?

– Joe… chú nghĩ cháu ăn cắp? – Seth nói ngập ngừng. Cậu sợ Joseph hơn cả bố mình.

– NHÌN VÀO MẮT CHÚ, SETH! – Joseph quát lớn, hai tay ghì Seth lại. Ông kéo một bên mắt của cậu bé ra và nhìn vào con ngươi bên trong. – Nhìn vào mắt chú và nói cho chú sự thật!

– Không! Chú Joe, cháu không! – Seth gào lên. Sự hung hăng của Joseph làm cậu hoảng loạn. – Người của chú đang đi tuần thì bắt gặp cháu gần đó, lũ kia thấy thế bỏ chạy mất rồi! Chú Joe, tin cháu đi!

Joseph kéo Seth vào trong phòng ông. Đóng sầm cánh cửa, chú Joe đẩy đứa cháu vào ghế mà ra lệnh:

– Ngồi xuống!

– Joe! Cháu không muốn bị nhốt! – Seth khóc. Chú Joe thường ngày hiền khô, vậy mà giờ ông ta thật trịnh thượng và đáng ghét.

– Ngồi yên đấy! Bây giờ chú cần cháu phải thành thật. Cháu có nhớ đặc điểm ngoại hình của kẻ đã đưa cho cháu chỗ đồ ăn cắp đó không? Bọn chú sẽ cần cháu nhận dạng khi tới bắt chúng.

Seth lấy tay gạt nước mắt, chưa bao giờ chú Joe căng thẳng đến thế. Cậu sợ mình sẽ bị nhốt, rồi sẽ bị mách tội với bố mẹ.

– Seth! Chuyện này nghiêm trọng đấy! – Joseph hối thúc. – Đừng có bất hợp tác!

– Cháu xin lỗi chú!

– Mẹ kiếp! – Joseph gằn giọng, bỏ đi trong bất lực, để mặc Seth ngồi lại một mình.

* * *

Earlene đã ra ngoài mua bữa tối cho Olivia. Cô ả là người vui vẻ và có vẻ dễ kết bạn, cố tình đi thật lâu để tạo cơ hội chạy thoát cho đứa trẻ. Con bé hiểu ngay sau cái chỉ tay và nháy mắt mà nàng Người đẹp dành cho mình. Nó xé vội chỗ ga trải đệm ra, tết chúng lại thành một sợi dây.

Khi trời đã tối hẳn, Renato mở tung nắp quan tài, bước ra ngoài. Đang chỉnh lại trang phục, hắn chợt đứng lặng. Renato chau mày, áp sát tai vào vách tường. Hình như có tiếng xé vải và tiếng lạo xạo lục đục ở quanh đây.

“Livie!” – Renato đứng ngay phía sau cửa, gõ liên hồi.

Olivia giật mình, cuống quýt vo đống vải rách cùng dây vào trong gầm giường, kéo chăn xuống che đi. Nếu Renato phát hiện ra, không thể biết được hắn ta sẽ làm những gì.

Renato tra chìa vào ổ, mở tung cánh cửa. Nhìn thấy Olivia đang trong tư thế co quắp chân tay trên giường, hắn ngồi xuống cạnh chú chim nhỏ của mình.

– Tim đập nhanh, toát mồ hôi lạnh… – Tay hắn đặt lên trán Olivia. – Em đang căng thẳng vì chuyện gì?

– …

Rồi hắn cầm lấy bàn tay của Olivia mà nhìn vào: không ngoài dự đoán — bên dưới những cái móng nham nhở và rớm máu do Olivia tự cắn, dây vải cứa vào làm ngón tay con bé hằn lên những vết bầm.

– Ồ, không không không, Bồ câu nhỏ ơi! – Renato ngân dài giọng nói theo nỗi chán nản. – Tại sao trên đời lại có cô bé bướng bỉnh đến thế?

Hắn nhấc cằm Olivia, ghì bộ hàm mình lên cô bé; tay còn lại cởi khuy áo, từng chiếc một. Trong đầu Olivia giờ chẳng còn gì ngoài cảm giác tiếc nuối và ân hận vì những lời mình đã cứa vào lòng Reginald. Reginald chắc chắn không bao giờ làm những việc này!

“Earlene đi rồi, không còn ai ở đây cứu mày đâu! Tự cứu lấy mình đi!” – Nghĩ như vậy, con bé cắn vào lưỡi Renato.

Đằng sau cánh cửa phòng, những tiếng khóc, tiếng gào và tiếng chửi mỗi lúc một lớn dần…

“Con khốn kiếp! Đáng lẽ ta phải đè ngươi ra trước mặt thằng Reginald cho nó chiêm ngưỡng mới phải!”

“Cút xuống địa ngục đi, đồ động đực!”

… rồi tới tiếng đánh đập, tiếng đồ đạc vỡ tung.

* * *

Reginald hơi tựa lưng vào ghế, hai bàn tay đan chặt với nhau, để sát trong lòng. Anh không muốn ở đây và đối thoại với thị trưởng thêm một giây nào nữa, nhưng chẳng thể rời đi. Reginald sợ ông ta, Reginald không muốn thừa nhận điều này — nhưng mọi cử chỉ, hành động tự thu mình lại cho tới ánh mắt rụt rè của anh đã nói lên tất cả.

– Reginald, đừng để ta là người độc thoại mãi chứ. Cậu muốn ta đem Olivia về cho cậu, tất nhiên ta có thể làm được, nhưng cậu cần phải tỏ ra hợp tác hơn và thôi ngay thói cứng đầu đó đi.

– Tôi đã nói rồi, tôi không cần ông giúp.

– Ta gặp Olivia nhiều rồi, thật là một đứa trẻ ngọt ngào! Khỏi phải nói ta cũng biết nó là người mang dòng máu van Schoolderwalt. – Ông già trầm tư. – Điều khiến ta ngạc nhiên là: Cậu dắt theo con bé về tới tận đây để làm gì? Cậu đâu phải người tốt tới mức sẵn sàng hi sinh vô điều kiện cho bất cứ ai, phải không?

Hiểu điều ngài thị trưởng muốn ám chỉ, Reginald vội vã tiếp lời:

– Tôi sẽ không lấy máu Olivia.

– Cậu chắc chứ? – Ông hướng đầu mình về phía Reginald. – Vậy cậu cần Olivia để làm gì? Cậu chăm sóc cho nó, cậu quan tâm đến nó. Khi nó đi mất, cậu dằn vặt không yên rồi tìm mọi cách để đưa nó trở về. Nhìn cậu khốn khổ như con cún Labrador mất chủ vậy. Cậu yêu con bé?

Đôi mắt đỏ rực của Reginald ngước lên. Bắt gặp ánh nhìn hiếu kỳ của ngài thị trưởng, Reginald lại vội vã cúi xuống. Lý do quái quỷ nào khiến một ông già còn hiểu được anh hơn cả bản thân mình?

– Ồ! Vậy đúng là cậu yêu Olivia? Quỷ thần! Cậu yêu con bé mất rồi, Reginald. Cậu có chối thì ta vẫn nhận ra ngay thôi. – Ngài thị trưởng cười lớn. Sự im lặng của Reginald chỉ càng chứng tỏ những gì ông ta nói là đúng. – Nhưng, không phải là thứ tình cảm của một người đàn ông với một cô gái. Không. Chính vì không phải là sự si mê đó nên ta mới thấy nguy hiểm, Reginald.

Reginald cắn vào môi mình, đôi bàn tay siết chặt đang đặt trên bàn vẫn còn run run.

Ngài thị trưởng nở nụ cười. Ông ta thật sự rất đẹp lão — và mỗi khi ông cười, sự duyên dáng lại càng làm tôn lên ánh mắt đầy mê hoặc kia. Ông già râu xám ôm lấy vai Reginald, khẽ thì thầm vào tai anh…

Reginald vẫn im lặng.

“Ngài thị trưởng!”

Tiếng gõ cửa giục giã bên ngoài phá ngang câu nói của thị trưởng. Ông bỏ tay khỏi Reginald, nhanh chóng chuyển sang tư thế nghiêm trang. Cái giọng đó chắc chắn là Joseph.

– Vào đi.

– Thưa ngài, chúng ta có chuyện vô cùng nghiêm trọng!

– Cậu cứ nói.

– Chúng tôi nhận được rất nhiều lời phàn nàn về tình trạng mất cắp tăng đột biến gần đây. Mọi người nghi ngờ nguyên nhân là do đám người ở đoàn xiếc. Saunders phát hiện và đã bắt quả tang chúng. Bọn Gypsy không thể ở đây được!

Nói tới đó, Joseph lấy ra túi đựng đồ tịch thu, đưa cho thị trưởng.

– Tôi hiểu. Nhưng cậu có chắc chắn đó là đám người Gypsy không? Nếu đúng như thế thì tôi sẽ phải trục xuất họ. – Thị trưởng nhìn vào túi, không khỏi lo lắng. – Tôi sẽ liên lạc với người chủ đất ở đó cùng chủ đoàn xiếc ngay khi có thể để bàn với họ. Chuyện hợp đồng cho thuê đất và cam kết giữ an ninh không phải ngày một ngày hai mà giải quyết xong đâu.

– Chuyện này liên quan đến an ninh và trật tự của cả cộng đồng, thưa ngài. Chỉ cần ngài cho phép.

– Vậy cứ thế đi.

Ngài thị trưởng nhìn ra xung quanh, ngạc nhiên vì năm giây trước Reginald vẫn còn ở đó — nhưng giờ đã biến mất.

* * *

Reginald chạy như bay tới nơi dựng lều của đoàn xiếc lưu động. Nếu đúng như những gì Joseph kể, chẳng mấy chốc đám cảnh sát sẽ tới dỡ tung nơi này và Olivia sẽ mãi mãi không thể tìm thấy được nữa.

“Chúa ơi, lúc cần thì ở đâu chứ!” – Reginald hối hả băng qua dãy túp lều, hy vọng tìm được ai đó bán bia rượu.

– Giữ luôn tiền thừa! – Reginald ném vài tờ tiền lên chiếc khay bạc và giật lấy chỗ bia của một cô gái ở gần. Anh ta chỉ uống một chút, còn lại đổ thẳng lên người rồi vội vã chạy tiếp.

– Thằng điên! – Cô gái hét lên.

Nadzieja đang đứng gần đó trò chuyện cùng vài bà mẹ Gypsy, từ xa đã nhận ra Reginald đang xông tới, gọi lớn:

– Quỷ hút máu?

– Không có thời gian để giải thích đâu! Ngươi có biết ai là người quản lý gánh xiếc này không? – Reginald nói, không kịp thở.

– Tại sao ta phải nói cho ngươi? – Nadzieja chau mày, vẫn còn tức tối vì vết cắn lần trước.

– Thôi nào, ta thật sự cần! Nếu ngươi còn chần chừ, ta không nghĩ ngươi có thể xem bói cho ai từ giờ trở đi đâu.

– Ý ngươi là sao? – Nadzieja nhăn mặt. Mùi hôi từ người Reginald và những điều nhăng quậy gã nói khiến ả khó chịu.

– Đám cảnh sát nghi các ngươi ăn cắp tài sản của người dân và họ sẽ đến đây bất cứ lúc nào. Olivia của ta đã bị một gã Ý mang đi mất và ta cần nhóc trở lại. Ta cần ngươi trả lời cho ta nếu có một gã Ý nào đã hối lộ cho chủ rạp của ngươi để tới đây không?

Nadzieja không kịp phản ứng lại với những lời nói liến thoắng ấy. Nhưng đúng là trước khi đến đây, ả có nghe nói một người đàn ông nào đó đã khiến chủ rạp thay đổi kế hoạch lưu diễn và rời địa điểm tới Forest Hill. Nếu Quỷ hút máu này không đùa giỡn, có lẽ gã thật sự cần giúp đỡ.

– Nhanh lên… – Reginald thúc giục.

– Đúng, có một gã người Ý rất giàu. Đi ngược trở lại đi, hết con đường thì rẽ trái, lều của ông ta ở đó…

– Cảm ơn, và xin lỗi.

– Trước khi ngươi đi, ta cần nói chuyện này đã, Quỷ hút máu! – Nadzieja nói với theo. – Khi ta nhìn vào lòng bàn tay của Olivia, đường sinh mệnh của cô bé bị đứt làm đôi. Olivia khó mà sống qua tuổi hai mươi…

– Tào lao! – Reginald chỉ nói vậy, rồi lại vội vã chạy đi.

* * *

Olivia lấy luôn mảnh váy rách để lau phía trong đùi, ngước mắt nhìn tấm lưng trần rắn chắc của Renato. Khuôn ngực vạm vỡ, cơ nhị đòn lớn tương đối — hắn ta thật sự biết cách chăm sóc cho bản thân rất tốt. Reginald chỉ như bao người đàn ông khác nếu đứng bên cạnh “anh yêu” của con bé, nếu không muốn nói là lu mờ và kém cạnh hơn, lại không biết nói những lời hoa mĩ để tâng bốc, tán tỉnh. Reginald luôn tỏ ra bình thường tới mức tẻ nhạt, lại có lúc cục cằn tới khó ưa, thật khó để giải thích.

Olivia muốn biết về nguồn gốc của mình, nhưng cô bé cảm thấy sợ hãi khi phải đối diện với sự thật. Nếu như có thể quên hết mọi thứ tồi tệ đã xảy ra thì hay biết mấy — hoặc ngày hôm ấy, Reginald cứ mặc kệ đứa trẻ này chết đi cho rồi.

Renato vừa hoàn thành hàng khuy cuối cùng và nhặt chiếc áo khoác từ dưới đất lên. Hắn cắm chìa vào ổ, chuẩn bị rời đi.

– Ngài Renato, tôi… – Olivia lên tiếng.

– Làm sao? – Renato quay đầu lại.

– Ngài có thể ở cạnh em lúc này được không? Em cảm thấy có chuyện cần nói với ngài. – Olivia lúng túng.

– Sao ngươi bỗng cư xử lạ vậy?

Renato chợt thấy rạo rực trở lại. Hắn ngồi lên giường, hơi ngả về phía sau, khẽ hôn lên tay Olivia và trao cho cô bé cái nhìn nửa đắm đuối nửa phóng đãng từ đôi mắt nâu hình quả hạnh nhân của mình.

– Chuyện về Reginald… – Olivia ngả đầu vào vai hắn.

– Lại là hắn? – Renato chau mày. – Ngươi vẫn quan tâm tới hắn? Vậy ngươi có nghĩ sau khi biết được những chuyện này, hắn còn thèm quan tâm tới ngươi nữa không?

– Reginald đã làm gì có lỗi với ngài?

– Hắn giết cha ta…

– Tại sao? – Olivia run rẩy.

Renato rờ tay phải lên mái tóc xù của Olivia. Hắn luôn thích cảm giác từng ngón tay mình bị vướng trong những lọn tóc nâu xoăn ấy, khiến hắn phải giật mạnh để gỡ chúng ra và làm Olivia đau đớn.

– Emchỉ muốn biết nếu gia đình em còn sống hay không. – Olivia òa khóc, ôm lấy Renato.

Renato không biết phải nói gì lúc này. Suy nghĩ về những người ruột thịt của Olivia chẳng bao giờ mảy may xuất hiện trong tâm trí hắn. Olivia quả thật đau khổ, nhưng hắn không tin mình không thể khiến Bồ câu nhỏ nguôi ngoai.

– Ngươi muốn biết về thân thế của mình?

Renato xoa đầu Olivia, nhấc cô bé ngồi lên lòng. Hắn đặt đôi bàn tay mình lên bờ vai trần trụi và run rẩy của Olivia, cúi nghiêng đầu lại gần cô bé.

– Hôn ta đi đã, Livie. Gọi ta là Mamo đi…

– Mam… – Olivia miễn cưỡng kề môi mình lại gần Renato.

Chợt nó cúi người, kéo chiếc dây bện bằng ga giường lên thít ngáng cổ chân Renato, đấm vào yết hầu hắn. Renato ngã ra đất, ho vật vã. Olivia lần tìm con dao của mình đã bị Renato giấu trong áo khoác hắn, chạy xông ra ngoài.

– LIVIE! – Renato gào lên, cố gắng giứt dây ra khỏi chân giường trong khi nhìn chú chim nhỏ của mình chạy đi mất.

Olivia sợ hãi vô cùng, cứ cắm đầu về phía trước mà chạy. Lúc này trời đã tối, nên nếu không nhanh chân, Renato có thể dễ dàng đuổi kịp. Con bé vừa chạy qua những túp lều vừa cầu nguyện, hy vọng một phép màu may mắn điên rồ nào đó sẽ xảy ra.

Olivia nhìn thấy một cái bóng đen mờ đang chạy về phía mình. Nó mất đà, vấp ngã về phía trước, vào trong cánh tay của gã áo đen.

– CỨU TÔI! CỨU TÔI! – Olivia giãy giụa.

– Ta đây! – Reginal kéo con bé đứng dậy.

– Reginald! – Olivia òa khóc nức nở, ôm chầm lấy anh. Mọi sự thù hận bỗng biến đi đâu mất. Lúc này, đứa trẻ chỉ cần được ai đó giúp mình thoát khỏi Renato, có là quỷ đầu bò cũng được.

Trông bộ dạng xộc xệch của Olivia, trông gương mặt sưng vù đầy vết đánh, rồi ngửi thấy mùi tinh dịch tanh tưởi trên người con bé; Reginald khuỵu gối, ôm chầm lấy nó, cảm thấy ghê tởm, đau đớn và tội lỗi cùng một lúc.

– Ta xin lỗi! Ta xin lỗi!

Olivia khóc mỗi lúc một to hơn. Từng tiếng kêu hỗn loạn của nó như cứa vào tim anh.

– Nhóc! Đừng làm ta khóc theo.

– Ngài làm tôi ngạt thở. – Olivia cố cựa mình.

– Phải rồi! – Reginald bỏ tay ra khỏi Olivia, cởi áo khoác đưa cho nó. – Chúng ta đi khỏi đây mau lên!

– Nhanh thế! – Renato bất ngờ lên tiếng.

Reginald quay đầu lại, cố giữ mình thật bình tĩnh:

– Renato, đưa cho tôi tờ giấy. Tôi biết cậu giở trò khỉ với tôi rồi.

– Đúng. – Renato gật đầu cười với vẻ thích thú.

– Chúng ta không có thời gian để thương lượng hay đùa cợt nữa đâu. Cảnh sát sắp tới đây rồi.

– Cậu gọi chúng đến? – Renato vẫn giữ thái độ ngạo mạn, cười nhếch mép.

– Không. – Reginald lắc đầu. – Nhưng tôi cần Olivia và tôi sẽ không để cậu mang con bé đi đâu thêm lần nào nữa. Vì vậy, đưa cho tôi tờ giấy đó! Quyền giám hộ Olivia của cậu chỉ là tạm thời, nếu họ phát hiện ra cái sở thích bệnh hoạn đó, cậu nghĩ họ sẽ đưa Olivia đi đâu? Lúc ấy cả hai chúng ta chẳng được gì cả.

Renato chợt vỗ tay. Hành động của hắn khiến cả Reginald và Olivia không khỏi hoang mang.

– Khá lắm, Reg! Tôi biết cậu không từ bỏ dễ dàng như thế mà. Nhưng tôi muốn cậu phải trả giá vì những gì đã gây ra cho gia đình tôi, và cho tôi! Livie có thể tha thứ cho cậu, tôi thì không.

– Không phải là lỗi của tôi. Cậu không phải ma cà rồng bất tử, cậu không bao giờ hiểu được cảm giác ấy đâu. – Reginald nhất quyết không chịu nhượng bộ. – Nếu cậu muốn tôi quỳ xuống xin lỗi cậu, cứ tiếp tục mơ đi. Người duy nhất tôi nợ là Olivia. Mau đưa tôi tờ giấy, đồ dâm ô đê tiện!

– Cậu mới là người bắt cóc trẻ con đấy, Reg. Có tin tôi sẽ kiện cậu vì dám cướp Olivia từ tay tôi không?

– Tôi không quan tâm! – Reginald gắt, siết chặt vào tay Olivia, con bé giật mình. Olivia bám vào người Reginald, cảm thấy buồn nôn và choáng váng. – Nhìn Olivia đi, nhìn con bé đi! Điều gì khiến cậu nghĩ tôi không dám kháng kiện cậu vì đã hãm hại đời nó? Nhìn xem, trông nó tàn tạ như thế nào! Tôi không hề bắt cóc con bé, chính nó đã bỏ trốn rồi tìm tới tôi, và tự nguyện ở lại cùng tôi vì tin tưởng tôi sẽ chăm sóc tốt cho nó! Lời của Olivia sẽ là thứ chống lại cậu trước tòa án, để xem lúc đó ai sẽ là người phải vào tù!

Renato tặc lưỡi vài cái, rút từ trong túi áo ra tờ giấy ném về phía Reginald. Điều này thật quá khó tin, nhưng đúng là tờ giấy đó đang bay trước mặt Reginald, rồi rơi xuống chân anh.

– Cầm lấy! – Renato nhìn về phía Olivia. – Tôi không thể hiểu nổi Olivia nữa rồi. Đó không còn là chim bồ câu bé nhỏ của tôi nữa, con bé chẳng mang lại gì cho tôi ngoài những cơn đau đầu và đau tim cả.

Bàn tay Reginald đang nắm lấy Olivia chợt thả ra.

– Cầm lấy và cút khỏi đây! – Renato gắt.

Dù hoài nghi, Reginald vẫn cúi xuống nhặt. Tờ giấy không phải là thứ duy nhất anh nhận được từ Renato, hắn tặng anh thêm cả cú đá vào mặt.

– REGINALD! – Olivia hét toáng, Reginald ngã ra đất, bất tỉnh. Máu từ miệng anh ta chảy thành một dòng nhỏ xuống cằm. – REGINALD!

Olivia lấy khăn tay từ trong túi áo Reginald ra lau cho anh, cố lay anh dậy. Renato bước từng bước một lại gần Reginald, hơi cúi xuống, đá vào đầu anh ta.

Reginald lấy tay chống xuống đất, loạng choạng đứng dậy. Anh nhìn Renato, hai bàn tay ghì chặt lại, nhổ máu ra khỏi miệng mình. Trong lòng Reginald lúc này bùng lên cơn giận điên cuồng, giọng anh run run:

– Cậu muốn đánh nhau?

– Tôi nói cậu cùng Livie đi khỏi đây, nhưng đó là sự bố thí tôi dành cho cậu thôi, Reg. Tôi chơi nó chán rồi, thích thì tha cái giẻ rách ấy về! – Renato ẩn mạnh vào người Reginald, lời xúc phạm đó cũng là lời tuyên chiến.

Reginald lao vào người Renato như một ngọn giáo đang phóng, xô hắn ngã qua cánh cửa túp lều. Cả hai lồm cồm bò dậy, đấm liên tiếp vào mặt nhau. Reginald lồng tay phải qua Renato, bẻ ngược cánh tay hắn lên quá vai. Renato đau đớn, húc gối vào bụng Reginald. Reginald ngã xuống đất, nhận ra Renato vừa cầm lên một chiếc ghế, chuẩn bị đập vào mình.

Olivia từ bên ngoài chạy vào trong, bắt gặp Renato xông tới, và Reginald chống tay xuống dưới đất lấy điểm tựa, đá vào Renato — hệt như một con ngựa thực hiện cú đá hậu. Một cú, hai cú, tiếp tục cú thứ ba… Reginald cứ thế giáng vào mũi hắn. Nhân lúc Renato vẫn đang choáng, Reginald đấm vài nhát đầu hắn, thở mạnh vì mệt. Renato gào lên, đập đầu vào mặt Reginald. Choáng váng, Reginald lùi lại vài bước, ôm lấy cái mũi đầy máu. Renato đẩy Reginald ngã vào bàn, đạp lên người anh. Sức nặng làm cho cái bàn gãy đôi, kéo theo Reginald nằm ở phía dưới chịu đau đớn với những mảnh gỗ vỡ vụn găm vào lưng.

Sau cú nhảy vừa rồi, chân trái của Renato bị thương. Hắn ta bò ra ngoài, đứng dậy, bước đi tập tễnh. Reginald nằm ở dưới đất, hai mắt nhắm nghiền.

Olivia đặt tay Reginald lên vai, kéo anh ta ra ngoài. Tạ ơn Chúa, Reginald rên rỉ — chứng tỏ ngài ấy còn sống. Sức chịu đựng của loài ma cà rồng đúng là đáng kinh ngạc, và độ tàn bạo khi chúng đánh nhau cũng đáng sợ chẳng kém. Cả Renato lẫn Reginald lúc này đều bầm giập, tả tơi. Gãy mũi, rách môi, trật khớp, đổ máu… đâu phải cứ ngủ một giấc rồi tình dậy là sẽ quên hết được những cơn đau ấy.

Bất chợt, Olivia bị hất ngã sang một bên. Cú đạp vừa rồi đã vượt quá giới hạn và sức kiềm chế của Reginald. Anh ta điên cuồng đấm vào mặt Renao, kẹp cổ hắn dưới khuỷu tay mình, vật đầu Renato xuống đất. Renato cố bò ra phía bức tường gần nhất, xô đầu Reginald vào. Reginald vơ lấy cái ghế, đúng lúc đó Earlene quay lại. Renato nhào tới, bị đập một nhát chí mạng vào đầu.

– Chúng ta đi thôi! – Olivia kéo Reginald bỏ chạy ngay lập tức trước khi có thêm nhiều chuyện tồi tệ hơn xảy ra.

Renato ngồi gục xuống đất, mặt hắn tối sầm lại. Máu từ trên đầu hắn tuôn xối xả, dính be bét vào ghế, ở quần áo, văng vãi khắp nơi, chảy ròng ròng xuống nền đất. Nhìn theo Reginald và Olivia, mặt Renato không bộc lộ cảm xúc nào ngoài sự chán nản.

– Thôi nào, đừng cay cú thế chứ! – Earlene mỉa mai, tận hưởng giây phút sung sướng khi được chứng kiến Renato bị đánh đập thảm hại đến vậy.

Renato rít lên tiếng gì đó Earlene không hiểu được. Hắn đạp mạnh vào chiếc ghế gần đó, nó vỡ tan tành.

Reginald cùng Olivia chưa kịp bỏ chạy thì chạm mặt Joseph, không rõ cảnh sát đã có mặt từ lúc nào. Cảnh sát trưởng nhìn thấy bộ dạng đầy máu của Reginald và ngửi thấy mùi bia sực lên từ người anh ta, lập tức còng tay hàng xóm lại. Renato và Earlene nhân lúc hỗn loạn đã bỏ trốn đi từ bao giờ không ai hay. Những vết máu dưới đất dẫn tới phía sau khu dựng lều thì biến mất hoàn toàn.

– Cảnh sát trưởng đây! Chúng tôi có lệnh phong tỏa nơi này và lục soát vì nghi ngờ một vài kẻ trong số các người dám ăn cắp, làm đảo lộn cả thị trấn này. Yêu cầu tất cả giữ trật tự và có thái độ hợp tác. – Joseph nói như vậy với người quản lý gánh xiếc, khi thành viên trong đoàn đã tập hợp đông đủ và những người bị mất cắp cũng có mặt để xác nhận.

Tất cả túp lều đều bị bới tung lên, ai trong đoàn cũng bị khám toàn bộ thân thể. Trẻ em hoảng loạn, người lớn lo lắng. Mọi chuyện diễn ra đúng như dự đoán khi cảnh sát tìm thấy tài sản giấu trong những chiếc rương và cả trong chính quần áo của người Gypsy được người dân Forest Hill xác nhận là của họ. Đám xiếc nhận lệnh phải hạ hết lều và đi khỏi thị trấn trong vòng một ngày, không bao giờ được phép quay trở lại. Reginald bị giữ lại ở đồn và làm việc với Joseph tới tận đêm mới được phép ra về.

– Tôi rất xin lỗi vì đã gây ra những phiền toái không đáng. – Reginald nói nhỏ.

– Đây đã là lần thứ hai, tôi e là ngài sẽ phải ra hầu tòa. Tôi không muốn có người đánh nhau rồi mất mạng hay thành tật chỉ vì những con ma men. – Joseph tỏ ra bất mãn, nhưng cuối cùng ông ta cũng hạ giọng xuống. – Reginald, tôi hỏi ngài điều này được không?

– Đó là gì?

Joseph đã kịp thời chứng kiến giây phút cuối cùng Renato và Reginald “tàn sát” nhau, nó đẫm máu ngoài sức tưởng tượng nhưng đồng thời rất mãn nhãn nếu được nhìn dưới con mắt của những gã ưa dùng bạo lực làm công cụ giải trí.

– Trông ngài không giống như người quý tộc chỉ biết cả ngày đàn hát, uống rượu xịn và vẽ tranh. Ngài có từng tham gia hội đánh thuê hay gì không?

– Tôi từng đi lính, ông biết rồi đấy. – Reginald trả lời cụt lủn. – Tôi có thể dùng nhà vệ sinh được không?

– Hướng đó, ở cuối cùng. – Joseph thở dài, chỉ về phía sau dãy hành lang.

Reginald đi vòng qua nhà vệ sinh rồi lẻn vào phòng cảnh sát trưởng. Anh lục ngăn kéo, xem qua những tập tài liệu.

“Một gã có thành kiến với ma cà rồng?” – Reginald nhìn vào những bản báo cáo mất tích, những vụ án với dấu vết để lại duy nhất là vết cắn trên cổ.

Reginald đóng ngăn kéo, nhưng không tài nào cánh cửa chịu khép lại. Tò mò, anh cho tay vào sâu bên trong, phát hiện ra một tập giấy nhỏ được giấu bên dưới phần bản lề. Nó có bìa vàng bên ngoài với dòng chữ “Horseman – tình nghi số một”.

Thấy tiếng của ai bên ngoài, kẻ lục lọi vội vã cất mọi thứ vào như cũ và trèo ra. Anh quay lại chỗ Joseph, cư xử như chưa hề có chuyện gì rồi cùng Olivia trở về. Gương mặt cô bé lúc này đã tái mét và thẫn thờ vì kiệt sức.

– Chúc ngủ ngon, cảnh sát trưởng.

– Ngài cũng vậy, tạm biệt Reginald. – Joseph nhìn theo cái dáng khòng khòng của Reginald. Nếu một người không bị vẹo cột sống, đi đứng như vậy chẳng khác nào cực hình.

Joseph bước vào phòng làm việc, ngồi xuống ghế. Ông mở ngăn kéo tủ, rút ra tập tài liệu. Lật nhanh những trang giấy ố vàng và nhòe mực, Joseph rút ra một mảnh báo từ năm 1887 với tiêu đề Người ngựa áp đảo và trận chiến cuối cùng. Bài báo ấy nói về một người đàn ông hành nghề đấu vật, nổi tiếng với sức khỏe phi thường và những đòn đá hiểm hóc, nay đã giải nghệ. Không ai biết Người ngựa tên thật là gì, đến từ đâu, nhưng ai cũng biết rõ anh ta có dáng đi hơi vẹo về một bên.

“Từ năm 1887 rồi cơ đấy!” – Joseph mỉm cười.

* * *

Olivia cùng Reginald trở về tòa lâu đài cũ kĩ, vừa đi vừa ngáp. Mùi sàn gỗ hòa lẫn với mùi tường đá tưởng như đã quá quen thuộc tới mức sẽ không bao giờ còn được ngửi thấy nữa, mà nay lại dậy lên đầy nhung nhớ, cô bé hít căng lồng ngực cho đã. Nhìn thấy cục lông đen đáng yêu của mình, Olivia cúi xuống, ôm chú chó đang vẫy đuôi rối rít vào lòng, thốt lên trong vui mừng:

– Reg!

Reginald vào phòng tắm để thay quần áo và rửa hết những vết thương trên người mình đi. Máu trên người anh bị nước cuốn trôi thành từng dòng đỏ nhạt, đi theo ống xả của bồn tắm. Cũng may là anh đã tính trước việc sẽ bị ông cảnh sát bắt quả tang nên đã đổ rượu bia lên người và viện cớ bị kích động trong lúc say. Sẽ không hay chút nào nếu Joseph phát hiện ra lý do sâu xa của vụ ẩu đả và thân thế của Olivia, sau đó là tới chính anh ta.

Reginald định vào phòng và ngủ một giấc, bỗng thấy Olivia ngồi lủi thủi ở ban công tầng hai. Anh tiến lại gần, nhắc nhở con bé.

– Ngươi làm gì ở đây vậy? Khuya rồi, lạnh lắm, mau về phòng ngủ đi!

– Tôi mệt lắm, nhưng không ngủ được. Cứ mỗi lần đi ngủ là tôi lại mơ thấy Renato và những kẻ xấu khác.

– Chúng làm gì ngươi? – Reginald ngồi xuống. Phải chăng đây là cơ hội để được “phân trần” và đón con bé trong vòng tay của anh ta? – Ngươi muốn chia sẻ không?

– Trước đây, ở trại mồ côi, tôi tên là Madeleine. Tôi chưa bao giờ hòa đồng cùng với những đứa trẻ ở đó vì chúng luôn bắt nạt tôi. Rồi tôi gặp Renato, tôi quý ông ta ngay lập tức và được nhận nuôi. Renato đổi tên tôi thành Olivia Madeleine nhưng vẫn cho tôi giữ nguyên họ của mình. Tôi đã giấu ngài chuyện này, vì tôi nghĩ nó không quan trọng. Tôi đã nghĩ mình có thể bắt đầu lại từ đầu, sống một cuộc sống khác với ngài…

Reginald bặm môi.

– Không ngày nào Renato không nói rằng ông ta yêu tôi. Cho tới một ngày, Renato và tôi làm—một số chuyện… Tôi sợ, và tìm cách bỏ đi. Trên đường bỏ trốn, tôi bị bắt vào một nhà chứa và phải bán dâm.

Nói tới đó, Olivia bắt đầu nức nở.

– Nhiều người tới chọn tôi vì họ thấy tôi còn bé… Lúc đó tôi mười hai tuổi. Lũ bắt cóc tôi sau khi biết tôi không còn trinh—chúng… mổ bụng tôi, và lấy—ra khỏi người tôi… Đau lắm! Chúng bảo đó là cách để phòng tránh rủi ro. Tôi nhìn thấy có cả đống em bé tí hon đầy máu bị vứt đi, Reginald!
Sau này tôi phát hiện ra họ chính là người của Renato. Tôi không thể chịu được, tôi sợ bị nhét vào—và bị lấy ra… Lúc nào tôi cũng giật mình tỉnh dậy mỗi đêm, và tôi muốn mình đừng khóc nữa, nhưng tôi sợ… Reginald, ngài sẽ không bao giờ làm thế với tôi—đúng không?

Reginald nhìn Olivia, không biết phải an ủi như thế nào. Con bé vòng tay qua cánh tay Reginald và ôm lấy, đôi vai nhỏ lại run lên. Reginald xoa mái tóc nó. Lúc này anh không sợ nước mắt, chỉ thấy tội nghiệp cho một đứa trẻ mồ côi đã phải chịu đựng những thứ như vậy khi còn quá nhỏ.

– Tôi nhớ ngài… – Olivia lí nhí.

– Ta cũng thế, nhóc. Mừng vì ngươi trở lại. – Reginald cười buồn.

– Tôi không biết tôi có còn bố mẹ hay anh chị em không. Tôi không biết họ có sống tốt không. – Olivia lau nước mắt.

– … Olivia, ta—ta không biết cách an ủi người khác. Nhưng bất cứ khi nào ngươi cảm thấy không vui, ngươi cứ nói với ta. Ta không thấy phiền đâu.

– Tôi chỉ cần ngài thành thật với tôi, và không bắt tôi phải… – Giọng Olivia khàn lại. – Đôi lúc tôi ước mình được làm người lớn và mạnh mẽ như ngài.

Reginald nuốt khan.

– Ta hứa với ngươi — bằng danh dự của ta — không bao giờ ta ép ngươi làm chuyện đó với ta cả.

– Cảm ơn. Ngài tốt với tôi lắm, cho tới tận bây giờ. Ngài giống như một người anh lớn vậy. – Olivia cười, thở phào nhẹ nhõm. Cô bé muốn nói sang chuyện gì đó bớt nặng nề hơn, sực nhớ tới Người đẹp. – Sao ngài kết hôn rồi mà không nói cho tôi biết?

– Đâu có! – Reginald chau mày.

– Earlene nói với tôi…

– Ta chưa lấy ai bao giờ cả. Ta thích sống một mình. – Reginald giả bộ nhìn lên trời để tránh ánh mắt Olivia. – Ta với Earlene chỉ sống chung bên nhau một thời gian ngắn thôi, bọn ta thậm chí còn chẳng có đám cưới.

– Thật không?

– Thật. Ta đã chạy trốn khỏi Earlene, không dám gặp lại cô ấy thêm một lần nào.

– Cái gì? – Olivia cười khì khì. – Tại sao ngài lại trốn? Ngài là kiểu người trách nhiệm mà!

– Ta biết! Ta biết… – Reginald gật đầu theo tiếng cười của Olivia.

Hình như Reginald vẫn hay tỏ ra hay thoải mái hơn vào những buổi đêm yên tĩnh như thế này. Mỗi lần như vậy, anh ta lại tỏ ra ngộ nghĩnh đến khó tin — trái ngược hẳn với hình ảnh cau có và khó gần thường ngày.

– À, còn chuyện nữa! – Olivia lên tiếng. – Ngài học đánh nhau ở đâu vậy?

– Ý ngươi là gì? – Reginald nhìn Olivia.

– Từ lần trước tôi đã để ý rồi, mỗi lần đánh ai ngài đều làm những động tác kỳ lạ, không giống người bình thường đánh cho lắm. – Olivia quơ tay lên cao giống như những võ sĩ trên đài thi đấu.

Reginald chống cằm.

– Đấu vật ngầm ở châu Âu khá phổ biến, nhất là ở Anh. Đó là cách những kẻ thừa tiền giải trí, và những kẻ cần tiền sẵn sàng bán rẻ mạng sống hoặc thân thể mình — hoặc chỉ đơn giản là giải tỏa bức xúc bằng bạo lực thôi. Ta cũng từng đi đấu vật.

– Thật không? Ngài chấp nhận bị đánh đập tả tơi như thế? – Olivia ngạc nhiên.

– Hầu hết toàn là con người thôi mà, ta hơi gian lận chút xíu. – Reginald nhún vai. – Nếu không có sức mạnh của ma cà rồng, chắc ta cũng không dám đâu.

– Lúc ấy có vui không? – Olivia tò mò.

– Cũng hơi hơi. Cảm giác được mọi người tung hô và hò hét mỗi lần bước lên sàn đấu, rồi khi ngươi hạ đo ván đối phương. Thậm chí họ còn đặt biệt danh cho ta và một vài người khác lúc đó nữa, nhóm “Thú vật”.

– Tên gì lạ thế?

– Thì có Gấu và Khỉ đột — hai gã to con nhất, Rắn — kẻ luồn lách giỏi, cuối cùng là Ngựa — ta, kẻ chuyên tung những đòn đá.

– À, vậy là mấy cú đá đó… – Olivia thốt lên, cố giữ hai mi mắt nặng trĩu đừng sụp xuống. Cuối cùng thì thắc mắc đã được giải đáp, con bé che miệng ngáp.

– Ừ… – Reginald gật đầu.

Olivia tì đầu mình vào vai Reginald, vẫn ôm lấy tay anh. Dù thấy thật khó để diễn ta suy nghĩ và cảm xúc của mình thành lời, Reginald đã trải qua cả một ngày mệt mỏi rồi, giờ anh buông xuôi.

– Olivia, ta thành thật xin lỗi vì những gì cha ta đã làm. Bản thân ta là con mồi béo bở cho lũ ma cà rồng và ta không hề muốn liên lụy tới ngươi. Ngày hôm đó, ta đã mắc kẹt với hai suy nghĩ trái ngược nhau. Ta không muốn ngươi phải chết, nên ta cứu ngươi — nhưng vì đem ngươi đi cùng ta, điều đó lại đẩy cả hai rơi vào thế nguy hiểm hơn… Nếu có cơ hội nào — dù là mong manh nhất — về gia đình ngươi, ta cũng sẽ giúp bằng tất cả khả năng của mình.

– Không sao, chúng ta phải bảo vệ lẫn nhau… – Olivia uể oải đáp. Sự mệt mỏi khiến nó quên mất cả ngữ pháp mà chuyển sang tiếng mẹ đẻ. – Chúng ta… Nous dev—devons rester en…

– Nous serrerons les coudes pour faire face à l’adversité. (Chúng ta sẽ cùng nhau sát cánh mà vượt qua mọi nghịch cảnh.) – Reginald khẽ cười, nói thay con bé.

Rồi, anh chợt thấy một bên vai mình có cái gì đó dần đè nặng lên. Olivia sau khi được giãi bày nỗi lòng, mệt quá mà ngủ quên từ lúc nào không hay. Cô bé ngả hẳn đầu vào Reginald, khép lại đôi mắt, thở nhẹ nhàng.

– Ta không muốn chuyện gì xấu xảy ra với ngươi, Olivia.

Reginald nhớ tới điều mà ông thị trưởng đó nói thầm vào tai mình, anh kéo chiếc áo khoác đang mặc ra, choàng lên người Olivia, để cho cô bé ngủ yên bên cạnh, rồi tiếp tục ngắm bầu trời đêm.

“Một người cha sẽ không ngại làm bất cứ điều gì vì con mình, Reginald yêu quý. Cảm ơn vì đã mang Olivia đến đây cho ta, con trai của ta.”

– Ngủ ngon, nhóc. – Reginald trút hơi thở mãn nguyện. Anh nhắm hờ đôi mắt, cố gắng hòa mình vào không gian tĩnh lặng, chợt muốn ôm nhóc vào lòng, hôn lên vầng trán lòa xòa tóc nâu ấy.

Gió thổi lộng qua ban công kéo theo màn sương đêm lạnh giá, có lẽ Reginald nên đưa Olivia vào trong nếu không muốn con bé bị cảm vào ngày hôm sau. Nhưng cứ đợi thêm một chút cũng chưa muộn. Giờ không phải là lúc để bản thân phải vướng bận với những lo toan thường ngày. Nguy hiểm và mệt mỏi có thể chờ. Reginald, ngay lúc này đây, chỉ muốn tận hưởng từng giây phút hiếm hoi được ở bên cạnh gương mặt thánh thiện đang ngủ say trên vai mình mà thôi.

– – – – – – HẾT PHẦN 17 – – – – – –


"Phần 18.1. Cara mia, Caro Mio (My dear) " bởi iamDage
Seth đóng cửa nhà, vang vọng vào đôi tai cậu vẫn chẳng là gì ngoài tiếng ho ồng ộc. Nhận ra phòng khách lúc này trống rỗng, cậu đi lên tầng hai, hé nhìn qua cánh cửa khép hờ ở phòng của bố mẹ. Colby đang nằm cuộn tròn trong chăn, thiu thiu ngủ dưới cánh tay bố. Ngay sau đó, Seth lại nghe thấy bố mình ho, có lẽ vì đau quá mà ông không ngủ được. Thấy con trai lớn trở về, ông Coffin cất tiếng hỏi nhỏ:

– Seth?

– Con đây. – Seth rót một ít nước và đi tới chỗ bố nằm. Cậu ngồi xuống, đưa cho ông uống.

Bố Seth nhấp một chút, hắng giọng lại.

– Sao hôm nay con về muộn thế, Seth?

– Con ở chỗ chú Joe… – Đứa con chỉ nói một nửa sự thật.

– Con đã làm gì?

– Bố, con không làm gì hết! – Seth vội vã thanh minh.

Bố Seth im lặng. Ông không nói gì không có nghĩa là ông bỏ qua chuyện này. Seth mười lăm tuổi — đã từng làm việc mười hai tiếng một ngày, sáu ngày một tuần mà không hề được nghỉ giữa giờ ở một nhà máy nóng bức, ngột ngạt và chật ních người, sau đó bị đuổi đi. Con ông từ trước tới giờ chưa làm việc gì sai trái, nhưng gần đây tính tình nó có vẻ thất thường. Nếu cũng cùng một mức trả bốn shillings trên một tuần, công việc bán báo vẫn dễ thở hơn là phải cạo ống khói bẩn thỉu và độc hại; nhưng chính vì thế mà Seth lại hay phải chạm trán với những đứa trẻ ngoài đường phố hơn, điều đó mới khiến ông lo lắng.

– Bố này… – Seth nói nhỏ.

– Sao thế?

– Chú Joe có nhờ con gửi lời hỏi thăm, chú ấy muốn lúc nào đó rảnh rỗi có thể tới đây. Con bảo bố vẫn ổn, và con cảm ơn chú vì đã quan tâm tới gia đình chúng ta, rồi con tạm biệt chú.

– Joe là một người bạn tốt… – Bố Seth chỉ nói như vậy. Việc nói làm gián đoạn hơi thở của ông, khiến ông ho vật vã. Ông Coffin đã bệnh từ lâu nhưng chẳng ai quan tâm về chuyện này, chỉ có cảnh sát trưởng là vẫn nhớ tới.

– À, con suýt quên mất… – Seth cho tay vào trong túi, lấy ra chỗ tiền kiếm được lúc sáng đưa cho bố. – Ngày mai bố cầm lấy mà đi gặp bác sĩ đi. Hy vọng là đủ.

– Con giữ lấy. – Bố Seth lắc đầu.

– Bố không đi khám, con sẽ bỏ nhà đi cho bố mẹ đỡ tốn tiền nuôi con!

Seth ấn chỗ tiền vào tay bố mình, vội đóng cửa nhà và lao xuống tầng dưới, chạy xô ra vỉa đường. Đằng sau cái gốc cây phong sần sùi, cậu rút chiếc dao cạo giấu trong người, cứa một đường thật mạnh vào cánh tay.

Một dòng máu ứa ra, chảy ròng xuống đất. Seth biết bố mình không còn sống được bao lâu nữa, cậu đau lòng, nhưng nỗi đau đó Seth không thể chia sẻ cùng ai khác. Tay trái của Seth chằng chịt đường cứa, những vết mới bắt đầu lên da non, gây ngứa ngáy — còn những vết sẹo cũ thì đã thâm lại, lồi lên. Một khi những cơn đau đã đi mất, Seth lại tiếp tục hành hạ chính mình. Cần một vết rạch thật sâu, thật đẫm máu và xót xa để nhắc con trai ông Coffin rằng: những điều người khác nói về cậu có thể khiến cậu chạnh lòng, nhưng cái chạnh lòng ấy vẫn chẳng thể đau hơn vết thương thể xác. Vết cứa nào rồi cũng lành, lời nhục mạ nào rồi cậu cũng sẽ quên. Seth Holden Coffin này phải thật là mạnh mẽ, phải đối mặt với những cơn đau ấy và vượt qua chúng, để vực dậy tinh thần cho tất cả những người mà cậu quan tâm.

Seth thở phào sau cơn buốt nhói. Cậu lau chỗ máu đi, kéo áo xuống và nghĩ về cảnh sát trưởng – bạn của bố, cũng là cha đỡ đầu của mình. Đứa trẻ này không cần được yêu quý bởi nhiều người, chỉ mong muốn có được một người bạn tốt và thấu hiểu như chú Joe. Mọi người bây giờ trở nên quá lạnh lùng và tàn nhẫn với nhau, còn tình bạn là thứ gì đó thật xa xỉ.

– Bố cháu dạo này thế nào, Seth?

– Ông ấy… ổn ạ.

– Cho chú gửi lời hỏi thăm đến Paul (tên của ông Coffin). Dạo này chú hơi bận, nhưng chú chắc chắn sẽ tới gặp cậu ấy.

– Chú không cần phải làm thế đâu. – Seth nhìn chú, ái ngại.

Joseph nhớ lại chuyện xảy ra hồi chiều, cảm thấy có lỗi vì đã nổi nóng. Dù gì, Seth vẫn là trẻ con.

– Seth này, chú xin lỗi vì đã quát cháu. Lúc ấy chú chỉ nghĩ nếu có chuyện gì xảy ra với cháu thì Paul…

– Chú Joe, cháu hiểu mà. – Seth cười buồn. – Cháu không để ý đâu.

– Cảm ơn, anh bạn. – Joseph cười, lấy tay xoa đầu Seth. Thằng nhóc mười lăm tuổi, đã cao tới tai ông, nhưng gầy gò và buồn bã. – Cũng sắp đến nhà cháu rồi, chúng ta chia tay ở đây nhớ?

Seth chợt đứng lại, đưa cánh tay phải bùng nhùng sau lớp áo lên gãi đầu. Cậu có đôi điều muốn nói với cảnh sát trưởng, nhưng lại không biết phải giải thích ra sao.

– Mạnh mẽ lên, con trai! Cả gia đình trông vào con đấy! – Cảnh sát trưởng ôm chầm lấy Seth, vỗ nhẹ vào lưng cậu. Ông coi Seth như con đẻ. Chẳng cần nó phải nói ra, Joseph vẫn hiểu lúc này cháu mình đang bế tắc và cô đơn.

– Chú Joe! – Seth gục đầu vào vai cảnh sát trưởng mà khóc. Trong một buổi đêm đầy gió và sương như thế này, cả cậu và Joseph đều buốt cóng hết tay, nhưng cái ôm của chú Joe làm Seth thấy ấm áp hơn nhiều.

– Muộn rồi, về nhà đi. – Joseph xoa đầu cậu bé.

Và Seth tạm biệt chú Joe của cậu, lặng lẽ trở về nhà.

Paul run rẩy cầm những đồng tiền lẻ của con trai ông lên, chợt một túi nhỏ màu trắng rơi ra bên dưới. Seth vẫn không quên mua về cho ông, có lẽ nó phải đi ra ngoài thị trấn mới lấy được. Paul thầm cảm ơn đứa con trai hiếu thảo, ông mở gói bột ấy ra và bắt đầu hít…

* * *

– Dimmi se tu sai… Se hai visto cara mia.1 (Nói tôi nghe, nếu anh biết, nếu anh thấy người yêu dấu của tôi đâu.) – Renato nằm trên giường, nghêu ngao hát để quên đi cơn đau. Người y tá vừa mới sát trùng xong vết thương, đâm từng mũi kim qua da đầu hắn. Cú đập của Reginald khiến Renato phải khâu tới sáu mũi.

– Hát dở ẹc! – Earlene ngồi ở gần đó và thẳng thắn chê bai, mải mê thực hành những kiểu tết tóc mới học được. Cô ta chẳng quan tâm tới Renato cho lắm, nhưng tiếng hát làm màng nhĩ cô như muốn chảy máu.

– Nếu tôi cho cô ít tiền, cô làm ơn đi mua keo về dính mồm mình lại được không, Earlene? – Renato cau có trước sự thô lỗ đó. – Cô bảo khi hát, tiếng hát sẽ giúp ta quên đi cơn đau đấy!

– Đáng đời! – Earlene che miệng cười.

1


Tiếng Ý cũng phân biệt giống đực và cái. Mia cara và Mio caro đều có nghĩa là My dear.

* * *

Sau khi đưa Olivia về phòng, Reginald xuống phòng khách chỉ để ngồi suy nghĩ suốt cả đêm về con bé, về những việc đã xảy ra và có khả năng xảy đến. Ngài thị trưởng già đã ở đây bấy lâu nay, lặng lẽ quan sát cuộc sống của Reginald và Olivia mà họ không hề hay biết. Ông ta đang tính toán điều gì đằng sau nụ cười vô tư và ánh mắt trìu mến đó? Ông ta có để yên cho Reginald — hay sẽ khiến anh phải âm thầm chịu đựng từng cơn dày vò tinh thần một, suốt ngày này qua ngày khác?
Olivia đã kể cho Reginald tất cả, còn Reginald chỉ nói những điều mà con bé muốn nghe, cho rằng có những thứ nó không nên biết thì hơn. Xem ra, gã vẫn chẳng thay đổi một chút nào.

Chú chó Reg trèo lên giường, khẽ liếm lên mặt đánh thức cô chủ dậy lấy đồ ăn cho mình. Olivia xoa đầu Reg, ngơ ngác nhìn căn phòng nhỏ. Tất cả những gì còn sót lại trong trí nhớ của nó chỉ là khoảng thời gian ngồi cùng Reginald bên ngoài ban công, rồi không hiểu tại sao mình lại ở đây.

– Chào Reginald. – Olivia bế theo chú chó trên tay, trượt xuống tầng một. Lúc này vẫn còn sớm nhưng tinh thần con bé có vẻ khá thoải mái.

– Chào Olivia.

Nét tươi tắn ấy làm Reginald cảm thấy cắn rứt. Kẻ nào lại nhẫn tâm lừa dối một đứa nhóc hết lần này đến lần khác?

Trông thấy vẻ mặt căng thẳng xen lẫn nét kiệt quệ vì thiếu ngủ và suy nghĩ nhiều của Reginald, Olivia ngồi lại gần, bám vào cánh tay anh.

– Đêm hôm qua tôi ngủ say quá, chẳng biết mình đã trèo lên giường từ lúc nào. Còn ngài, ngài ổn chứ?

– Ta ổn. – Reginald thở phào. Thật may mắn vì Olivia đã ngủ quên. Nếu nhóc nghe thấy những lời nói mùi mẫn và ướt át trước đó, chắc anh ta sẽ tự tử vì xấu hổ mất.

– Hai cái lông mày trên mặt ngài lúc nào cũng dính chặt vào nhau như thế này này! – Olivia nhăn mặt bắt chước Reginald, anh ta dù đang cảm thấy xuống tinh thần cũng phải bật cười theo.

– Mặt ta lúc nào chả như vậy.

– Ờ, vậy tôi đi làm gì đó ăn sáng… – Olivia không nói gì thêm, bế Reg lên và đi về phía nhà bếp. Cô bé cuối cùng cũng học được một thứ sau từng ấy thời gian sống ở đây: đó là đừng nói quá nhiều về Reginald với Reginald.

* * *

Joseph dắt theo chú chó Mark cùng mình đi tuần cho bớt cô đơn. Sắc xanh nhợt nhạt của bầu trời khiến ông cảm thấy thật buồn bã và uể oải, cũng may mà có anh bạn bốn chân này bên cạnh.

-Mark, đứng yên!

Hai bàn tay buốt cóng của Joseph khó khăn nhấc bao diêm ra khỏi túi áo. Ông định đưa điếu thuốc lên miệng và châm — bỗng một ngọn gió tạt qua, ngọn lửa cháy vào tay Joseph. Giật mình, cảnh sát trưởng đánh rơi cả hộp diêm xuống đất.

– Của nợ! – Joseph bực tức cúi xuống nhặt.

Mark chợt sủa lên inh ỏi.

– Yên nào! – Joseph làm một hơi, quát con chó ngu ngốc chưa già nhưng đã lú lẫn. – …

Một cô gái mặc váy trắng đứng lặng yên, không xa đằng sau Joseph mà ông không hề hay biết. Cô ta cứ như đột nhiên xuất hiện từ trong không khí, chẳng tạo bất cứ tiếng động nào.
Hình như Joseph đã nhìn thấy cô ấy ở đâu đó, nhưng ông không tài nào nhớ ra nổi. Ngoài trời lạnh như vậy mà chiếc váy cô mặc thì mỏng tang, hai cái quai nhỏ cứ treo hững hờ trên vai. Joseph không muốn tỏ ra là một kẻ đê tiện và khiếm nhã, nhưng nó mỏng quá. Từng đường nét trên cơ thể cô gái ấy hiện lên, chỉ vừa đủ để khơi gợi trí tò mò của một người làm bố đơn thân đã quá lâu. Xung quanh Joseph không có nhiều phụ nữ — và nếu có đi nữa, cũng chẳng ai đủ xinh đẹp hay gợi cảm để mặc lên thứ quần áo này. Xem ra đây cũng là một cái gì đó khá tươi mát dành cho đôi mắt cảnh sát trưởng.

– Có vấn đề gì không thưa cô? – Joseph lắc đầu, mắt đổi ngay vị trí nhìn lên trán cô gái thay vì ngực cô.

– …

Cô gái ấy ghì lấy đầu của Joseph mà hôn ông ta. Mọi chuyện xảy ra quá bất ngờ, nồng nhiệt đến mức cảnh sát trưởng không kịp phản ứng. Mà thật lòng, Joseph chẳng muốn dừng lại chút nào, nhưng lý trí của ông vẫn còn tồn tại đâu đó, và nó đang cố gắng đấu tranh một cách yếu ớt.

– Không… – Joseph cố thoát ra khỏi đôi môi mềm mại đang vồ vập lên làn da khô ráp của mình.

– Đến với em nào, Joseph… – Cô gái váy trắng cất lên tiếng cười lanh lảnh. Giọng nói và ánh mắt của cô ta thật ma mị, thật quyến rũ.

Cô ta đẩy cảnh sát trưởng xuống vỉa hè, hai bàn tay giật chiếc áo khoác của ông ra một cách dễ dàng. Cô nhẹ nhàng vuốt lên mái tóc Joseph, rồi xuống tới cổ, tới ngực ông và tiếp tục xuống thêm nữa. Gió rét cứ thi nhau cuộn tới nhưng Joseph thì cảm thấy nóng ran hết người. Hơi thở lạnh lẽo của cô ta vừa nhấc khỏi, ông vội vã ngẩng đầu theo, thốt lên đầy tiếc nuối:

– Đừng…

“Sao mày lại nói thế? *** mày, Joseph!”

Cảnh sát trưởng bị cưỡng hiếp bởi một cô gái? Ông đâu có từ chối. Cô ta trèo lên người Joseph và kéo chiếc dây váy trễ quá vai. Joseph nguyền rủa lý trí, ông đặt tay lên cô, cảm nhận sự mềm mại của da thịt người con gái quá mức lả lơi này. Người đàn ông ghì chặt lấy người đàn bà, rên rỉ theo từng nhịp trượt dài hừng hực đến vô lý.

– Gần tới rồi, Joseph… – Joseph nghe thấy tiếng thì thầm ngọt ngào của cô gái bên tai.

Tiếng sủa của Mark làm cảnh sát trưởng tỉnh dậy. Joseph sợ hãi nhớ lại cảnh tượng khủng khiếp vừa trải qua với cô gái kỳ lạ, nhận ra mình đã ngủ quên ngoài đường, vào buổi sáng sớm buốt hơi sương, với điếu thuốc lá cháy chỉ còn lại tàn và đống diêm vương vãi dưới chân. Quần áo của Joseph vẫn nguyên vẹn trên người ông, chẳng có ai ở đó cả. Phải chăng ông lại vừa trải qua một đợt ảo giác, một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ – hệt như những lần trước? Chỉ là, lần này, sao lần này đen tối tới vậy?

– Đi nào. – Joseph dắt Mark về đồn, vừa đi vừa tự cười mình. Ông lấy nốt điếu thuốc lá may mắn cuối cùng trong bao ra và hút, hy vọng vụ án kết thúc càng nhanh càng tốt. Đầu óc ông cảnh sát chưa già mà đã lú lẫn hết rồi.

* * *

– Này nhóc.

– Gì vậy? – Olivia giật mình trước tiếng gọi đột ngột.

Reginald chờ cho con bé ăn xong mới lên tiếng. Sự im lìm và tiếng thở dài của anh ta thật sự rất khó chịu, nhưng Olivia đã dần quen với chúng.

– Ta đã suy nghĩ rất nhiều, và… – Reginald cảm thấy khó nói. – Thật ra cũng không có gì quan trọng lắm nhưng…

– Ngài muốn nói cái gì nào? – Olivia thấy bức bối vì sự nhập nhằng trong lời của Reginald. Cứ hễ có chuyện gì nghiêm trọng là ngài ấy sẽ lại úp mở như vậy.

– Chuyện hơi dài dòng và phức tạp…

– Ngài phải kể chứ!

Reginald hít một hơi để lấy bình tĩnh. Nhìn vào đôi mắt Olivia, những kỷ niệm ùa về trong anh ta.

– Khi còn nhỏ, ta từng quen một cô gái sở hữu mái tóc nâu hơi xoăn và đôi mắt xanh lam. Khoảng thế kỷ mười chín thì phải…

– Mối tình đầu của ngài à? – Olivia hồn nhiên hỏi.

– Không! – Reginald gắt. – Ngươi trật tự ngay nếu muốn ta kể!

– …

– Tên cô ấy là Desdemona Elizabeth van Schoolderwalt. – Reginald nói nhỏ. – Ngươi biết điều đặc biệt ở Desdemona là gì không?

Nhận ra mức độ nghiêm túc của Reginald, Olivia lắc đầu tỏ ý không biết.

– Ngươi và cô ấy trông khá giống nhau. – Ánh mắt của Reginald lướt qua Olivia. – Tất nhiên, Desdemona không…

Olivia vô thức đưa tay lên miệng và cắn, cảm thấy hơi bất ngờ khi một chuyện như thế mà Reginald lại giấu đến tận bây giờ.

– Ta vô tình quen Desdemona nhờ bạn ta, Robert Goldman. Robert và Desdemona mới là mối tình đầu của nhau. – Reginald chợt mỉm cười. Anh ta cười vì sự ngộ nghĩnh và trong trẻo của tình yêu tuổi mới lớn.

Đứa nhóc nín thở, hy vọng rằng đó sẽ là một câu chuyện thật kịch tính và gay cấn. Độ tuổi mơ mộng khiến nó có khả năng lãng mạn hóa gần như tất cả mọi chuyện.

Reginald thay đổi tư thế ngồi của mình, rồi tiếp tục trở lại:

– Mona — chúng ta hay gọi cô ấy như thế — sống ở Anh cùng với cha mẹ mình, ngay trên mảnh đất của Tử tước Goldman, tức là cha bạn ta. Cha cô ấy là Diederik van Schoolderwalt, thương nhân hoa Tuilip.

– Nơi đó ở đâu vậy, Reginald? – Olivia tò mò.

– Cypress Hill, nằm ở phía Tây-bắc, gần vùng thung lũng. Mona cùng Robert luôn cưỡi ngựa tới gặp ta vào mỗi buổi chiều, tại khu rừng trên đồi.

Olivia nuốt khan. Mục đích của câu chuyện này rốt cuộc là gì?

– Ngài có thể cho tôi biết, Desdemona có liên quan gì tới tôi? Tới gia đình tôi?

– Nếu xét về mặt thời gian và thế hệ, ta đoán Mona có thể là bà của ngươi, bên họ cha thì chính xác hơn.

– Tại sao vậy?

– Vì ngài van Schoolderwalt có một người em sống ở Paris, còn ông thì ở Anh nên chắc chắn không thể là cụ cố của ngươi được.

– Bà Desdemona có con hay cháu không, Reginald? Họ còn sống? – Olivia vội vã túm vào tay áo Reginald. Ngài ấy không thể cứ gieo giắc hy vọng lên đứa trẻ này rồi lại vùi giập ngay đi được. – Nói cho tôi đi!

– Desdemona có một người con trai…

Ánh mắt của Reginald chợt trùng xuống. Biết điều mình sắp sửa nói ra sẽ khiến Olivia tuyệt vọng, anh xoa đầu con bé.

– Vậy ông ấy còn sống chứ? Tôi muốn biết liệu ông ấy có chút thông tin gì về họ hàng bên mẹ mình…

– Ta không rõ, Olivia… Ta đã bỏ rơi đứa trẻ đó từ lúc nó còn rất nhỏ. – Reginald bẽ bàng nói.

– Cái gì? Ngài nghiêm túc không? – Olivia chợt nổi giận. – Sao ngài…?

– Olivia, ngươi không hiểu! Ta không còn sự lựa chọn nào khác! Nếu ta không đem cậu bé ấy đi, cha ta sẽ giết nó mất.

– Chết tiệt! – Olivia khóc, đấm vào tay Reginald. Chuyện này thật quá sức tưởng tượng! Rốt cuộc cha của Reginald là một người đàn ông như thế nào mà lại tàn nhẫn đến mức đó.

– Cha ta giết Diederik, rồi bắt giam con gái ông ta. Lúc ấy Mona đang có thai với Robert, còn cậu ta chẳng rõ đã bỏ đi từ bao giờ. Ta đã cố xin cha nhưng…

Reginald chợt ngừng lại, cố gắng giữ bình tĩnh.

– Cha ta không lấy máu của đứa bé, bởi ông ta biết nó sẽ trở thành một nhà giả kim. Với loài của bọn ta, hút máu nhà giả kim đồng nghĩa với tự sát. Đứa con của Mona chẳng đem lại lợi ích gì, nên cha đã quyết định trừ khử nó. Ta không thể để điều đó xảy ra! Ta mang con của Mona đi và tìm người nhận nuôi nó, hy vọng điều may mắn sẽ đến với nó. Ta đặt tên đứa bé là Robert Goldman Jr, mong đó là manh mối giúp hai cha con họ tìm được nhau.

Olivia gục đầu xuống bàn, cầm lấy bàn tay Reginald, nắm chặt lại. Trạng thái lúc này của nó có thể là phẫn nộ hoặc đau xót, hoặc là cả hai, Reginald cũng không rõ.

– Sau này ta tới châu Phi và có gặp lại hai cha con Robert, ngươi không biết ta vui đến mức nào khi nhìn thấy họ đoàn tụ đâu! Nhưng, đó cũng là lần cuối cùng ta nhìn thấy bạn ta cùng con trai cậu ấy…

– Tôi không tin cha ngài lại có thể ác độc đến thế… – Olivia hy vọng có một nguyên nhân sâu xa khiến cha Reginald làm vậy, chứ không phải là vì một sở thích bệnh hoạn bẩm sinh.

Reginald hơi chau mày, đuôi mắt anh ép chặt vào nhau những nét đau khổ.

– Cha ngài làm tổn thương ngài? Ông ta đã làm gì ngài? – Olivia hỏi nhỏ.

Reginald lắc đầu.

– Thật ra thì, cha ta là người thích được tự tay chăm sóc cho con mình và muốn mọi thứ trong lâu đài này phải ngăn nắp. Một người cha luôn hôn lên trán từng đứa con một và chúc chúng ngủ ngon mỗi sáng sớm…

Olivia chau mày.

–Nghe có vẻ, hoàn hảo quá?

– Ta cũng không hiểu, Olivia. – Reginald nói nhỏ. – Đó là lý do tại sao ta muốn ngươi đề cao cảnh giác với bất cứ ai ngươi gặp. Có những kẻ tưởng như rất quyến rũ, luôn khiến người khác cảm thấy được yêu và được quan tâm. Ngươi thấy họ thật là ngọt ngào và dễ làm quen, nhưng thật khó để trở nên thân thiết. Kiểu người này rất nguy hiểm, Olivia. Khả năng thu phục cảm xúc của họ rất cao và họ biết lợi dụng điều đó để đạt được thứ mình muốn.

Olivia chợt nghĩ đến Renato, con bé không hiểu tại sao, nhưng những lời Reginald nói khiến nó liên tưởng đến hắn.

– Những người như Renato?

– Những người như Renato, như cha ta, và như Joseph.

– Chú Joe? – Olivia chợt thấy Reginald cảnh giác quá mức. Ông cảnh sát trưởng việc gì phải thao túng người khác, đâu phải là Joseph có âm mưu sâu xa nào.

Reginald khẽ lắc đầu chán nản. Olivia vốn cả tin và nhiệt tình, tuổi lại nhỏ — cũng chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó chỉ thấy được mặt nổi của tảng băng.

– Mà Reginald này, tôi thấy cũng khó thân thiết với ngài lắm đấy! – Olivia cười cợt. – Ngài dẫn tôi đi tới chỗ của Desdemona ngày trước được không?

– Hôm nay ngươi không phải đi học chứ?

– Không. – Olivia lắc đầu.

– Vậy thì mặc thêm áo vào.

Olivia nhảy lên vì vui mừng, tim đập mạnh trong niềm phấn khích. Một tay con bé cầm áo khoác, tay kia ôm lấy Reginald mà kéo anh ta đi ra khỏi cửa. Vậy là lại thêm một chuyến phiêu lưu nữa trong cuộc hành trình đi tìm người thân đang chờ Olivia.

* * *

Renato ngồi tựa vào khung cửa sổ, chơi cây đàn ghi-ta. Mỗi lần những âm trầm vang lên, hắn lại đệm thêm vài nốt cao ngân nga. Tiếng nhạc tuy chậm rãi mà mộc mạc, gây cảm giác bồng bềnh. Earlene nhìn lên đầu Renato, vết sẹo chằng chịt đường chỉ khiến cô không thể nhịn được cười — nhưng rồi cô chợt cảm thấy có lỗi, dù rõ ràng cô chẳng gây tội gì. Renato ngồi một mình một xó, chơi bản nhạc nào đó có lẽ là do hắn ta tự nghĩ ra, cứ chốc lại thở dài. Tiếng đàn nghe thật là hoài niệm và đi thẳng vào trong trái tim Earlene, khiến cô thấy nôn nao và man mác buồn.

– Anh đang nhớ Olivia? – Earlene chống tay lên cằm, đung đưa vai theo giai điệu.

Renato thở dài, đảo mắt nhìn ả tóc vàng. Earlene nói đúng, nhưng hắn không muốn thừa nhận.

– Anh có thôi tơ tưởng về Olivia đi được không?

– Cô nói thì hay lắm, chẳng phải chính cô ngày trước cũng bám riết lấy một ông già như Reginald? Lúc đó cô bao nhiêu tuổi nhỉ, mười sáu hay mười bảy? Cô không hiểu được cảm giác của tôi thì đừng can thiệp vào.

Earlene chợt nổi nóng. Ai mà ngờ Renato lại lôi chuyện giữa cô và Reginald ra để bao biện.

– Phải, tôi không hiểu. Tôi chẳng hiểu tại sao đàn ông các người kẻ nào cũng đói khát như kẻ nào! Hơn nữa, tình cảm giữa Reginald và tôi hoàn toàn trong sáng. Reginald là một quý ông, một quý ông hèn hạ — nhưng vẫn là quý ông.

– Trong sáng đến mức cô kêu cô muốn moi cả tim của hắn ra?

Earlene á khẩu. Mọi chuyện có vẻ đã đi hơi xa so với mục đích ban đầu của nó. Dù có nói thế nào đi nữa thì Renato vẫn là kẻ nắm đằng chuôi.

– Ít nhất thì anh vẫn phải chờ Olivia lớn hơn, và hỏi con bé trước. Lỡ có chuyện gì… Anh có thật sự yêu Olivia không hay đó chỉ là những thứ ham muốn tầm thường? Nếu anh yêu con bé — nếu anh thật lòng yêu nó, anh đã…

Nói tới đây, giọng Earlene nghẹn lại. Chính cô cũng đâu biết tình yêu đích thực là gì, khi mà người đàn ông trao nhiều quan tâm cho cô nhất còn phũ phàng vứt bỏ cô đi.

Đặt ghita xuống bên cạnh, Renato hướng về phía Earlene và nhìn cô bằng ánh mắt ủ rũ, đối lập hẳn với vẻ quỷ quyệt thường ngày.

– Livie là bồ câu nhỏ, tiên nữ nhỏ2 của tôi… Tôi đã nói với cô rồi, Earlene. Cô không thể hiếu được cảm giác của tôi đâu. Ngay từ lần đầu tiên tôi nhìn thấy Livie, có gì đó thôi thúc tôi phải bảo vệ và che chở cho con bé. Tôi chăm sóc cho Bồ câu nhỏ, ở bên cạnh nó, trò chuyện với nó và nhìn nó lớn lên từng chút một mỗi ngày… Tôi không thể để nàng tiên của mình trở thành một thiếu nữ người trần bị trói buộc trong mớ luân lý tầm thường được!

“Tiên nữ nhỏ cơ đấy!” – Earlene rùng mình. Vậy là Renato không thích trái xanh, hắn thích trái chín sơ; và trái chín sơ ấy phải là quả dại, phải coi việc yêu hắn như là chuyện hít thở hàng ngày? Nếu đúng là thế, chắc chắn người như cô sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều gì diễn ra sâu xa trong bộ óc suy đồi của những gã như Renato.

2


Nguyên văn: Nymph. Trong thần thoại Hy Lạp và La Mã, tiên nữ là một linh hồn có hình dạng của một cô gái nhỏ xinh đẹp và quyến rũ; thường sống trong rừng, hang động, gần thác nước… và hay bị các nam thần, đàn ông nhòm ngó. Có thể tham khảo câu chuyện
Tiên nữ Daphne tự biến mình thành cây nguyệt quế để thoát khỏi Apollo. Renato dùng từ “tiên nữ nhỏ” có ý ám chỉ Olivia là một đứa trẻ phát triển ham muốn sớm so với tuổi, còn hắn là “nạn nhân” bị quyến rũ.

Renato siết chặt bàn tay lên khung cửa. Những hồi tưởng về quá khứ giữa hắn và Olivia trở về, khiến tim hắn thắt lại khi hình dung ra sự biến đổi của Olivia, khiến hắn không tin nổi vào mắt mình khi Livie bé nhỏ ngày nào bỗng chốc biến mất. Rốt cuộc, điều gì phải đến rồi cũng đến, và Renato đem lòng si mê Olivia từ lúc nào không hay.

Mamo không thể rời mắt khỏi cặp hông bắt đầu trở nên nở nang và gò ngực mới nhú nhấp nhô sau lớp áo ngủ mỏng manh của Bồ câu nhỏ. Hắn thèm được hôn cô bé mỗi ngày, được ôm trọn cơ thể âm ấm của Olivia kề sát bên da thịt mình, muốn ngắm nhìn gương mặt ấy rụt rè mỗi khi nó ngả lưng trên nền ga trắng nơi giường hắn. Còn gì tuyệt vời hơn việc được cùng Livie khiêu vũ trong khu vườn địa đàng mà cả hai tạo ra, ngây ngất tới bất tỉnh bởi hương thơm êm ái và dịch ngọt của thứ hoa trái tội lỗi này?

Nhưng thời gian trôi đi, Livie của hắn mỗi ngày một lớn và dần trở nên khó xử hơn trước những cái động chạm “vô tình” của Mamo. Livie bắt đầu biết ngại ngùng lấy tay che đi đường cong kém hoàn thiện trên thân thể mình khi gã si tình ấy quỳ xuống ve vuốt bắp chân em bên bồn tắm. Livie biết quay mặt đi khi anh yêu kề môi hắn đớp lấy hơi thở nóng hổi của em. Livie bắt đầu tò mò về thứ được gọi là trinh tiết của người con gái. Livie đã biết sợ hãi sự hư hỏng mà thứ “tình yêu” của Mamo mang lại. Livie khóc, Livie nấp xuống gầm giường, Livie trốn vào tủ áo.

Rồi Livie biến mất, chẳng nói với hắn một lời nào!

Sự hụt hẫng dâng lên, cảm giác nhung nhớ khiến ruột gan Renato bồn chồn và cuồng loạn. Renato không thể xa cô bé nửa bước. Livie phải mãi mãi là chú chim bồ câu bé nhỏ của hắn, để hắn có thể ân cần chăm sóc em mỗi ngày! Tại sao Livie không thể vô tư như trước? Tại sao em không còn muốn vui đùa bên anh yêu của mình?

– Đó là lúc tôi nhận ra giữa tôi và Livie không thể như xưa được nữa. Có lẽ nó cũng không còn là tình yêu nữa, mà là sự cuồng đắm thì đúng hơn. Tôi tôn thờ con bé, tôi tôn thờ nàng tiên ấy.

Earlene không biết phải phản ứng ra sao với tình huống oái oăm này. Được một người đàn ông yêu đến phát điên vì mình, nghe vừa lãng mạn mà cũng thật khó tin. Một bên là kẻ mang trong mình thứ dục vọng lệch lạc đến tréo ngoe, một bên là con người lạnh nhạt, hờ hững; cô chẳng mong muốn thứ tình yêu nào kể trên cả. Tại sao lũ đàn ông kẻ nào cũng cố tỏ ra chúng là nạn nhân trong những mối quan hệ đổ vỡ? Chẳng lẽ chỉ mình chúng mới bị tổn thương, bị lợi dụng, còn những người con gái thì không?

– Nghe qụy lụy quá… – Cô tóc vàng mỉa mai. Nhận ta suýt nữa thì đã bị hắn xỏ mũi.

Renato thở dài.

– Tôi nói điều này với cô vì tôi không tin Reginald “ông thánh” thật sự trong sáng như cô nói. Tôi đời nào để Livie đi dễ dàng như vậy, nhưng tôi muốn xem quý ông đạo đức kia giữ mình được bao lâu.

– Tôi không hiểu tiếng Ý cho lắm, nhưng khi ở bên người gần gũi với mình họ thường nói Cara mia phải không? – Earlene lảng sang chuyện khác sau lời “thú nhận” thật quá ướt át và tội lỗi đến rợn người của Renato. Cô tò mò về giai điệu mộc mạc và bài hát khi nãy. Phần nhạc khá hay nhưng giọng hắn quá tệ. – Bài hát đó anh tự sáng tác ra hả? Nó về cái gì vậy?

– Cô biết để làm gì. Cũng sắp sáng rồi, tôi nên đi ngủ… – Renato nhìn qua tấm rèm cửa, nhận ra bầu trời màu xanh xám nhờ nhờ đang dần chuyển sang sắc trắng. Lúc này hắn muốn được ở một mình. – Mia cara3 mới đúng.

3


Trong bài hát, cấu trúc được Renato đảo ngược lại thành Cara mia với hàm ý tự giễu bên cạnh mục đích gieo vần – vì hắn biết rõ mình và Olivia khó có thể ở bên nhau, chuyện tình cảm giữa cả hai sẽ chẳng đi về đâu và không bao giờ được chấp nhận, nhưng hắn vẫn không thể rũ bỏ.

– Tôi nghĩ tôi nên tránh xa người như anh. – Earlene buột miệng nói. Kể từ ngày có được máu của Reginald, cô nhận ra mình lại thay đổi ít nhiều.

– Giá như người con gái của tôi cũng giữ được nét tiên lâu lâu — tới khi tôi chết đi — thì tuyệt biết mấy. – Renato lờ đi lời vừa rồi, rời phòng. Earlene muốn gì, nghĩ gì thì mặc kệ ả. Bước qua cánh cửa, hắn chợt nhớ lại khoảng thời gian dạy Olivia học tiếng Ý.

– Mamo, cái này có nghĩa là gì vậy? – Olivia chỉ vào cuốn sách, hơi mỉm cười nhìn Renato.

– “Mio” và “mia” dùng để chỉ những gì mình có. Ví dụ như cái bút “của ta” hay ngôi nhà “của ta”.

– “Ragazza” có nghĩa là “cô gái” đúng không? Nếu muốn nói “cô gái của tôi” thì ta dùng “mia ragazza”?

– Phải rồi, “La mia ragazza”, “cô gái của ta”.

Renato vuốt mái tóc Olivia để khen ngợi. Nó thật mềm mại, hương thơm cũng dễ chịu vô cùng. Mỗi lần ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng ấy, Renato lại ngỡ hắn đang đứng trước một cánh đồng oải hương bạt ngàn nơi nước Pháp, giữa một ngày nắng đẹp, mây xanh và gió lộng mát mẻ như bàn tay người thiếu nữ nhẹ nhàng vuốt ve.

Renato hơi tì cằm lên đầu Olivia, cảm giác được những sợi tóc tơ mềm mại cọ xát trên cằm mình thật là kỳ lạ. Có cái gì đó chợt sôi sục lên trong người Renato, nó len lỏi rất nhanh qua từng mạch máu của hắn, làm tim hắn bỗng đập nhanh và hỗn loạn đến lạ thường.

“La mia ragazza…” – Renato thầm nghĩ. – “Colomba mia…”

* * *

Trở về nhà, Joseph ngay lập tức đi vào phòng tắm, mở vòi trong bồn. Cảnh sát trưởng muốn quên hết những gì đã xảy ra trong cái trí tưởng tượng bé nhỏ và tầm thường của mình. Trong lúc chờ nước dâng đầy, ông mở tủ tìm dao cạo râu. Bắt gặp lọ thuốc mà bác sĩ Connor kê cho nằm im lìm trong tủ, Joseph mới nhớ ra hôm nay là ngày hẹn tái khám. Có lẽ, sau khi tắm xong ông nên tới gặp anh ta.

Co chân ngâm mình trong bồn, hơi nước bốc lên làm cảnh sát trưởng cảm thấy buồn ngủ. Đôi mắt ông vừa khẽ nhắm lại — và trớ trêu thay, hình ảnh cô gái váy trắng đó lại hiện ra, sống động như thể đang ở ngay trước mắt Joseph, cùng nằm trong chiếc bồn này với ông.

– Đây là mơ… – Joseph nói khẽ, tay chạm vào tóc cô gái. Nếu cô ta không có thật thì thứ ông cầm lúc này chỉ là không khí.

Cô ta hôn lên cổ Joseph, nụ hôn thật mãnh liệt mà không kém phần đau đớn — nhưng chẳng thể nào Joseph dứt ra được. Chiếc váy trắng giống hệt cái ông mua ở Paris, vốn để dành cho người vợ mảnh mai của mình. Ông chỉ mua vì nghĩ Charlotte mặc vào sẽ trông thật là xinh. Cô gái này lại có một thể hình tròn trịa đầy gợi cảm tính dục — và chiếc váy ôm sát nghiễm nhiên trở thành một thứ công cụ hoàn hảo để khoe hết mọi đường nét một cách vừa kín đáo vừa khêu gợi, đánh thức dậy mọi thứ cảm xúc và bản năng bẩn thỉu nhất trong người đàn ông. Joseph nhận ra cổ ông ta đang chảy máu. Từng giọt, từng giọt một rơi xuống hòa lẫn với nước trong bồn.

Joseph giật mình tỉnh dậy, sợ hãi vơ lấy đống quần áo mặc vào, chạy ra khỏi nhà. Cảnh sát trưởng muốn đi đâu đó càng xa nơi quỷ quái này càng tốt, bệnh viện tâm thần cũng được, ít ra ở đó còn có nhiều người hơn ở đây.

– Chào Bác sĩ Connor. – Joseph gõ cửa phòng làm việc mở toang của Harrold.

Harrold đã chờ Joseph được một lúc, việc trễ hẹn có vẻ không đúng cho lắm.

– Chào cảnh sát trưởng. Ông tới hơi muộn?

– Xin lỗi, tôi—ngủ quên mất. – Cảnh sát trưởng ngại ngùng viện cớ. Thật không giống ông chút nào.

– Chúng ta ngồi xuống và nói chuyện luôn được chứ?

– Tất nhiên, mời ông…


"Phần 18.2. Cara mia, Caro Mio (My dear) " bởi iamDage
* * *

Chiếc xe ngựa đưa Olivia và Reginald đi theo con đường mòn băng qua khu rừng trên đồi dẫn tới Cypress Hill. Gã ma cà rồng nhìn ra bên ngoài. Cảnh vật ở đây đã thay đổi nhiều. Anh không chắc chắn cho lắm với quyết định của bản thân, vì suy cho cùng, kể cả Olivia có biết về gia đình Desdemona cũng đâu thay đổi được chuyện đã xảy ra. Điều này có lẽ giúp ích cho Reginald hơn là giúp con bé. Việc công khai tội lỗi của cha mình với người nhà van Schoolderwalt giúp anh thanh thản hơn là việc giúp Olivia biết thêm chút ít về gia đình nó.

Thấy Reginald có vẻ không tập trung, Olivia khẽ hỏi:

– Ngài nghĩ gì vậy?

– Ta chỉ đang nhớ lại thời gian cả ba chúng ta còn chơi với nhau ở đây vào mỗi buổi chiều tối. Đó là lúc ta được tự do đi lại nhưng những đứa trẻ như Robert và Mona phải về nhà.

– Ngài thật sự nhớ bạn mình nhỉ. Mà chúng ta sắp đến nơi chưa?

– Olivia, đã gần một thế kỷ trôi qua rồi, ta không nghĩ nhà của Desdemona giờ còn nữa đâu. Ta chỉ dắt ngươi đi vì muốn thay đổi không khí…

– Tôi biết. – Olivia nói nhỏ. – Nhưng tôi tò mò! Ngài kể cho tôi thêm về người bạn Robert của ngài được không?

– Ngươi muốn biết điều gì về cậu ấy?

– Bất cứ thứ gì ngài cảm thấy đặc biệt.

Reginald bặm môi, cố gắng suy nghĩ một chút. Có quá nhiều kỷ niệm thăng-trầm, anh không biết nên kể chuyện gì.

– Thì, Robert rất thông minh và cực kỳ say mê Hóa học. Cha cậu là một Tử tước, cai quản vùng đất ở rìa. Phía Đông nam và vùng giữa thì thuộc về cha ta, ngươi biết cái lâu đài ở Forest Hill rồi đó. Ta và Robert quen nhau nhờ những bữa tiệc được tầng lớp quý tộc tổ chức hàng tháng.

– Tôi hiểu rồi. – Olivia gật đầu. – Vậy nhà của Tử tước Goldman còn chứ?

Reginald không nói gì, chỉ còn vài thước nữa là ra khỏi cánh rừng và Olivia sẽ được tận mắt nhìn thấy điều con bé muốn thấy. Chiếc xe phanh lại, anh ta nhấc Olivia xuống và dắt nó ra đường lớn. Sau quãng đi bộ không quá dài ấy, Reginald dừng chân, chờ đợi phản ứng của đứa trẻ.

Đứng bên dưới chiếc cổng sắt sơn xanh khổng lồ, đôi mắt con bé chăm chú ngắm dinh thự của cố Tử tước.

– Lâu đài của ngài to hơn và lạnh lẽo hơn…

– Ngươi muốn lại gần và tham quan kĩ hơn chứ?

– Sao lại không! – Olivia hào hứng, chạy vọt lên phía trước.

Tử tước Goldman sở hữu một dinh thự ba tầng được xây dựng theo phong cách Georgian. Ngôi nhà chủ yếu sơn màu trắng; có kết cấu rất dứt khoát và vững chãi, tạo cảm giác dễ chịu cho những người xa lạ; hoàn toàn trái ngược với tòa lâu đài đá nằm đơn độc trên đồi của Reginald.

Vô tình ngước lên, Reginald chợt nhận ra có ai đó đang lén lút nhìn mình qua ô cửa sổ tầng hai. Anh giật mình, quay lại tìm Olivia, gọi khẽ:

– Olivia.

– Gì vậy?

Reginald chưa kịp tiếp lời, từ trong tòa dinh thự, một người đàn ông chạy băng qua sân vườn trước, lao thẳng về phía hai vị khách không mời. Người này có một đôi mắt rất kỳ lạ: một bên màu nâu, bên còn lại màu xanh lam giống như Olivia. Đáp lại sự vồn vã ấy, Reginald không cười, ánh mắt còn có phần ngạc nhiên và bối rối.

– Bác Reg? – Người hai màu mắt chỉ đứng cách Reginald có năm bước, nở nụ cười, môi dưới vẫn còn run.

– Robert? Robert Jr? – Reginald không chớp mắt.

– Chúa ơi, đúng là bác rồi! – Robert Jr mở toang cánh cổng, ôm chầm lấy Reginald mà thốt lên. – Lâu quá rồi!

– Bác nhớ cháu lắm. – Reginald nhẹ nhàng nói. – Không ngờ cháu lại ở đây.

Chợt Robert nhìn về phía Olivia:

– Cô bé này là ai vậy?

– Olivia van Schoolderwalt. Rất vui được gặp ngài! – Olivia cầm lấy tay Robert, lắc mạnh.

– Cháu không thể tin được! Bác vào trong đi, cha cháu sẽ mừng lắm cho mà xem!

Olivia nhìn theo ông ta đang phấn khởi kéo tay Reginald vào nhà, cảm thấy đôi chút ngại ngùng. Tại sao? Con của Desdemona giờ này cũng phải có tuổi rồi chứ?

Bước vào bên trong, con bé thốt lên đầy thích thú trước cách bài trí nội thất của của cố Tử tước, trước những cột trụ vòm được chạm khắc vài nét sổ thẳng mềm mại đầy tao nhã dùng làm điểm nhấn cho các lối rẽ trong nhà. Phông nền tường vàng trắng nhẹ nhàng cùng lớp sàn gỗ nâu vàng sáng loáng một lần nữa khẳng định phong cách sang trọng gắn liền với tính giản dị của chủ nhân. Olivia thấy thấp thoáng ở phía trước có một người đang ngồi trên chiếc xe lăn bằng gỗ và húng hắng ho. Ông ta mặc đồ đen, đeo găng trắng — cũng giống như Robert Jr và Reginald.

– Cha, xem ai tới này! – Robert Jr nói mà không giấu nổi sự mừng rỡ. Anh lại gần, quỳ một bên gối xuống nền nhà và xoay xe lăn lại .

– …

Người đàn ông già ngước lên nhìn hai vị khách, đôi mắt chợt đỏ hoe. Cái miệng đã hằn quá nhiều nếp nhăn của Robert mấp máy. Ông đưa hai cánh tay khẳng khiu ôm chầm lấy Reginald. Cái ôm ấy kéo dài phải tới vài giây. Cả hai ghì chặt lấy nhau, vỗ nhẹ vào lưng người đối diện. Họ xúc động tới mức chẳng nói nên lời, hoặc cũng có thể vì cảm thấy không cần phải nói gì cả. Chỉ cần một hành động như vậy, đủ chứng tỏ tình bạn của Robert và Reginald sâu đậm tới nhường nào.

– Chúa ơi, tớ không biết phải nói thế nào nữa! – Robert lấy tay gạt nước mắt, cất giọng run run và khàn đặc của tuổi già.

– Tớ đã quay lại đó để tìm cậu, nhưng chẳng còn ai ở đó cả. – Giọng nói đều đều thường ngày của Reginald bỗng biến đâu mất, giờ chỉ còn thứ âm thanh run rẩy đầy xúc động.

Nhìn vào cô bé có mái tóc nâu xù và đôi mắt xanh lam kia, trái tim của Robert Goldman chợt rung động. Ông cảm thấy mình cứ như vừa trở về tuổi mười bảy mơ mộng bên Desdemona.

– Reginald, tớ già cả nên hoa mắt hay điều tớ nhìn thấy là thật?

Reginald ái ngại. Anh biết vẻ ngoài của Olivia có thể khiến cho Robert hiểu lầm, hoặc tồi tệ hơn, khơi gợi lại những kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau buồn của cậu ấy.

– Đó không phải là ảo giác, nhưng điều cậu thấy không hẳn là điều cậu thấy đâu. Đây là Olivia, con bé đi với tớ.

– Cô bé có nhiều nét giống Mona thật.

Robert vẫn chưa hết bàng hoàng. Năm giây trước, một ý nghĩ điên rồ chợt vụt qua đầu ông ta rằng cha của Reginald đã khiến người con gái ông yêu trở thành ma cà rồng. Chỉ như vậy mới có thể lý giải cho việc tại sao Desdemona lại đứng trước mặt ông, bằng xương bằng thịt, mà vẫn trẻ trung đến thế. Nhưng sau khi trấn tĩnh lại, ông nhận ra cô bé đó hoàn toàn không phải Mona.

– Đúng là nhìn qua thì cũng giống nhau nhỉ. – Reginald cười.

Thấy đôi mắt tròn xoe của Olivia cứ hướng mãi vào Robert mà không chớp, Reginald gõ nhẹ vào vai nhóc:

– Ngồi xuống đi. Robert là người tiếp xúc nhiều nhất với Desdemona và cha cô ấy, biết đâu ngài van Schoolderwalt đã chia sẻ cho cậu ta một số chuyện về gia đình mình thì sao.

Olivia giật mình sau cái chạm tay của Reginald. Thứ cảm xúc đang ngập tràn này thật khó để diễn đạt thành lời! Chưa bao giờ đứa trẻ nghĩ những mối quan hệ giữa ông Robert và bà Desdemona, giữa Reginald và cha ngài ấy lại phức tạp đến thế. Reginald đã hứa sẽ giúp con bé tìm hiểu về gốc gác của mình với hết khả năng có thể, nhưng sự giúp đỡ này hơi mong manh. Nó ghi nhận lòng tốt của anh, tuy nhiên, khoảng cách thế hệ giữa Olivia với Robert thật quá xa vời.

Robert nhận ra sự hụt hẫng về mặt tinh thần của Olivia. Ông khẽ mỉm cười, lấy từ túi áo ra một chiếc bút máy.

– Cháu nhận ra cây bút này, phải không? – Robert nhẹ nhàng đặt nó xuống bàn.

– Cháu có một cái giống hệt! – Olivia thốt lên khi nhìn thấy chiếc bút đen đó. Cứ như ông Robert lấy nó ra từ va li của nó vậy. Tuy nhiên, bút của Olivia mới hơn vì con bé chẳng mấy khi dùng — trong khi cái ông Robert đang cầm đã bị trầy xước nhiều.

– Cháu có bao giờ thắc mắc cây bút đấy từ đâu mà ra không? – Robert tiếp tục hỏi bằng một giọng nói ấm áp và khoan thai.

– Cháu không biết, cháu chỉ nghĩ nó là một kỷ vật mà ai đó muốn cháu giữ bên mình, khi họ bỏ cháu ở trại mồ côi…

– Cây bút ta đang cầm thuộc về Diederik van Schoolderwalt. Ông ấy đã nhờ Reginald trao nó cho ta, như một món quà dành cho người mà con gái ông muốn lấy làm chồng. Sở dĩ có hai chiếc bút giống nhau là vì Diederik có một người em tên Emerens. Có lẽ bố của cháu đã giữ chiếc bút còn lại từ cha mình, và…

– Và ông ấy muốn cháu giữ nó, như một cơ hội nho nhỏ tìm lại gia đình? – Olivia nghẹn ngào.

– Phải. – Robert gật đầu. – Và ta muốn cháu biết điều này nữa, Olivia: Emerens và Diederik là người Hà Lan.

Hai từ “người Hà Lan” như một tia chớp bất ngờ đánh qua tim Olivia. Kể từ lúc sinh ra tới giờ, từ đầu tiên cô bé nói là tiếng Pháp, thứ đầu tiên in trong trí óc cô bé là tháp Eiffel. Nhưng, đâu phải vô lý khi từ lâu đã có người thắc mắc rằng tại sao lại có một con bé Pháp mang chữ “van” trong họ của mình.

Olivia ôm lấy đầu.

– Gia đình cháu có gốc Hà Lan?

– Emerens lấy vợ Pháp, vì thế… – Robert nhẹ nhàng đặt tay lên vai Olivia.

Olivia run rẩy. Chuyến đi lần này không hề vô ích — và cái tên của con bé, tâm sự của Reginald, cái chết của những người cùng chung dòng máu với đứa trẻ ấy… mọi thứ gần như đã được sáng tỏ hết. Nó chỉ không rõ liệu bố mẹ mình còn sống hay đã…

* * *

– (…) Những triệu chứng như buồn ngủ vào ban ngày, mệt mỏi, mất ngủ về đêm, lo âu… xuất hiện với tần suất cao ở người bị mộng du, ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và cuộc sống của họ. – Bác sĩ Connor nói chầm chậm, nghe rất buồn ngủ.

Joseph nghĩ về những lần ông ta thức giấc trong bàng hoàng, những lần ông mệt bã người mà không thể nào nhắm mắt nổi dù đã nằm lên giường. Cảnh sát trưởng là một người bị mộng du và con gái ông ta cũng vậy, nhưng tình trạng của ông tồi tệ hơn Jules rất nhiều. Lần nào tỉnh dậy Joseph cũng thấy khắp người đầy vết trầy xước và bầm tím, tự hỏi mình đã làm những gì trong lúc lang thang ngoài đường.

– Tôi hiểu tính chất công việc của ông. Hầu như mộng du đều diễn ra vào ban đêm và diễn biến tồi tệ hơn khi bệnh nhân có sức khỏe kém hoặc gặp chuyện căng thẳng. Điều này hết sức bình thường. Cũng có nhiều trường hợp, người bệnh trở nên sợ ngủ vì họ lo mình sẽ lại mộng du hoặc gây nguy hiểm khi đang mộng du. – Harrold nhìn vào đôi mắt thâm quầng, trũng sâu xuống của Joseph. – Cái chúng ta cần là giải pháp giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ và giúp tâm trí ông trở nên thoải mái hơn, còn thuốc chỉ có tác dụng hỗ trợ trong quá trình điều trị.

Joseph che miệng ngáp, tỏ ra không chú ý đến những gì bác sĩ Connor nói. Ngón tay trỏ và giữa của ông ta liên tục động đậy trên mặt bàn.

– Sao vậy? Joseph, ông cảm thấy phương pháp của tôi không phù hợp? – Connor có cảm giác bị xem nhẹ khi Joseph cứ phớt lờ như vậy.

– Không, chỉ là… – Joseph cố nén cơn nghiện thuốc lá đang tra tấn cổ họng mình lại. – Chỗ thuốc ấy khiến tôi kém tập trung và chán ăn. Thỉnh thoảng, tôi lại nhìn thấy ảo giác hay ác mộng, tôi không rõ nữa…

– Phải, chúng có thể có một số tác dụng phụ ảnh hưởng đến khả năng vận động, ăn uống và tình dục của người dùng. – Connor khẽ gật đầu. Suýt chút nữa anh ta hiểu lầm cảnh sát trưởng. – Ông gặp ảo giác lâu chưa? Thường thì những người bị mộng du không hay gặp ảo giác hoặc ác mộng, nên tôi nghi ngờ có thể là do vấn đề bệnh lý khác.

– Mới gần đây thôi. – Joseph nuốt khan, cố nhớ lại những lần thức dậy bên vỉa hè, những cuộc trò chuyện kỳ lạ với ngài thị trưởng, và tất nhiên là cả cuộc vui vừa đau đớn vừa khoan khoái bên cô gái váy trắng.

– Làm ơn cụ thể hơn được không?

– Tôi không muốn nói về nó lắm… – Joseph ngại ngùng.

– Joseph, tôi là người chuyên nghiệp. – Connor khẽ nhấc gọng kính lên. – Tôi cam đoan với ông mọi nguyên tắc bảo mật giữa bác sĩ và bệnh nhân; những lời nói của tôi đều mang tính xây dựng thay vì chỉ trích, phán xét.

– Tôi mơ… ướt át. Ngớ ngẩn thôi!

– Không, không có gì là ngớ ngẩn cả. Những giấc mơ có thể tiết lộ cho ta nhiều thứ. – Harrold lắc đầu. – Thế giới nội tâm con người là một nơi vô cùng phong phú và ẩn chứa nhiều điều kỳ lạ khó giải thích. Có nhiều giả thuyết cho rằng giấc mơ là sự tái hiện trong lúc ngủ những điều ta mong muốn, phiền muộn hay thù ghét ở cuộc sống thực. Giấc mơ tình ái cũng không ngoại lệ.

– Được rồi… – Joseph chỉ nói như vậy để lấp chỗ trống. Điều cuối cùng ông mong muốn lúc này là một bài thuyết trình dông dài sặc mùi giả trí thức về não bộ hay tâm linh.

Harrold chống tay lên cằm và ngẫm nghĩ, tỏ ra hoàn toàn nghiêm túc trong vấn đề giải đáp. Dáng vẻ ngập ngừng và mệt mỏi của cảnh sát trưởng càng khiến vị bác sĩ tin rằng bệnh nhân của mình thật sự có chuyện lo lắng mà không biết phải giải tỏa như thế nào.

– Trong giấc mơ, ông làm chuyện đó với ai?

– Tôi không rõ. Cô ấy không giống người tôi biết.

– Ông bị ép hay ông thích thú việc đó?

– Cô ấy là người chủ động… Tôi không sẵn sàng cho lắm nhưng rốt cuộc tôi vẫn hưởng ứng. Không hẳn là bị ép buộc nhưng…

– Nhưng cô ta tạo ra sự hưng phấn cho ông, đúng không? Mặc dù cô ta là người lạ?

– Nói như vậy cũng được — dù luôn có cái gì đó khá quen thuộc ở cô gái này, phải chăng là vì chiếc váy?

– Chiếc váy? – Connor ngạc nhiên.

– Món quà tôi chưa có cơ hội tặng vợ mình. – Joseph buồn bã đáp.

Bác sĩ Connor đặt bút xuống, cầm vào cổ tay đang run rẩy của Joseph. Mớ kiến thức sách vở anh ta học được và kinh nghiệm với những người bệnh khiến Harrold nhanh chóng đưa ra kết luận:

– Nghiện thuốc lá, công việc căng thẳng, hàng loạt cú sốc tinh thần do những người mình yêu quý lần lượt qua đời, những lo âu thái quá cho cuộc sống của chính mình và sự an toàn của con gái mình… Ông đang cố tự đấu tranh khỏi những cám dỗ và lo âu. Theo tôi đó là lý do khiến ông mệt mỏi.
Ông thấy mặc cảm tội lỗi trước những điều ông chưa làm được trong quá khứ, cùng với những thứ khiến ông bị trì hoãn trong cuộc sống hiện tại. Ông đã vượt qua được những bài kiểm tra tâm lý học cảnh sát nên tôi tin ông đủ mạnh mẽ, tỉnh táo và quyết tâm để vực mình đứng dậy…

Joseph thấy lời nói của Harrold hơi sáo rỗng và giả tạo nên bỏ mặc ngoài tai, chỉ hy vọng cuộc nói chuyện này hãy kết thúc thật nhanh để còn được cầm điếu thuốc lá. Nội quy cấm hút thuốc ở bệnh viện thật là đáng nguyền rủa. Nếu không được hút ngay bây giờ, ông sợ đầu mình sẽ “nổ tung” bất cứ lúc nào và chẳng thèm đếm xỉa đến thứ gì xung quanh nữa.
Thật ra, không phải bác sĩ nói sai hoàn toàn — thậm chí có vẻ mỉa mai là đằng khác — nhưng điều đó chỉ khiến cho Joseph càng thêm căm ghét bản thân hơn.

“Harrold nói tới đâu rồi?”

– … hiểu chứ? Ông có thể chơi một số môn thể thao hoặc vận động nhẹ nhàng vào buổi sáng sớm để cải thiện giấc ngủ và giúp tinh thần thêm thoải mái.

– Tôi từng nâng tạ. – Joseph nghe thấy loáng thoáng cái gì đó về việc chơi thể thao. – Nhưng tôi cũng thích làm vườn.

– Thế cũng được. – Harrold mỉm cười. – Đây là một quá trình rất dài, cần phải có sự quyết tâm và kiên trì vì kết quả không thể ngày một ngày hai mà đã đạt được, nhất là với chứng mộng du. Nhưng tôi tin ở ông, Joseph, và tôi tin một lối sống lành mạnh có thể giúp khắc phục. Đừng nên quá phụ thuộc vào thuốc.

– Cảm ơn, bác sĩ Connor. – Joseph cầm lấy đơn thuốc và đứng dậy, không quên bắt tay Harrold. – Tạm biệt.

Harrold tiễn bệnh nhân của mình ra khỏi phòng rồi đóng cửa lại. Bác sĩ giở qua chồng hồ sơ bệnh án, số lượng người rối loạn tâm thần vì rượu đã giảm đi đáng kể là một dấu hiệu đáng mừng cho sự thay đổi về ý thức của mọi người, nhưng điều khiến anh ta lo lắng hơn là tình trạng người bị mộng du và rối loạn hành vi lại ngày một tăng.

Joseph dừng chân trước lối vào khu giam giữ những bệnh nhân tâm thần. Ông nhìn nhanh xung quanh để chắc chắn rằng không có ai ở đó chứng kiến việc làm của mình, rồi nhanh chóng đẩy cửa lẻn vào trong. Bước chân cảnh sát trưởng mỗi lúc một vội hơn. Những kẻ điên ở đây khiến ông cảm thấy không thoải mái. Người ở buồng bên trái đang gào hét lên thảm thiết, rồi hắn đứng xoay người từ trên thành giường, lao đầu xuống đất; còn người bên phải thì nhổ vào áo Joseph, cất tiếng cười ha hả. Cảnh sát trưởng đứng lại khi trước mặt ông chỉ còn là một bức tường. Đã tới buồng giam cuối cùng – buồng giam của một người đàn ông râu tóc lòa xòa đang không ngớt lẩm bẩm gì đó trong miệng.

– Xin chào, Barret! Nhớ tôi chứ? – Joseph tặng cho gã một nụ cười khinh khỉnh, ngắm nhìn bộ dạng hôi hám và bẩn thỉu trước mắt với vẻ hả hê. Chợt, những con bọ bò ra từ đống bát đĩa làm ông rùng mình.

Barret nhìn bộ đồng phục của Joseph. Gã không biết người đàn ông đang đứng trước mặt mình là ai, nhưng có cái nét gì đó ở Joseph khá quen.

– Có lẽ cái này sẽ làm ông nhớ lại…

Joseph nhẹ nhàng kéo cao tay áo. Khoảnh khắc Barret nhìn thấy hai cánh tay biến dạng một cách thảm hại ấy, đôi môi gã chợt mấp máy, tròng mắt gã lung lay và hai tay không ngừng run rẩy.

– Kẻ cuồng phóng hỏa? – Barret thốt lên. Đây là thằng nhãi Joseph? Nó đã già đến thế rồi?

– Đúng rồi, ông hơi chậm nhỉ. – Joseph ngồi xuống, tựa lưng vào chấn song và rút một điếu thuốc lá ra đốt. – “Cảnh sát viên trưởng Joseph Phan”.

– Mày tới đây làm gì? Để hả hê?

– Tôi nhớ chính ông đã ngồi hút điếu thuốc rồi nhả đống khói hôi hám vào mặt tôi, ngắm nhìn tôi tàn tạ và khốn khổ trong cái xó này. Thật ra thì tôi thấy biết ơn ông nhiều hơn, nhờ cái kết luận “rối loạn tâm thần và hành vi” mà tôi vẫn còn giữ được mạng.

– *** *** – Barret lầm bầm cái gì đó, có vẻ hằn học. Khi không có ai ở đây ngoài Joseph, gã có vẻ khá “bình thường” — ít nhất là bình thường hơn so với những gì đã thể hiện trước mặt Harrold và Reginald.

– Nói, chửi thề tùy ý… Hồi còn ở đây tôi cũng chẳng biết làm gì ngoài nguyền rủa thằng chó đẻ nào đã tống tôi vào nhà thương điên đâu, cảnh sát trưởng ạ. – Joseph khẽ đẩy khói thuốc ra và tiếp tục hút. – Mà phải là cựu cảnh sát trưởng mới đúng, vì giờ tôi là người điều hành chỗ đó rồi.

– Joseph, mày chỉ là một thằng nhãi ranh vắt mũi chưa sạch cố tỏ ra trải đời và lọc lõi thôi! Mày đê tiện, trục lợi, hai mặt và mày không đủ tư cách để làm cảnh sát!

– Vậy ông thì đủ? – Joseph bật cười, ngửa hai tay lên. – Ông biết điều thú vị ở chỗ nào không, Barret? Tôi là người rạch ròi giữa cảm xúc và lý trí. Để giải quyết mọi chuyện một cách êm đẹp nhất thì một hai cánh tay xấu xí này đã thấm vào đâu. Chỉ cần một ngọn lửa, và “bùm”. Mọi thứ về chúng ta bốc hơi ngay lập tức.
Tôi sang Pháp học hành, chơi bời vui vẻ một chút rồi trở về đây. Đám cảnh sát giờ này chẳng biết ông là ai, những người trong bệnh viện này cũng chỉ coi ông là một thằng điên như bao kẻ khác. Ngoài việc tôi lấy vợ Pháp, chả ai biết Joseph “Thuan Van” Phan là thằng quái nào cả.

– Cứ tự đắc khi mày còn có thể, Joseph. Mày nghĩ rằng mày lạnh lùng và lý trí lắm, nên mày luôn đi trước một bước và mọi kế hoạch của mày đều hoàn hảo. Nhưng mày nên nhớ: Bá tước biết mọi thứ và ngài có thể nhìn thấu từng bước mày đi, từng lời mày nói. Bá tước mới thật sự là người đàn ông phía sau bàn cờ, còn chúng ta chỉ là những con rối để ngài ấy giật dây khi buồn chán mà thôi…

– Vậy thì chúng ta sẽ chờ xem ai là người chơi trụ lại cuối cùng. – Joseph đứng dậy, ghé thầm vào tai Barret.

Cảnh sát trưởng cứ thế đi qua những buồng giam, không thèm liếc mắt lần hai nhìn lũ tâm thần đang nằm vật vờ ở đó và chực chờ nhổ thêm vài bãi nữa vào tay áo vải khaki.

– Cứ tận hưởng cuộc đời khốn khổ của mày ở đây khi còn có thể! – Joseph nói nhỏ trong lúc bước qua cánh cổng bệnh viện tâm thần Forest Hill.

Nhìn lên những đám mây càng về chiều càng thêm đen đặc lại, Joseph đoán trời sắp mưa. Ông nên rời đi nhanh nếu không muốn bị ướt.

* * *

Robert Goldman mời Reginald và Olivia ở lại dùng bữa, biến cả ngày hôm đó thành một cuộc tái ngộ ôn chuyện cũ. Trái ngược với bầu không khí vui vẻ giữa gia đình chủ nhà với đứa trẻ hao hao Mona, Reginald không muốn góp mình vào cho lắm. Toàn là những ký ức mà gã ma cà rồng thấy chẳng tốt đẹp gì, thậm chí còn muốn quên đi. Olivia thỉnh thoảng lại liếc sang Reginald vài lần, có lẽ vì muốn nói gì đó với gã hoặc chỉ muốn gã mở lời — nhưng rồi cái ánh mắt đăm đăm ấy lại khiến con bé chùn bước. Reginald đoán Olivia thật sự muốn anh hòa mình với mọi người, nhưng anh chỉ đơn giản là không thể. Reginald cũng có nhiều điều cần trao đổi với Robert — nhưng không phải ở đây, không phải lúc này, khi Olivia đang ở bên cạnh.

– Cháu cảm ơn, ngài Goldman. Cháu rất cảm kích với những điều ngài đã chia sẻ. – Olivia nói nhỏ, ngại rằng vẻ ngoài giống Desdemona của mình đã khiến Robert không thoải mái.

– Cứ gọi ta là “ông Robert”, Olivia. – Robert cười lớn, xoa lên mái tóc xoăn bù xù. – Đâu phải lúc nào cũng được gặp thành viên phía gia đình Mona. Cháu gái của Mona cũng là cháu gái của ta, đừng khách sáo.

– Vâng, ông Robert! – Olivia cười tươi. – Nếu không gặp ông, cháu không biết mình sẽ phải sống cùng với những nỗi băn khoăn đến bao lâu nữa. Những lời của ông đã tiếp cho cháu thêm động lực, cháu nhất định sẽ tìm ra nguồn gốc của mình.

Robert nhìn về phía Reginald, nhận ra anh bạn của mình bỗng trở nên lo lắng và u ám hẳn khi Olivia đề cập tới việc đi tìm gia đình cô bé. Ông nhanh chóng quay đi, mỉm cười với Olivia:

– Ta mừng vì giúp được cháu.

– Thời gian trôi nhanh quá, chúng ta đã ngồi ở đây cả ngày rồi… – Reginald chỉ vào chiếc đồng hồ cầm tay của mình, viện cớ cho việc anh ta muốn trở về nhà.

– Nhưng tôi còn nhiều điều muốn nói với ông Robert mà! – Olivia nhõng nhẽo.

– Muộn rồi, đi về kẻo mưa. – Reginald dứt khoát nói.

Olivia đành miễn cưỡng đứng dậy và ôm lấy ông Robert. Cô bé vẫy tay chào tạm biệt rồi đi theo Reginald ra ngoài.

– Tạm biệt ông, cháu và Reginald sẽ còn tới thăm ông!

– Tạm biệt, Robert. – Reginald ra về cầm theo ô, tự mình đóng cửa.

– Tạm biệt Olivia, nhớ lễ phép với Reginald đấy.

Reginald và Olivia lại bước lên xe ngựa. Trong suốt quãng thời gian trên đường, Reginald cúi đầu, không nói với con bé một câu nào; cũng không thở dài, không tiếp xúc bằng mắt nữa.

Reginald muốn xuống xe tại gần đường rừng Forest Hill và tự đi bộ về. Từng trận gió cuộn vòng qua hai bên sườn núi, làm lung lay những ngọn cây cao vút. Olivia rùng mình tiến sát lại gần Reginald hơn, hy vọng vạt áo dài của anh ta có thể chắn bớt gió.

– Sao vừa nãy ngài lại lấy đồng hồ ra? Nó hỏng mà. – Olivia tỏ ra không vui. Cô bé có cảm giác Reginald cố ý làm vậy để bỏ đi.

– Chiều muộn rồi, nhóc. – Reginald trả lời bâng quơ, đút tay vào túi áo.

– Tại sao chuyện quan trọng như vậy mà giờ phút này ngài mới tiết lộ? Ngài giấu tôi suốt mấy tháng trời, và nếu chẳng có gì xảy ra ngài còn giấu tôi bao lâu nữa?

Một hạt bụi bay vào mắt Olivia, con bé đưa tay lên dụi, khiến Reginald tưởng mình lại làm gì không phải. Anh định lên tiếng nhưng rồi quyết định giữ im lặng. Thật khó để nói cho Olivia hiểu. Mọi chuyện phức tạp hơn thế nhiều và anh không thể nào giải thích hết cho con bé được, tại sao nó không chịu hiểu cho anh?

– Reginald, sao ngài lúc nào cũng… – Olivia muốn tìm một từ gì đó bằng tiếng Anh để miêu tả sự khó đoán và kín kẽ của Reginald.

– Đa nghi? – Anh nhìn Olivia.

– Đúng. Sao ngài lúc nào cũng đa nghi? Tôi không đáng tin? Tôi muốn chúng ta là bạn của nhau — như ngài với ông Robert. – Olivia gãi đầu, rồi không hiểu điều gì xui khiến, một ý nghĩ tiêu cực chợt nảy sinh. – Có phải ngài sợ?

– Sợ gì? – Reginald thấy Olivia nói chuyện chẳng đâu vào đâu.

– Nếu tôi đi tìm gia đình của mình, ngài sẽ không muốn gặp tôi nữa?

– Ai bảo ngươi thế?

– Tôi chỉ đoán, sau những gì ngài đã làm với chị Earlene… Tôi là trẻ mồ côi, tôi biết nhiều thứ. Đừng có nghĩ tôi là trẻ con mà không biết gì… – Olivia cúi đầu xuống mà nói lí nhí, sợ phải nhìn thấy gương mặt Reginald lúc này. – Ngài biết là tôi quý ngài mà… Tôi không muốn một ngày nào đó chúng ta nhìn thấy nhau và tiếp tục bước đi, coi như chẳng quen biết.

– Nói vớ vẩn là giỏi! – Reginald ấn vào đầu Olivia mà bật cười. Anh ta cười ngoài mặt nhưng trong lòng thì không.

– Tôi nói thật mà!

Reginald đưa Olivia trở về lâu đài. Sau chuyến đi ấy, cô bé không những không thấy mệt mà còn được tiếp thêm sức để tra tấn Reginald bằng những câu hỏi không đâu.

– Tôi không hiểu, sao con của Desdemona lại trẻ như vậy? Tại sao ông Robert vẫn còn sống? Có phải họ cũng là ma cà rồng không?

– Các nhà giả kim, họ được như vậy là nhờ hòn đá triết gia.

– Ý ngài là gì? – Olivia chau mày.

– Ý ta là họ không bất tử được như ma cà rồng, mà cần tới sự can thiệp khác để kéo dài tuổi thọ.

– Thật sao? – Olivia băn khoăn. – Con người cũng sống lâu được như vậy? Khó tin lắm!

– Nhóc, ngươi sống cùng ma cà rồng, hàng xóm của ngươi là ma sói, vậy mà ngươi không tin vào sự tồn tại của nhà giả kim? – Reginald cốc vào đầu đứa nhóc ngây ngô.

– Ngài biết không, tôi chợt nhận ra hình như tôi là người bình thường duy nhất ngài quen đấy!

– Vậy ngươi hãy cảm thấy vui mừng. Thế giới ngoài kia cá lớn nuốt cá bé, làm người bình thường có khi lại hay. – Reginald nói nhỏ. Đôi khi, anh thấy mình không chỉ ghen tị với sự ngây thơ của Olivia mà còn vì cuộc sống thật “người thường” của nó.

– Ông nội Reginald! – Olivia cười vào thứ “định luật cuộc đời” ấy.

Reginald ngồi, liếc nhìn Olivia rồi lại tì cằm lên đôi tay. Anh đã tự thề với lòng mình không bao giờ được vướng vào bất cứ mối liên hệ nào với con người — vậy mà cuối cùng vẫn chẳng tài nào thoát nổi. Reginald muốn Olivia ở đây, muốn chăm sóc cho nó và đảm bảo rằng cả cuộc đời này đứa nhóc ấy sẽ không bao giờ phải chịu thêm một vết thương nào nữa. Nhưng con bé đâu cần anh. Sau tất cả những gì đã trải qua, nó chỉ muốn tìm về với ngôi nhà nó cho là thuộc về nó, chẳng mảy may nghĩ về khoảng trống nó sẽ để lại trong lòng kẻ vô vọng này. Một đứa trẻ vô ơn làm sao! Reginald việc gì phải chăm lo cho kẻ vô ơn với mình? Cớ gì Reginald vẫn muốn chăm lo cho thứ vô tình ấy? Tình yêu anh dành cho nó cao thượng đến thế? Mà, nếu anh yêu thương nó một cách cao thượng, đáng ra anh nên để cho nó được tự do chứ? Rốt cuộc thì như thế nào mới là điều “đúng đắn” và “nên làm”?

* * *

Reginald để Olivia ở lại trông nhà; còn mình thì mang ô, đi bộ tới văn phòng của ngài thị trưởng – người đàn ông mà Reginald mới phát hiện cách đây không lâu chính là cha ruột. Cho tới thời điểm hiện tại, Reginald vẫn chưa thể vượt qua được cú lật kèo ngoạn mục này của ông ta.

Gió mỗi lúc một to, nước càng lúc càng xối xả. Hàng triệu giọt mưa bay chéo, rơi lộp độp trên đất, tạo thành những bọt nước trắng xóa bắn ướt gấu quần Reginald. Gió lùa qua ống tay áo anh, anh rùng mình. Thỉnh thoảng, một vài cơn thổi mạnh đến nỗi hất ngược cả ô lên, và toàn bộ nước mưa cứ thế trút vào gã ma cà rồng.

Reginald treo ô trên giá, bước lên cầu thang tầng hai và gõ cửa phòng làm việc của thị trưởng.

– Mời vào. – Ông già râu xám vẫn cất lên chất giọng nhẹ nhàng quen thuộc. Khuôn mặt ông chợt thay đổi khi trông thấy bộ dạng ướt như chuột lội của Reginald. – Chào Reginald, nhìn con kìa!

– Chào Arthur. – Reginald không tỏ ra vui mừng hay quan tâm cho lắm.

– Ta không muốn con gọi cha mình bằng tên như vậy, không lễ phép chút nào.

Ngài thị trưởng mở tủ, tìm một chiếc khăn cho Reginald lau khô người. Trái với sự tận tình của cha, Reginald mặc kệ ông ta, không buồn cầm lấy.

– Đầu tóc bù xù, áo quần xộc xệch, gây gổ, sinh hoạt thiếu nề nếp… rời ta ra một cái là con buông tuồng ngay lập tức. Ngồi xuống đi, con trai. Ta không ngạc nhiên nếu tòa lâu đài giờ này trông như cái chuồng lợn đâu.

– Chúng ta nói chuyện đủ rồi, hôm nay tôi tới đây là để giải quyết cho xong… – Reginald đặt tờ giấy chuyển nhượng quyền giám hộ Olivia lên bàn. – Ông làm việc của ông và không gì khác.

– … Vậy hả.

Arthur lẳng lặng đeo kính lên và lấy giấy bút ra viết. Ông ta viết rất nhanh, nét chữ vẫn mềm mại và bay bướm, không giống như của một ông già run tay vào tuổi này. Reginald nhìn vào đôi bàn tay của cha mình — đôi bàn tay đã từng cầm lấy bút và hướng cho anh ta viết từng chữ một, cũng là đôi bàn tay ông vẫn dùng để ôm lấy trán Reginald và hôn chúc anh ngủ ngon. Càng hoài niệm, đôi mắt Reginald lại càng đỏ lên vì những gì Arthur đã làm. Tại sao cha vẫn cư xử dịu dàng và coi mọi thứ bình thường như chưa hề có gì xảy ra — sau từng ấy chuyện và từng ấy năm qua?

– Của con đây. – Arthur mỉm cười, đưa tờ giấy cho Reginald.

Reginald hơi cúi xuống để nhìn xem nội dung ngài thị trưởng viết là gì, rồi gấp tờ giấy làm tư và cất vào ví. Nhớ tới lời nói của Barret khi Reginald chia tay gã ở bệnh viện tâm thần, anh nhìn vào đôi mắt của cha, khẽ thở dài và nói:

– Vậy, ngài Bá tước nói rằng ông ta nhớ tôi?

– Tên Barret chắc dọa con sợ chết khiếp nhỉ! – Arthur bật cười. – Nghe này Reginald, ta biết mọi chuyện không dễ dàng đối với con, nhưng ta tin thời gian sẽ chữa lành mọi thứ, hãy để quá khứ là quá khứ đi. Ta chỉ mong con hiểu rằng dù cho có chuyện gì xảy ra đi nữa — sâu thẳm trong trái tim ta — con vẫn là Reginald bé bỏng cần ta bên cạnh để chăm sóc.

Nói đến đó, Arthur cầm lấy chiếc khăn bông khi nãy nhẹ nhàng lau cho con. Reginald ngồi im lặng, không đẩy ông ra xa nhưng cũng không mong muốn sự quan tâm giả dối đó.

– Đừng cứng đầu như vậy, con không thể bướng bỉnh mãi đâu. – Arthur mỉm cười và hôn lên trán Reginald. – Con sẽ chấp nhận người cha già này, chỉ là chưa phải hôm nay thôi.

– …

– Ta thật sự rất nhớ con, con trai. – Arthur ôm lấy Reginald và vỗ nhẹ vào lưng con trai. Ông ta ôm con mình rất chặt và rất lâu, hệt như cách nó và Robert ôm nhau.

“Nhưng tôi thì không…” – Reginald thầm nghĩ.

– – – – – – HẾT PHẦN 18 – – – – – –


"Phần 19. Loa kèn trắng" bởi iamDage
Forest Hill, mùa đông năm 1878 — tại phòng biệt giam lạnh lẽo và chật chội nằm sâu hút phía cuối của bệnh viện tâm thần Forest Hill — có một cậu bé nằm run rẩy trên chiếc giường ọp ẹp, cánh tay trái quấn chặt lớp băng tanh mùi máu và mủ vàng. Cậu hít thở một cách nặng nề, hướng đôi mắt sưng vù về phía ô cửa sổ nhỏ – nguồn ánh sáng yếu ớt duy nhất cho căn phòng. Cậu khóc, không nức nở hay thổn thức, chỉ có những giọt nước mắt lặng lẽ lăn qua thái dương rồi rơi xuống làm ướt một mảng gối. Mỗi ngày, từng lớp da thịt trên tay chân cậu lại tróc thêm một mảng, mang theo thứ dịch nhầy nhụa và cảm giác ngứa nhức đến rợn người. Người ta cho cậu nghỉ ngơi và sử dụng một số loại thuốc chống nhiễm trùng; nhờ có cái lạnh tê tái của mùa đông, cơn đau cũng bớt đi được phần nào.

Mùa thu năm 1877, một ngôi nhà nhỏ ở vùng thung lũng đột nhiên bốc cháy. Cặp vợ chồng cùng đứa con trai duy nhất của họ bị mắc kẹt bên trong, nhưng tuyệt nhiên, không một ai lên tiếng kêu cứu.

Đứa con trai được chứng nhận có những biểu hiện không ổn định về tâm lý, căn cứ vào những tràng cười ha hả nó tuôn ra mỗi khi có người hỏi về cha mẹ nó. Cả Tòa án cùng bác sĩ quản lí bệnh viện tâm thần ra quyết định: thằng bé sẽ bị giam tại bệnh viện tâm thần Forest Hill.

– Chào buổi sáng, Joseph. – Một giọng nói nhẹ nhàng cất lên phía sau cánh cửa phòng giam, sau đó là tiếng chía khóa lạch xạch và tiếng chốt va vào tấm kim loại. – Xem ai tới thăm cháu này.

Joseph nhìn thấy một người đàn ông mặc đồng phục cảnh sát.


* * *

Joseph dập điếu thuốc lá đang cháy lên chiếc gạt tàn, khẽ lùi ra sau vài bước. Bức tường trong phòng cảnh sát trưởng được dán kín bởi thông tin về những vụ cắn xé với nghi phạm là John-Michael Arlington. Đáng ghét thay, John-Michael đã chết trước khi người ta có thể bắt giữ và tra khảo hắn. Cảnh sát Croydon đã gửi hồ sơ khám nghiệm thi thể John-Michael, kết quả xét nghiệm giả định1 cho dương tính nhưng họ lại không đồng ý rằng hắn là kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm. Joseph đảm nhận vụ án Arlington, nó vốn xảy ra ở khu vực thuộc quản lý của ông.

1

Thử nghiệm xúc tác (Catalytic tests) là một trong những phương pháp phổ biến để phát hiện vết máu trong hiện trường vào những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Chất xúc tác được dùng thường là Benzidine có khả năng bẻ gãy chuỗi Hydrogen peroxide trong máu, khiến vết ố chuyển thành màu xanh. Phương pháp ấy thường xảy ra hai trường hợp: một là cho ra kết quả âm tính – tức đó không phải máu, hoặc dương tính – có khả năng là máu. Tuy nhiên, nhiều loại enzyme và kim loại khác cũng cho kết quả dương tính, chính vì lý do đó nó được gọi là thử nghiệm mang tính “giả định”. Cho tới nay, Catalytic test đã không còn được sử dụng.

Tài liệu được tham khảo từ Blood Detection – Chemical Methods, Wikipedia, The Biological Crime Scene và CAC News.

John-Michael bị giết bởi một vết chém trên cổ. Xương sườn thứ ba, bốn và năm của hắn bị gãy; xương cổ chân rạn. Có ba dấu vân tay tại hiện trường: một thuộc về hắn, một đã được xác nhận trùng khớp với dấu vân tay trong hồ sơ của Allan Harrison và chưa rõ danh tính dấu còn lại thuộc về ai. Tuy nhiên, có tới bốn vết giày khác nhau được tìm thấy.

Bất cứ kẻ nào đã giết John-Michael, dù là vì mục đich cá nhân, thì hắn cũng đã thay mặt cảnh sát tiêu diệt bớt một mối nguy hại cho cộng đồng. Hay đó chỉ là điều hắn muốn mọi người nghĩ? Ma cà rồng là loài có sức mạnh phi thường, sinh vật nào đủ khỏe để hạ được chúng? Allan đã biến mất một khoảng thời gian ngắn trước khi xác John-Michael được phát hiện, điều đó càng củng cố cho giả thuyết cậu tóc đỏ vì quá sợ hãi hoặc lo rằng việc làm của mình sẽ bị truy tố nên đã bỏ trốn. Lệnh tìm Allan đã được phát rất lâu kể từ đó, một số báo cáo về việc nhìn thấy Allan cắn cổ người khác cũng được gửi tới, nhưng chúng không có giá trị xác thực nếu không kèm theo bằng chứng nào.

Một cơn đau đột nhiên nhói lên khắp vùng trán và thái dương của Joseph. Những đêm mất ngủ triền miên và suy nghĩ quá nhiều khiến thần kinh ông lúc nào cũng trong trạng thái căng thẳng cực độ. Bốn dấu vết, trong đó hai đã biểt, vậy những kẻ còn lại là ai? Tất cả dấu chân quanh hiện trường đều là của nam giới, trừ một vết nhỏ và nông hơn so với số còn lại.

“Một đứa con trai nhẹ cân?” – Ông chau mày. Một đứa trẻ thì làm gì ở túp lều đó?

Joseph đối chiếu dấu tay với vết giày nhỏ, và ông bật cười. Bàn tay ấy tròn trịa, bé và mảnh — rõ ràng không phải là tay của con trai. Joseph chợt nghĩ về người hàng xóm ít giao tiếp sống trong tòa lâu đài cũ kĩ và “con gái” của ông ta. Ngày đầu tiên họ tới, tại sao cảnh sát trưởng lại không ý lắm tới việc Olivia mặc áo sơ mi trắng và quần âu rộng thùng thình như một đứa con trai, cùng thái độ bối rối của con bé khi nhìn thấy cảnh sát? Đó chỉ là Joseph đoán mò, ông ta không có chứng cứ cáo buộc nào đủ thuyết phục để bắt giam Reginald hay Olivia. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Reginald vô tội. Joseph đã vài lần úp mở với người hàng xóm của mình, gã có vẻ cố lảng tránh và tỏ ra không quan tâm, nhưng từng ấy là đủ để khiến cảnh sát trưởng nghi ngờ Reginald thật sự đang cố giấu giếm điều gì đó. Chắc chắn gã ấy là Người ngựa, và Người ngựa đã giải nghệ sau trận đánh cuối cùng năm 1887. Cho tới nay, đã hơn hai mươi năm, Reginald vẫn không hề già đi một chút nào.

Mưa to và gió mạnh làm Joseph cảm thấy cô đơn. Ông muốn đi ra ngoài, uống một hai li gì đó để giúp đầu óc sảng khoái hơn, bất chấp tình hình thời tiết.

* * *

– Ta thật sự rất nhớ con, con trai. – Arthur ôm lấy Reginald, vỗ nhẹ vào lưng con trai. Ông ta ôm con mình rất chặt, giống hệt như cái cách nó và Robert đã ôm nhau.

“Nhưng tôi thì không…” – Reginald thầm nghĩ.

– Thôi nào, ngồi lại đây một lúc đi. Con định về vào lúc này — khi ngoài trời mưa to như vậy — và để bản thân tiếp tục bị ướt? Ta không cho phép đâu. – Arthur nhất quyết không chịu buông tha cho Reginald. Bằng mọi giá, ông muốn con trai mình phải ở lại và nói chuyện cùng. – Con có khát không? Chúng ta có thể nhâm nhi gì đó và trò chuyện một lúc, cho đến khi mưa tạnh bớt? Lúc đó con về cũng chưa muộn.

Reginald đã tới gặp thị trưởng, chỉ để làm việc giấy tờ và không có chủ đích nối lại bất cứ tình cảm cha con nào với ông ta. Nhưng Arthur thì khác. Ông ta vô cùng quyết tâm trong việc chinh phục trái tim sắt đá của đứa con trai ngoan cố như chú ngựa hoang này. Chỉ có trò chuyện tâm tình kết hợp với sự mềm dẻo và lòng kiên nhẫn của người cha mới có thể thuần hóa Reginald một lần nữa. Reginald biết cha mình thế nào cũng sẽ bắt anh ngồi xuống và “hoài niệm” một vài thứ gì đó dễ gây mủi lòng, anh sẽ không để bản thân bị lôi kéo. Đứa con chỉ đồng ý một cách miễn cưỡng, dù sao thì ngoài trời mưa cũng to. Arthur có thể ba hoa bất cứ điều gì ông ta muốn, Reginald sẽ bỏ ngoài tai những gì người cha ưa ngụy tạo này muốn gieo rắc vào trong đầu mình.

– Ngồi thẳng lưng lên, Reginald. – Arthur nhìn vào cái lưng đang oằn xuống một cách nghiêm trọng kia. Dù biết đó là vấn đề bẩm sinh, một người có tư thế lòng khòng trông không ra dáng quý ông lịch lãm và oai nghiêm chút nào.

Arthur lấy chiếc bình thủy tinh đựng đầy chất lỏng đặc quánh màu đỏ thẫm đổ ra hai ly, một đưa cho con và một cho mình. Ông khẽ cười với Reginald như cách thông thường để bày tỏ tình cảm và sự thân mật. Có lẽ Arthur thật sự có thiện ý, hoặc ông muốn Reginald tin rằng ông chỉ muốn trao thiện ý cho con trai và không gì hơn. Trong lúc chờ cha gợi chuyện, Reginald lôi ra một bao thuốc lá và hút. Anh ta chỉ muốn chọc tức ông, vì anh biết ngài thị trưởng ghét nhất là khói thuốc lá, ghét cái mùi hôi nồng nặc đặc trưng của chúng.

– Người ta nói rằng mỗi một điếu thuốc sẽ rút ngắn tuổi thọ của con đi một ngày.

Reginald lặng lẽ hút tiếp.

– Con đã sống tới ba thế kỉ rồi mà vẫn cư xử như trẻ con ấy.

Arthur nhìn vào đôi mắt vô hồn trũng sâu xuống của Reginald. Đứa con trai ngây thơ ông yêu mến ngày nào giờ trở nên thật tàn tạ và xấu xí, cả về vẻ ngoài lẫn tâm hồn. Người cha biết rõ từng thói quen, tật xấu một của mỗi đứa con và ông vẫn nhớ chúng: Reginald luôn cắn vào môi dưới mỗi khi nó phải đối mặt với những cảm xúc tiêu cực.

– Ta tự hỏi mình còn phải nhắc nhở con thêm bao nhiêu lần nữa về những thói quen xấu. Con và Olivia sống thế nào? Hẳn là cũng hơi vất vả.

Reginald lấy bàn tay che lên môi mình.

– Ngoại trừ chi phí sưởi ấm cho toàn bộ lâu đài khỉ gió của ông vào mùa đông, chúng tôi ổn.2

– Qua rồi cái thời giới quý tộc được hưởng bổng lộc và chỉ biết tiệc tùng quanh năm nhỉ.3 – Arthur bật cười, tiếc rẻ khu rừng thông đã từng thuộc quyền sở hữu của ông. – Nếu một mình con xoay sở được thì tốt, miễn con và Olivia khỏe mạnh là ta yên tâm. Mỗi lần nhìn thấy cô bé đó, ta lại…

2
Mùa đông ở Anh rất lạnh, việc sưởi ấm cho cả một tòa lâu đài vào thời điểm đó khá khó khăn. Ngay tới bây giờ, con người vẫn cần tới những thiết bị sưởi hiện đại để chống chọi với cái rét và chẳng ai dại bỏ ra một khoản tiền lớn cho những tòa lâu đài được bán với giá rẻ mạt nhưng quá tốn kém để duy trì lâu dài.

3
Trước thế kỷ 19, giới thượng lưu ở Anh gần như không phải đóng một đồng thuế nào. Tài sản được thừa kế (hoặc được ban phát) không những tạo cho họ nguồn thu nhập khổng lồ nhờ lợi tức từ việc cho thuê đất đai cùng lượng người làm thuê dồi dào với giá rẻ mạt, mà còn cả quyền lực chính trị. Điều này bắt đầu thay đổi vào khoảng thể kỉ 19. Tới giữa thể kỉ 20, tầng lớp quý tộc mất hết quyền lợi và phải chịu những khoản thuế nặng nề.

– Ông lại làm sao? – Trong đầu Reginald lúc này chỉ là vài phỏng đoán về những thứ đen tối.

– Cô bé ấy làm ta nhớ tới Desdemona duyên dáng. Chắc chắn không riêng mình ta, bất cứ ai biết tới hai cô bé ấy mà nhìn qua cũng đều ngỡ mình gặp ảo giác… Chả trách con quan tâm tới Olivia nhiều như thế.
Tất nhiên, Desdemona ra dáng một quý cô hơn. Còn Olivia của con, có — hơi lanh ma và bát nháo. Trẻ con mà, nghịch ngợm một chút cũng được.

– Ông tránh xa nhóc đó ra! – Reginald đập tay lên bàn, cha anh giật mình. – Những gì đã xảy ra với Desdemona là quá đủ!

– Bình tĩnh nào! Ta biết con yêu con bé…

Arthur cảm thấy mãn nguyện phần nào trong lòng. Ông ta biết không gì dễ gây kích động cho đứa con này hơn quá khứ về cô gái Desdemona mà nó từng lén lút hôn sau lưng Robert, và đó cũng là cách duy nhất để khiến Reginald “hào hứng” hơn với cuộc nói chuyện.

– Tôi không yêu Mona. – Reginald nói nhỏ lại. – Cô ấy với Robert, bạn tôi.

– Ý ta là ta biết con yêu thương và quan tâm tới Olivia. Những gì đã trải qua khiến con bị ám ảnh với sự lo âu và kiểm soát. Con yêu Olivia rất nhiều, như cái cách ta yêu con vậy: bao bọc quá mức và thiếu tin tưởng.

Reginald im lặng. Arthur thật là khó chịu khi cứ luôn tìm cách xoáy vào nỗi lòng người khác.

– Nhưng điều ta lo lắng, là Olivia liệu có đáp lại tấm lòng con dành cho nó?

– …

* * *

Forest Hill là một thị trấn nhàm chán đối với trẻ em, ở đó chẳng có gì thú vị ngoài những ngôi nhà thưa thớt lốm đốm rêu, ngoài đám cây thông san sát nhau theo địa hình dốc thoai thoải của những ngọn đồi xanh quanh năm bị sương che khuất. Tuy nhiên, người lớn vẫn có thể tìm ra được một hai thú vui để giết thời gian nhàn rỗi của mình, như nháy mắt với đám đàn bà tô son đỏ, đánh má hồng hay đứng ở vỉa hè; hoặc tới câu lạc bộ Jazz ở gần quảng trường để tán gẫu với nhau trong lúc nhâm nhi một vài ly rượu.

Câu lạc bộ ấy là một quán café vào buổi sáng, là một nơi biểu diễn âm nhạc có phục vụ kèm rượu vào buổi tối và đêm. Reginald đã từng chơi kèn Trumpet ở đó, nhưng từ sau lần Earlene tới biểu diễn, anh không còn làm nữa. Chẳng vị khách hay nhân viên nào quan tâm tới việc Reginald vắng mặt mấy, vì anh ta cũng chẳng tỏ ra thân thiện với ai bao giờ.

Ngoài trời đang có mưa lớn, mấy vị khách ngồi lác đác trong quán café phần lớn là vì họ lỡ việc phải vào đây trú mưa. Nhóm nhạc công chơi vài bản nhạc buồn bã ở một góc tường, ngán ngẩm nhìn lượng khách ở quầy đồ uống. Thêm một ngày mưa là thêm một ngày kinh doanh ế ẩm, tiền boa cho người chơi nhạc cũng ngày càng thêm bèo bọt.

– Li nữa? – Nhân viên pha chế nhìn vào chiếc ly thủy tinh đã cạn của cô gái ngồi bên quầy. Cô ta thỉnh thoảng vẫn tới đây, chỉ chọn một loại đồ uống duy nhất và vị trí ngồi duy nhất. Một cô gái luôn đội mũ rộng vành, mặc áo trắng và váy đen. – Tên cô là Gina đúng không?

Gina gật đầu, nhìn về phía đám nhạc công. Đã từng có một người chơi kèn Trumpet ở đó, nhưng giờ cô không thấy nữa.

– Gã Trumpet bị đuổi rồi. Nghe nói là vì hắn say rượu rồi đánh nhau với ai đó. Quản lí ở đây không thích làm việc với những gã như vậy. – Người pha chế đưa cho cô gái chiếc li chứa chiết xuất cây ngải đắng màu xanh lục. – Mà hình như anh ta cũng hay uống Absinthe giống cô? Cô thì tôi không thắc mắc, nhưng nhạc công nghèo kiết! Absinthe không phải thứ dành cho kẻ hèn học làm sang. Nhân tiện nói về sĩ diện…

Gina bỏ ngoài tai những lời tán gẫu của tay phục vụ như mọi khi, tâm trí của cô lúc này chỉ nghĩ về anh chàng nhạc công đã biến mất. Khi anh ta còn làm việc ở đây, cô vẫn luôn chọn một góc khuất để ngồi và lắng nghe những giai điệu mà anh chơi, rồi lặng lẽ rời đi trước khi anh ta tới uống rượu. Cô chưa bao giờ có đủ can đảm để gặp người đàn ông đó trực tiếp hay hỏi tên anh ta. Khi người chơi kèn xuất hiện ở tòa nhà chung để bàn chuyện gì đó với ngài thị trưởng, vì quá sợ hãi và bất ngờ, Gina chọn giải pháp im lặng. Lúc ấy trời mưa rất lớn và anh ta treo chiếc ô của mình trên giá, bên cạnh ô của cô.

Gina muốn đi ra ngoài, cô chỉ định lấy ô rồi sẽ đi ngay lập tức, nhưng có gì đó thôi thúc cô cầm lấy chiếc ô của Reginald. Nó to, và dày hơn bình thường, nếu mang đi thường xuyên thì khá mệt và dễ mỏi tay. Chẳng ai muốn cầm một chiếc ô thô kệch như vậy đi khắp nơi, trừ khi người đó có chủ đích riêng. Gina cố mở chiếc ô ra, nhưng có vật gì đó vướng ở bên trong. Cô nhận ra có một cái nút nhỏ ở phía dưới, ấn vào đó: lớp vỏ bên ngoài cán ô lập tức bật ra, phần vải và khớp nối dùng để che mưa bắn xuống đất, lộ ra một thanh kim loại dài và mảnh bên trong cùng. Bàn tay cô đang ghì chặt vào chiếc cán, bị cứa một đường khi lớp vỏ rơi. Máu từ tay cô bắt đầu chảy, cảm giác nhói đau liền tới. Gina vội lắp ô lại như cũ rồi bỏ ra ngoài, không hề biết rằng mình đã vô tình làm bẩn ô của Reginald.

Gina nhìn vào vết cứa trong lòng bàn tay, khẽ rùng mình. Thanh cán ô chỉ gây ra một vết thương rất mảnh, nhưng nó khiến toàn bộ vùng da xung quanh nhói lên như bị thiêu đốt. Mải suy nghĩ, cô không nhận ra có người vừa đến cạnh quầy rượu.

– Tôi uống gì cũng được, miễn là rượu, mà đừng đắt quá. – Joseph nói với người phục vụ. Rồi ông quay sang, bắt gặp Gina. – Chào Gina.

Gina vẫy tay chào, mỉm cười bẽn lẽn với cảnh sát trưởng. Nhìn vết thương trên trán Joseph, ánh mắt cô chợt trở nên bối rối.

– Đừng lo, nó sắp lành rồi. Em không cần phải cảm thấy áy náy đâu, là lỗi tại tôi. – Joseph cười ngại ngùng. – Lúc ấy tôi chỉ muốn làm em bất ngờ, có vẻ như kế hoạch cũng thành công một nửa… Vậy, em thích chỗ hoa tôi tặng chứ?

Gina gật đầu. Cô cầm lấy bàn tay Joseph, và hôn lên vai ông ta.

– Tôi đoán vậy nghĩa là có. – Joseph cảm thấy nhẹ nhõm.

Joseph nhớ lại buổi tối trước hôm cậu cảnh sát Brook đi tuần phát hiện ra chỗ quan tài đó, ông muốn làm Gina bất ngờ nên đã chuẩn bị một bó hoa và bám theo cô. Trái với dự tính, Gina đánh cảnh sát trưởng bằng một cục đá vì tưởng có kẻ bệnh hoạn nào định bám đuôi mình. Cô đã phải băng bó cho cảnh sát trưởng, nhưng không quên cảm ơn ông vì chỗ hoa.

Joseph nhận lấy li rượu, nhấp một ngụm. Ông định chửi thề vì anh ta đưa cho mình Absinthe – thứ quá tốn tiền – nhưng rồi lại thôi. Có lẽ anh ta nghĩ cảnh sát trưởng với Gina là một cặp, và dù sao thì Joseph cũng đã uống rồi. Vừa mới nhấp được một chút thôi mà ông đã cảm nhận được hơi rượu bốc thẳng lên đầu, nhịp đập khắp từng mạch máu trong cơ thể cảnh sát trưởng mỗi lúc một mạnh và gấp hơn.

* * *

Paul lặng lẽ lau đi những giọt nước mắt rơi xuống chiếc cằm lởm chởm râu của mình, ngắm nhìn đứa con nhỏ đang ngủ. Chai rượu ngô bên cạnh Paul đã vơi đi một nửa, nhưng nỗi lòng của một người cha sắp phải xa con thì chẳng thể san bớt cho ai. Paul đã cầm lấy số tiền mà Seth đưa để đi tới bệnh viện, và ông hối tiếc việc làm đó.

– Tôi rất tiếc, ông Coffin. – Người bác sĩ cầm lấy tay Paul.

– … Vậy tôi còn sống được bao lâu nữa?

– Tôi không muốn làm kẻ tàn nhẫn, nhưng với tình hình sức khỏe ông, điều kiện sống khắc nghiệt như vậy… Có lẽ khoảng sáu tháng nữa. – Bác sĩ nói nhỏ. Điều kinh khủng nhất với ông luôn là thông báo tin dữ cho bệnh nhân và người nhà của họ. – Tại sao ông không tới đây? Rõ ràng ông hay cảm thấy mệt lả và ho dai dẳng. Họ có thể chuyển ông tới khu dưỡng sức. Rất nhiều y tá tốt ở đó có thể chăm sóc cho ông. Tuy vất vả, nhưng chúng ta cũng nên hy vọng chứ?4

4

Trước năm 1950, chưa tồn tại thuốc chống lao. Người nhiễm bệnh bị cách li khỏi xã hội, được điều trị bằng cách cho nghỉ ngơi và cải thiện chế độ dinh dưỡng. Lao là một đại dịch ghê gớm kéo dài hơn hai trăm năm, đạt đỉnh điểm vào thế kỉ 19. Một khi đã bị nhiễm lao, điều đó cũng đồng nghĩa với cái chết.

– Tôi… – Paul nói nhỏ. Ông không quá xúc động với việc sắp phải đi theo Thần chết, chỉ buồn khi nghĩ đến việc làm sao để đối mặt với con cái vào lúc này.

Vị bác sĩ tháo gọng kính ra, khẽ thở dài. Lý do của Paul hệt như của bao người nghèo khác, và họ cũng đều có chung một số phận phải đón nhận cái chết đầy đau đớn mà bệnh tật đem đến.

– Ông Coffin, lúc này quả thật là giai đoạn khó khăn đối với gia đình ông. Tôi sẽ cầu nguyện cho con trai lớn của ông, hy vọng cậu bé đủ mạnh mẽ để vượt qua được.

Paul lại uống rượu, trong lúc chờ vợ mình trở về nhà, ông không biết phải làm gì để giết thời gian ngoài uống rượu. Paul định sẽ tự kết liễu cuộc đời mình trước khi bệnh lao phổi ra tay và khiến ông vật vã vào những ngày cuối đời. Như vậy sẽ đỡ đau khổ hơn cho tất cả, và Seth cũng sẽ không cảm thấy tội lỗi. Nếu nói rằng cha chúng sắp chết, ông sợ điều đó sẽ nghiền nát trái tim Seth và Colby.

Nhìn thấy vợ mình trở về, Paul hắng giọng. Ông nói nhỏ để tránh làm Colby tỉnh dậy. Càng ngày, Paul càng cảm thấy việc đơn giản như cất lời thôi sao mà thật khó khăn.

– Em… Anh có chuyện này cần phải nói. Chuyện này rất nghiêm trọng, là chuyện riêng, anh mong chỉ hai chúng ta biết thôi.

Paul kể lại những gì đã diễn ra khi ông ở bệnh viện vào buổi sáng, và vợ ông khóc nức nở. Bà Coffin ôm lấy chồng mình, không ai có thể biết chắc liệu bà còn được ôm ông thêm một lần nào nữa. Seth đứng ở bên ngoài ngôi nhà, hai mắt dần nhòe đi và đẫm nước. Từng tiếng ho, tiếng thở dài và tiếng nức nở của bố mẹ… Seth đều nghe thấy rất rõ ràng. Cậu cứ đứng mãi, không đủ can đảm để bước vào. Đứa con nghiến chặt hai hàm răng vào nhau, cố gắng ngăn không cho tiếng khóc òa ra.

* * *

– Ý ta là ta biết con yêu thương và quan tâm tới Olivia. Những gì đã trải qua khiến con bị ám ảnh với sự lo âu và kiểm soát. Con yêu Olivia rất nhiều, như cái cách ta yêu con vậy: bao bọc quá mức và thiếu tin tưởng.

Reginald im lặng, Arthur thật là khó chịu khi ông ta luôn tìm cách xoáy vào nỗi lòng của người khác.

– Nhưng điều ta lo lắng, là Olivia liệu có đáp lại tấm lòng con dành cho nó?

Reginald bặm môi, hồi tưởng lại lúc Olivia chạy ra khỏi căn nhà kho, bị Michael đuổi theo sau. Lúc ấy, con bé chỉ là một đứa trẻ gầy gò ốm yếu với đôi mắt chứa đầy sự sợ hãi và tuyệt vọng.

– Ngoài trời khi đó khoảng năm mươi độ (tương đương 10oC) trong khi Olivia chỉ có hai chiếc áo mỏng; lại kiệt sức, mất nước và đói lả. Nhóc đã có thể chết.

Arthur nhấc một bên mày lên nhìn con mình.

Cảm xúc lúc này chợt vỡ òa trong Reginald. Anh ta không màng tới việc người ngồi đối diện mình là ai, chỉ muốn tống hết mọi nỗi niềm mình vẫn cố giấu kín bấy lâu nay.

– Cái cách Olivia nhìn con, giống như Desdemona đã từng khi cô ấy biết mình chẳng còn chút hy vọng… Con không quan tâm liệu mình có được đền đáp lại hay không. Mona cần con, Olivia cần con. Con đã hứa với Mona, Con chỉ muốn Olivia được an toàn.

Arthur nhẹ nhàng đặt tay mình lên giữ chặt đôi vai đang run rẩy vì xúc động ấy. Ông nhớ lại giây phút đứa con trai bé bỏng của ông ôm Desdemona trong tay mà khóc thảm thiết khi con bé qua đời.

– Con bắt đầu nói giống ta rồi đấy. Là một người cha, ta chỉ mong những gì tốt đẹp nhất cho con cái. Tình yêu và sự hi sinh của ta là vô điều kiện, ta không cần ai phải đáp lại hết. Nói ra điều này con thấy nhẹ nhõm chứ? – Ngài thị trưởng tỏ ra rất mãn nguyện. Những điều ông ta muốn Reginald nói, những gì ông ta muốn Reginald nghĩ… tất cả đều diễn ra theo đúng ý ông.

Reginald chợt nhận ra mục đích thật sự của cha mình. Anh lại vô tình tiết lộ hết những điều anh cố giấu trong lòng ra trong cơn giận, như mọi khi.

– Ông lại lừa tôi…

– Không, ta không lừa con. Ta chỉ muốn chúng ta nói chuyện với nhau như ngày trước, như hai cha con, như cái cách mà con vẫn chạy vào phòng ta và đòi ta cho ngủ cùng vì sợ gặp ác mộng. Ta có thể chia sẻ cho con một số kinh nghiệm nuôi dạy và trò chuyện cùng trẻ nhỏ, vì con và Olivia có vẻ đang thật sự cần.

Reginald chau mày.

– Olivia cảm thấy con hơi — thiếu rung động. Reginald, làm người cứng rắn thì dễ lắm, để bản thân trở nên mềm mỏng mới khó. Đâu phải ai cũng có thể vừa nghiêm khắc lại vừa nhẹ nhàng. – Arthur khuyên nhủ như vậy, vẫn cầm lấy tay con trai. – Đó là cái khó của việc làm cha, con à. Ai cũng biết cách để tạo ra trẻ con, nhưng chẳng ai biết phải làm thế nào để trở thành một người cha tốt.

– …

Reginald dập điếu thuốc lên gạt tàn, thở dài và siết chặt lòng bàn tay lại. Điều Arthur vừa nói giống như một sự tự đề cao bản thân hơn là một lời chia sẻ chân thành. Những lời của cha không phải là sai, nhưng chúng khiến Reginald cảm thấy bản thân thật tồi tệ, vô dụng và kém cỏi. Anh không muốn ôn lại chuyện cũ, Arthur đồng ý không ôn lại chuyện cũ. Thay vào đó, ông ta hướng con mình sang trục trặc giữa nó và Olivia, xoáy sâu vào những sai lầm và thiếu sót của Reginald, lấy Olivia làm vật cân đo. Cuối cùng, Arthur “hạ màn” bằng một lời khuyên về việc làm cha, cũng chính là lời khẳng định và cảnh cáo dành cho Reginald rằng: Sai lầm lớn nhất của con là đã dám chống đối lại ta và bỏ đi. Nhưng ta là cha con, và ta sẽ luôn chào đón con trở về nhà với một tấm lòng khoan dung đầy yêu thương.

Tha thứ và đón nhận thay vì đòn roi và thóa mạ là sự trừng phạt đáng sợ nhưng không kém phần hả hê mà Arthur ưa dành cho con mình, Reginald biết điều đó. Anh đã muốn khóc, nhưng không thể, nhận ra: dù có bao nhiêu thế kỉ nữa trôi qua, đứa con này vẫn sẽ chẳng tài nào thoát được khỏi cái bẫy tâm trí quỷ quyệt được ngụy trang tài tình bằng “tình yêu” và sự “quan tâm” của người đàn ông mình gọi bằng cha.

– Theo như ta thấy thì, tình cảm mà Olivia dành cho con chỉ là sự biết ơn vì đã cưu mang. Liệu nó có trở nên sâu sắc hơn hay không, phụ thuộc cả vào con.

– Làm ơn, dừng lại… – Reginald gục đầu xuống, nói khẽ. Anh có thể giữ được bình tĩnh trong một vài tình huống, nhưng khi đối thoại với Arthur, đó luôn là việc bất khả thi.

“Gừng càng già càng cay, con trai.” – Arthur hơi nhếch môi cười, biết mình đang chiếm ưu thế. Đứa con ương ngạnh giờ tỏ ra bất lực thấy rõ, ngay trước mặt người nó đã từng nghĩ sẽ không bao giờ chịu nhượng bộ. Nhưng với ông, như vậy vẫn chưa đủ. Ông muốn Reginald phải chịu khuất phục hoàn toàn, chịu trở về với ông và gọi ông bằng “cha” một cách toàn tâm toàn ý. Chừng nào Olivia còn sống, ông vẫn là người nắm được “cái gót Achilles” của con trai. Và cái ngày Reginald buông xuôi hoàn toàn, sẽ là ngày ông ôm đứa con bé bỏng của mình trong lòng, lau đi những giọt nước mắt đầy hổ thẹn của nó. Viễn cảnh ấy thật tuyệt vời và nó sẽ còn tuyệt vời hơn nếu trở thành sự thật.

– Mở lòng mình ra một chút, được không Reginald? Ta đâu có yêu cầu con điều gì quá xa vời. – Arthur ôm con trai, nhẹ nhàng an ủi và xoa lên mái tóc nó.

Ngay lập tức, Reginald gạt cha mình ra. Người ta nói rằng “cha nào con nấy”. Cả Arthur và con trai ông ta đều có đôi mắt rất giống nhau, nhưng cái cách họ nhìn nhận thì quá khác biệt.

– Ta là cha con, đừng đối xử với ta như vậy. Con làm ta đau lòng. Ta yêu thương con, ta chưa bao giờ đánh con, ta sẵn sàng làm mọi thứ vì con, cũng chưa bao giờ ép các con phải nói lời cảm ơn — nhưng, ít nhất thì cũng nên thể hiện một chút lòng biết ơn, không phải thái độ! Tất cả những gì người cha này muốn là con cái của mình được nuôi dạy tốt và sống hạnh phúc.

– Đó không phải là thứ tình yêu chúng tôi cần. Chúng tôi chưa bao giờ hạnh phúc.

Reginald nuốt khan, lặng lẽ chờ đợi một sự đáp trả khác từ cha. Một trong những trò chơi Arthur ưa thích đó là khiến người khác cảm thấy thương hại cho mình. Ưa bạo hành tinh thần là bản chất của ông ta, không có gì khiến Reginald phải ngạc nhiên. Anh nhận ra được sự độc đoán đó cũng tồn tại trong chính mình, và anh cố gắng che giấu chúng đi vì không muốn phải trở thành một người giống Arthur. Nhưng, sâu trong lòng, Reginald đã thừa nhận rằng cha nào con nấy. Vô tình hay không, sự độc hại của Arthur cũng đã gây ảnh hưởng rất nặng nề lên con cái ông ta, hình thành một phần tính cách và suy nghĩ đầy tiêu cực cho chúng.

– Có lẽ chúng ta nên tạm dừng ở đây. Chỉ là ta đã quá mừng rỡ vì được gặp lại con, và ta nghĩ chúng ta có thể… – Arthur cảm thấy cuộc nói chuyện đã đi quá xa và cần phải có gì đó đánh lạc hướng sang việc khác. Điều cuối cùng Arthur mong muốn là phải nghe thấy những lời buộc tội từ chính con trai ruột của mình.

– Tôi nên đi.

– Đợi đã, con, đừng bỏ đi vội.

Arthur rời khỏi ghế, đi về phía tủ bày đĩa trang trí, lấy ra một cái hộp nhỏ được bọc bằng giấy. Reginald đoán chắc chắn cha mình là tác giả của cái hộp quà xinh xắn đó. Arthur đưa nó cho con, khẽ cười:

– Làm ơn, cầm lấy.

Reginald nhìn cha bằng ánh mắt nghi ngờ. Anh không hiểu cái hộp đó đựng gì, cũng không có ý muốn nhận nó.

– Không phải con, cái này dành cho Olivia. – Arthur đoán được suy nghĩ của Reginald. Ông muốn tạo cho con mình bất ngờ nhiều hơn là một hộp kẹo nhỏ. – Con đừng đoán mò nhiều, chỉ là sô cô la thôi. Ta cũng muốn đưa tận tay cho con bé, nhưng Giáng sinh sắp tới mà ta thì bận vô cùng. Hơn nữa, ta biết con cũng không muốn ta tới gần Olivia.

Reginald miễn cưỡng cầm lấy hộp quà. Anh không quan tâm nó dành cho Olivia nhằm mục đích gì, cũng chẳng muốn nấn ná lại đây thêm một phút nào.
Rồi anh đứng dậy, hai tay đút túi áo và đi theo Arthur. Người cha tiễn con mình ra ngoài, không quên ôm hôn nó — như ông vẫn luôn làm.

– Tạm biệt, Arthur. – Reginald nói một cách lạnh nhạt.

– Tạm biệt con trai.

Arthur đứng tựa vào tường, hơi ngả đầu bên cánh cửa và nhìn con mình đi khuất bóng mới thôi. Thị trưởng nhìn về phía chiếc đồng hồ, nhận ra cũng đã hết giờ làm việc. Ông thu giọn lại bàn một chút rồi khóa cửa phòng và ra về.

* * *

Cơn mưa bắt đầu ngớt. Những tiếng ào ào dữ dội dần dần được thay thế bằng âm thanh lộp độp chậm rãi của những hạt nước ít ỏi còn lại đập lên mái nhà và rơi xuống nền đất. Bầu không khí trở nên quang đãng hơn, mang theo mùi hương nồng của hơi nước ẩm. Những nhạc công cô đơn cảm thấy được an ủi, chuyển sang chơi những điệu Jazz chậm rãi và lãng mạn hơn. Không gì quyến rũ bằng một không gian được chiếu ánh sáng xanh vàng yếu ớt thoang thoảng mùi nước hoa lẫn mùi nước mưa, và những bản nhạc tình cảm nhẹ nhàng ấy khi được kết hợp cùng với tiếng mưa rơi thì thật là tuyệt vời. Đằng nào thì ngày hôm ấy cũng vắng khách, sao không dành hết mọi sự ngọt ngào cho đôi tình nhân ở đây?

Gina nhẹ nhàng vòng tay qua người đàn ông bên cạnh, ôm lấy ông từ đằng sau. Cô đặt tay lên ngực Joseph – vị trí của trái tim ông ta – rồi áp sát gò má mình lên vai ông và nhắm mắt lại, cảm nhận từng nhịp một. Joseph có vẻ cũng đang muốn tận hưởng trọn vẹn giây phút ấy. Một tay ông cầm lấy tay của Gina mà nắm thật chặt; tay còn lại, ông dùng để giữ cô. Khung cảnh ở quán cà phê lúc này thật gợi tình, khiến những người nhạc công phải thấy ghen tị với hai con người mải đắm chìm trong thế giới riêng của mình.

“Hôn cô ấy đi.”

“Tôi cá hai người đấy sẽ ngủ với nhau.”

Người Saxophone nói thầm với người chơi trống. Họ vừa chơi nhạc vừa cố trông xem liệu Joseph và Gina sẽ có những hành động táo bạo và “ướt át” hơn nữa với nhau hay không.

Joseph khẽ xoay đầu lên trên một chút, ông ngửi thấy mùi chanh tươi trên cổ Gina, chợt muốn hôn vào đó. Cô ấy dùng nước hoa, chỉ một chút được xức lên phía sau gáy, có lẽ là Chypre. Joseph vốn định ra ngoài trời để hít thở và uống một hai cốc rượu, nhưng ông không thể ngờ mọi thứ lại đi quá tầm kiểm soát như thế này. Hai ly Absinthe, những cử chỉ âu yếm cả hai dành cho nhau, tiếng nhạc từ lũ khốn kiếp tọc mạch xem việc tiếp theo cảnh sát trưởng sẽ làm là gì… chúng khiến Joseph quên hết mọi mục đích ban đầu của mình.

Khác với những loại rượu thông thường, Absinthe giúp người dùng trở nên sáng suốt hơn thay vì khiến họ cồn cào ruột gan và say xỉn. Joseph biết mình nên dừng lại ở đây.

– Tôi xin lỗi. – Ông nói, đẩy nhẹ Gina ra.

Gina không hiểu tại sao lại bị đối xử lạnh lùng như vậy. Nhẹ nhàng đứng dậy, cô cầm lấy tay Joseph và kéo ông ra khỏi quán café.

* * *

Reginald vừa đi bộ về nhà vừa nghĩ tới những lời Arthur đã nói. Cần phải có một sự tự khống chế rất lớn mới đủ để ngăn Reginald khỏi vỡ òa trước mặt cha mình, vậy mà cuối cùng anh vẫn lại… Reginald đã chịu đựng người đàn ông đó quá lâu, chỉ cần một lời nói, một ánh mắt, mọi cảm xúc trong đứa con lại bùng nổ và rơi vãi. Cơn giận giữ, nỗi buồn, sự tuyệt vọng, sợ hãi, thiếu cảm thông, bị phản bội… gặm nhấm Reginald từng ngày, làm anh ta trở nên bất lực cũng như bất cần. Reginald có thể tỏ ra bình thản khi anh ta ở cạnh một đứa trẻ như Olivia; còn với Arthur, mọi thứ không dễ dàng đến thế.

Đứng trước cửa tòa lâu đài, Reginald thở dài, nhắm chặt đôi mắt. Reginald không muốn Olivia nhìn thấy tình trạng tồi tệ và luộm thuộm của mình. Bỗng, anh nghe thấy có tiếng đổ vỡ và tiếng hét của con bé vọng ra. Vừa mở cửa bước vào trong, theo bản năng, Reginald vươn tay hứng lấy chú chuột nhắt nhảy phóc về phía mình. Trông ánh mắt kinh hoàn của ông chủ, chú chó Reg vội vã cụp đuôi, đứng khựng lại.

– Reginald… Tôi, tôi không cố ý! Tôi ngủ quên ở trong phòng tôi, có con chuột, Reg chạy đuổi theo, tôi không ngăn nó được… Thế rồi mọi thứ… – Olivia lắp bắp, biết thể nào Reginald cũng sẽ lại mắng xa xả mình.

Reginald không thốt nổi nên lời. Trước mắt anh, toàn bộ lối chính của lâu đài thật thê thảm: khắp phòng khách la liệt sách báo bị gặm nham nhở, những tấm đệm trên ghế bị hất tung, rồi dấu chân đen xì và nhớp nhúa của Reg in khắp sàn.

Anh ngồi xuống ghế, ôm lấy đầu mình. Có một bức thư đang nằm trên bàn, nó được gửi từ trường học của Olivia? Olivia định nói thêm điều gì đó, nhưng khi biết Reginald đã mở phong bì ra và đọc, con bé im bặt.

– Bị đình chỉ? – Reginald nổi giận. Nội dung bức thư đó đề cập tới việc Olivia tỏ ra rất chậm chạp ở trường lớp, thường xuyên gây gổ và thiếu hòa đồng với các bạn. Nghỉ học tạm thời là hình phạt mà nhà trường dành cho Olivia, họ kỳ vọng sự thay đổi ở cô bé sau khi trở lại vào mùa xuân.

Reginald nheo mắt nhìn những mảnh vỡ màu trắng dưới chân bàn. Có phải là bộ ấm chén sứ không có hoa văn — bộ anh thích nhất? Anh đổ lỗi cho sự bừa bộn của Olivia khiến lũ chuột hoành hành, còn con cẩu đần độn kia vì nghịch ngợm nên đã đuổi theo chuột rồi làm đổ vỡ. Reginald vẫn biết Olivia là đứa trẻ vụng về, nhưng tâm trạng anh ta không được thoải mái gì sau khi gặp Arthur. Bức thư từ trường học và sự bừa bộn có tác dụng đẩy cơn giận vượt quá ngưỡng kiểm soát của Reginald.
Nhìn vào cái gáy sách bị gặm nham nhở, cặp lông mày đen quặp sát xuống. Reginald hít thật mạnh, miệng anh mở, và lời nói cứ thế tuôn trào:

– Olivia! Ta đã nói với ngươi bao nhiêu lần, nếu ngươi không ở bẩn thì đâu có chuột! Ngươi đã hứa với ta sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc Reg cẩn thận, giờ nhìn nơi này đi!

Reginald quát rất to, vẫn biết Olivia không phải lý do chính khiến mình nổi đóa.

– CHÓ HƯ! – Reginald lại mắng Reg.

– Tôi dọn ngay! – Olivia vội vã túm lấy giẻ lau lên bàn. Reginald vẫn luôn cáu kỉnh khi có gì đó không vừa ý, nhưng lúc này ở anh có cái gì đó bức bối hơn nhiều.

– Đấy là khăn lau sàn! Ngươi định dùng khăn lau sàn để lau bàn? – Reginald giật lấy giẻ. – Ngươi bị mù hay đần độn vậy? Đi lên phòng đi và để đấy ta làm cho xong!

Olivia cảm thấy Reginald lúc nào cũng coi mình như kẻ vô dụng chỉ biết phá phách, gây rối và làm đổ vỡ mọi thứ. Reginald không hiểu. Chính vì không muốn làm phiền anh, con bé mới giữ kín chuyện bị bắt nạt ở trường.

– Lão già khó tính! – Con bé giậm mạnh từng bước chân khắp cầu thang. Giọng nó nhỏ, run rẩy đầy tức tưởi nhưng đủ để Reginald nghe thấy. Không như đứa trẻ ngang ngạnh, Reg chui vào lòng ông chủ. Nó lấy hai chân bám vào vai Reginald, cúi đầu rên rỉ. Nhìn đôi mắt nâu tròn rầu rĩ ấy, dù hơi mủi lòng, Reginald vẫn cố tỏ ra cứng nhắc.

– Tao sẽ phạt mày sau! – Reginald đẩy chú chó, chợt cảm thấy có lỗi vì đã bắt Olivia phải chịu đựng cơn giận vô cớ của mình.

* * *

– Anh xin lỗi, nhưng anh phải đi. – Joseph vén tóc của Gina ra sau tai cô ấy. Ông thật sự rất muốn được ở bên cạnh cô, nhưng nghĩ đến công việc còn dang dở của mình, Joseph lại thấy cắn rứt.

Gina cố níu lấy tay Joseph, cô chỉ muốn ông ở lại.

Joseph chợt nhìn thấy vết cắt trong lòng bàn tay Gina, nó vẫn còn rất mới. Hai đầu vết thương khá dài và mảnh, giống như vết chém của kiếm hơn là một vết dao cứa bình thường. Hơn nữa, chẳng ai lại làm đứt tay ở vị trí này. Nó làm ông liên tưởng tới vết thương trên cổ John-Michael, tới cái chết của hắn.

Cái nhìn chăm chú của Joseph làm Gina ngại ngùng. Cô rút dần tay lại và ngoảnh mặt đi để tránh bị cảnh sát trưởng dò xét thêm.

– Xin lỗi. – Joseph lắc đầu. Điều cuối cùng ông ta muốn lúc này là để lộ ra sự nghi ngờ của mình, bởi bất cứ ai cũng có thể là kẻ giết người.

Gina cảm thấy khó xử. Cô gật đầu chào Joseph và định quay về.

– Tạm biệt. – Joseph mỉm cười.

“Xin lỗi, Gina.” – Joseph tự nhủ, cảm thấy áy náy vì những điều ông sắp sửa sẽ làm với cô ấy.

Joseph ho vài tiếng trong lúc mở bao thuốc lá mới mua, ông quay ngược hai điếu lại, nhanh chóng trở về đồn cảnh sát.

* * *

Arthur chỉnh lại chiếc bình đựng bó hoa Casablanca (loa kèn trắng) trên bàn. Đêm đã khuya nhưng Gina vẫn chưa trở về, làm ngài thị trưởng già đứng ngồi không yên. Ông đi loanh quanh trong phòng khách, thỉnh thoảng lại thở dài và nhìn vào chiếc đồng hồ để bàn. Mùi khói thuốc lá của Reginald khiến đầu ông nhức đến tận bây giờ.

Nơi ở của ngài thị trưởng là một ngôi nhà phía sau quảng trường, nó tương đối rộng rãi nhưng không hề trống trải. Arthur luôn tự tay sắp xếp mọi thứ, và nhờ có những bó hoa trắng Gina thường xuyên mang tới mà ngôi nhà càng thêm vẻ duyên dáng. Thị trưởng không hẳn là người yêu hoa, nhưng với ông, chúng giúp ngôi nhà trở nên đáng yêu và đẹp đẽ hơn nên ông không hề từ chối. Điều duy nhất khiến Arthur thắc mắc, đó là Gina luôn tỏ ra bối rối và giấu giếm khi được hỏi về người đã tặng chúng cho cô. Dù người tặng có là ai đi chăng nữa, Arthur chắc chắn đó là đàn ông – một người đàn ông khá từng trải, lãng mạn và biết cách tán tỉnh phụ nữ. Anh ta có lẽ đã dành tình cảm cho Gina trong một thời gian dài và có ý định nghiêm túc với cô nên mới chọn những loại hoa đó, với những bức thông điệp đầy ẩn ý đằng sau.

“Gina đang hẹn hò”, đó là lời giải thích thỏa đáng duy nhất cho sự vắng mặt và thay đổi tâm trạng của cô gái. Chưa bao giờ Arthur thấy Gina vui đến thế, nhưng cũng hơi ghen tị trong lòng.

Gina khẽ đẩy cánh cửa và bước vào trong, giật mình khi nhìn thấy Arthur đứng chờ ở phòng khách với sự mất kiên nhất thể hiện rõ trên gương mặt. Cô bẽn lẽn lại gần Arthur, nở một nụ cười gượng gạo.

– Tại sao cô về muộn vậy? Gina, cô đã đi đâu?

– …

– Làm ơn, ngồi xuống đi.

Arthur nhìn vào bình hoa trắng rồi nhìn Gina, khiến cô căng thẳng vô cùng. Nhưng dù sao thì cô cũng đã quen với việc bị chất vấn, có lẽ Arthur chỉ giận vì cô về nhà khi đã quá giờ giới nghiêm.

– Gần đây, cô rất hay bỏ ra ngoài và về nhà muộn. Gina, cô biết cô có thể chia sẻ với ta mọi thứ…

Gina bặm môi. Ý của Arthur là điều Gina cố giấu giếm ông ta đã bị phát hiện, và đây là cơ hội cuối cùng để cô tự thú nhận.

– Casablanca, loài hoa của sự trinh trắng và phẩm hạnh cao quý, cũng đúng với một quý cô trẻ như cô.

Ta chỉ tò mò về người đàn ông si tình đằng sau những bó hoa ấy là ai. Anh ta có vẻ nồng nhiệt và lả lơi. Nếu không thì tại sao lại liên tục tặng những loài hoa ca ngợi trinh tiết một cách lộ liễu như thế.

Gina nuốt khan, cảm thấy mình không thể giấu Arthur thêm được nữa, nhất là trước những lời mỉa mai của ông ta.

– Có phải là Joseph? Mãi tới giờ tôi mới đoán ra, bởi anh chàng này có vẻ ám ảnh với màu trắng và những thứ thuần khiết. – Arthur khẽ cười. – Đừng hiểu lầm ý ta, ta quý Joseph chứ. Nhìn thấy người đàn ông đàng hoàng là ta biết ngay. Chỉ có điều, Joseph tốt, nhưng không hẳn là đến mức chính trực.

Arthur nhẹ nhàng lướt bàn tay của mình lên mái tóc thẳng đen nhánh của Gina rồi vén chúng qua tai cô. Khẽ chạm vào cổ cô gái, Arthur thì thầm:

– Joseph đã hôn cô? Hai người suýt chút nữa thì đi quá giới hạn, nhưng tạ ơn Chúa, Joseph biết điều. Ta vẫn có thể ngửi thấy hơi thở hôi hám của cậu ta bám khắp thân thể cô, Gina, bên cạnh thứ nước hoa Chypre đó.

Gina lấy tay tự bịt miệng mình lại. Đôi mắt cô đỏ dần, ngân ngấn nước. Arthur khiến cô cảm thấy mình như một con đàn bà lẳng lơ cố khoác lên mình vỏ bọc cao quý để hấp dẫn những người đàn ông trong bộ đồng phục và phù hiệu. Gina không phải loại người như vậy, Joseph chắc chắn yêu mến cô vì con người cô.

– Một cô gái quý phái, trong trắng — đó là những điều cô thể hiện cho Joseph thấy. Điều gì sẽ xảy ra khi Joseph phát hiện rằng Nữ thần cậu ta vẫn ngày đêm mơ mộng trong thế giới tình ái viễn tưởng của mình, lại không hề thanh tao như đã mong chờ?

Arthur gạt nước mắt cho Gina. Ông ta mỉm cười dịu dàng và khẽ chạm vào gò má nhợt nhạt của cô.

– Không, không. Đừng khóc. Là lỗi của ta. Ta chỉ buồn vì nhận ra mình đã không còn là người đàn ông duy nhất của lòng cô. Cô đã trưởng thành rồi. – Arthur kéo đầu Gina vào vai mình và hôn lên trán cô. – Ngủ ngon nhé, cô gái của ta.

Gina lặng lẽ đứng dậy và đi về phòng ngủ của mình. Từng bước lên cầu thang, từng giọt nước mắt của cô lại rơi. Lời ngài thị trưởng không làm cô buồn nhiều bằng việc Joseph liên tục tạo ra khoảng cách giữa hai người. Giá như Gina có cách nào đó để chứng minh sự trong sáng và thật lòng của mình cho Arthur, như vậy ông ta sẽ tỏ ra cảm thông hơn. Cô vào trong phòng, khóa trái cánh cửa lại. Gina không đi ngủ ngay mà ngồi vào bàn. Cô lấy ra cuốn sổ nhỏ nằm trong ngăn kéo luôn bị khóa lại, bắt đầu viết:

“Forest Hill, Tháng Mười hai, ngày 17, 1906.

Đã được gần hai năm kể từ lần đầu tiên thật sự gặp Joseph, cũng tại quán cà phê đó. Anh ấy vẫn căng thẳng và bận rộn như thường, chỉ có điều ngày một già hơn. Tôi có thể nghe thấy tiếng thở đầy khó nhọc từ lá phổi mỏng manh và tiếng mạch đập gấp vì quá tải của anh. Joseph đang bị bệnh, rất nặng. Tôi không rõ là gì nhưng nó ăn mòn thể xác và tâm trí anh ấy một cách ghê gớm, vậy mà người đàn ông ấy vẫn tỏ ra chẳng có vấn đề gì.

Bất chấp việc cả hai ít có cơ hội gặp gỡ cũng như trò chuyện, Joseph mang đến cho tôi rất nhiều thứ, hơn cả những bông hoa hay sự tán tỉnh. Cứ như thể anh là người duy nhất thật sự hiểu và tôn trọng phụ nữ, hơn cả cái cách phụ nữ yêu chính bản thân họ. Điều đó khiến tôi đau khổ. Tôi không thể chịu đựng được cảnh làn da và mái tóc của mình vẫn mãi là của một cô gái ngoài hai mươi, trở thành thứ vỏ bọc hoàn hảo cho một tâm hồn đang ngày thêm già cỗi vì cô đơn và buồn bã, trong khi anh ấy thì mỗi lúc một mệt mỏi và xơ xác hơn.

Tôi muốn được nhìn thấy Joseph khỏe mạnh và hạnh phúc, tôi có thể giúp anh ấy trở nên khỏe mạnh và hạnh phúc hơn bây giờ. Đôi khi tôi nghĩ mình ích kỉ, nhưng tình yêu là vậy. Arthur cũng yêu tôi, đó là lí do ông ấy ghen tuông. Ông ấy chỉ giận tôi vì đã giấu ông chuyện giữa mình và Joseph. Arthur là người rất ngọt ngào và dễ đồng cảm, ông ấy chắc chắn sẽ nguôi đi và thấu hiểu cho cả hai bọn tôi.

Gần đây Arthur có vẻ vui và thoải mái hơn mọi khi, chỉ một chút thôi, nhưng cũng tạo ra một sự khác biệt. Tôi cho rằng nó liên quan tới anh chàng nhạc công Trumpet với chiếc ô đáng sợ đó. Tôi nghĩ mình nên hỏi Arthur về người này, thậm chí tên của anh ấy tôi còn không biết. Hy vọng anh ta sớm tìm được việc làm để có thể kiếm sống và nuôi dạy cô bé mà Arthur hay nhắc tới. Tôi không có ác cảm, cũng chưa gặp bất cứ ấn tượng tốt nào về anh ta — nhưng tôi không hiểu được tại sao mỗi khi ở gần người ấy, tôi lại thấy hơi bức bối và hồi hộp trong lòng.”

Gina viết đến đó thì ngừng lại. Từ tầng dưới, thị trưởng đang ngân nga một bài dân ca nào đó mà cô không thể nghe được nội dung. Gina cất nhật kí của mình vào trong ngăn kéo rồi lại khóa nó lại.

* * *

Reginald đứng trước cửa phòng Olivia, định gõ cửa nhưng lại ngại ngùng. Anh đã dùng những từ khó nghe như “mù” và “đần độn” để mắng đứa trẻ. Con bé bị lác nên thị lực không hề tốt, điều này ảnh hưởng rất lớn để khả năng học tập và quan sát của nó, đó là chưa kể tới những ảnh hưởng về mặt thẩm mĩ. Reginald đã làm tổn thương Olivia và anh nghĩ mình nên có lời xin lỗi.

– Olivia, người còn thức không? – Reginald hỏi nhỏ.

Olivia nằm trên giường, trùm chăn kín người. Con bé giận Reginald vô cùng và không muốn nói chuyện với anh vào lúc này.

– Ta đoán là không. – Reginald buồn bã quay lưng lại, định bỏ về phòng mình.

Chợt có tiếng cửa mở. Reginald ngoái đầu lại và nhìn thấy Olivia đang đứng đó với gương mặt nhăn nhó.

– Nhóc.

Olivia khoanh tay đứng nhìn Reginald, mặt vẫn cáu kỉnh.

– Ta rất xin lỗi. – Reginald lại thở dài, cảm thấy thật hồi hộp và lúng túng. – Ta nóng giận và nói năng thiếu suy nghĩ. Đó không phải là lỗi của ngươi, được chứ? Ngươi thật sự không nhìn thấy gì, ta không nên dùng từ khó nghe như vậy. Ta lo cho ngươi, và… Đáng lẽ ra nươi nên nói cho ta về chuyện trường lớp.

Nghe những lời ấy, Olivia mủi lòng. Cô bé ngồi xuống cạnh Reginald, liên tục cấu vào da tay, nói lí nhí:

– Đôi khi tôi nhìn thấy những thứ xung quanh hơi mờ. Tôi không cố ý làm vỡ đồ, nhất là đồ của ngài. Ngài nói với tôi rằng mỗi người có cuộc sống riêng của mình và tôi không muốn ngài bị làm phiền.

– Nhưng chúng bắt nạt ngươi. – Reginald nghĩ về những lần Olivia cố giấu những vết bầm cũng như vết giày trên người. Anh đã muốn mở lời, nhưng rồi cho rằng Olivia đủ lớn để tự giải quyết được.

– Tôi không muốn đi học ở đó nữa. – Olivia cúi gằm xuống, mái tóc lòa xòa của che hết cả gương mặt.

– Ngươi thật sự không muốn đến trường? Sao vậy được!

Olivia gật đầu.

– Không ai ở đó muốn làm bạn với tôi cả. Họ dạy những thứ còn buồn ngủ hơn cả chỗ sách ngài hay đọc.

Reginald lấy tay phải của mình che lên con mắt lành của Olivia. Mắt trái của nhóc đã bị tật quá lâu, có phẫu thuật khôi phục thị lực cũng bất khả thi. Reginald không bao giờ nói ra, vì anh không muốn con bé thêm mặc cảm. Reginald biết rõ khả năng truyền đạt của bản thân không tốt, nhưng anh sẽ cố làm vì nó.

Olivia không hiểu lý do tại sao Reginald lại che một mắt của mình lâu đến vậy, nhưng không dám gạt tay anh.

– Ta có thể dạy ngươi học ở nhà, nhưng…

Olivia đấm vào người Reginald, đẩy anh ra.

– Ta có cái này cho ngươi, nhóc.

Vừa nói, Reginald vừa lấy từ trong túi áo ra hộp quà. Olivia ngạc nhiên vô cùng. Con bé xé hộp và nhìn vào trong, là một hộp sô cô la đen có ba thanh.

– Sô cô la? Loại này đắt đấy! Sao ngài…? – Olivia vội ngước lên, những thanh giấy bạc lấp lánh làm đứa nhóc ngờ nghệch quên hết mọi tâm trạng nặng nề vừa rồi. – Vì dịp gì vậy?

– Cái này không phải của ta. – Reginald lắc đầu.

– Vậy ai đã cho tôi? – Olivia tò mò. Trong một phút hy vọng, nó đã nghĩ rằng Reginald cũng biết làm việc gì đó lãng mạn hoặc ngọt ngào — như là tặng quà cho người khác.

– Là ch… ngài thị trưởng.

– Tôi không quen thị trưởng nào. – Olivia đặt hộp kẹo xuống.

– Ông ấy bảo ngươi hay nói chuyện với ông ta ở quảng trường? – Reginald thắc mắc.

– À! Tôi biết ông ấy. – Olivia mừng rỡ. – Tôi không ngờ đó là thị trưởng! Ông ấy vẫn nhớ sinh nhật của tôi?

Bản thân Reginald cũng không hiểu lí do tại sao Arthur mua quà cho Olivia, nhưng giờ thì anh đã rõ. Chỉ vì anh ghét sinh nhật của mình không có nghĩa là Olivia không được tận hưởng sinh nhật của cô bé.

– Ngày sinh của ngươi là… – Reginald gãi gãi lên đầu, trẻ mồ côi thì chắc người ta tính là ngày nó tới trại?

– Hai mươi tháng Mười hai – Olivia hồ hởi trả lời.

– Cung Nhân mã? – Reginald bật cười.

– Vậy ngài? Sinh nhật của ngài là ngày bao nhiêu?

– Ta không thích nói về ngày sinh của mình. – Reginald lắc đầu.

– Thôi nào, nói cho tôi đi! – Olivia kéo mạnh vào tay áo Reginald. – Ngài có thể là cung Bạch dương, tôi thấy người Bạch dương dễ nổi cáu lắm. Hay là Xử nữ? Vì ngài khó tính chết đi được!

– Ngươi muốn là gì thì ta là vậy. – Reginald cốc nhẹ lên đầu Olivia.

– Reginald, đi mà, tôi muốn biết! – Olivia nài nỉ. Cô bé không muốn phải ngồi đoán mò một chút nào.

– Song tử.

– Song tử?

– Song tử. Cặp sinh đôi ấy.

– Nhưng ngài chẳng giống người Song tử chút nào. – Olivia nhăn nhó. Ngài giống như là tất cả những gì ngược lại của cung Song tử ấy!

– Ngược lại của cung Song tử chẳng phải là Nhân mã? – Reginald cười, thích thú với việc làm Olivia bối rối.

– Ngài không phải cung Nhân mã, ngài đâu có giống tôi! – Olivia không thể chịu nổi sự vòng vo của Reginald được nữa.

– Đi ngủ đi, nhóc. – Reginald chỉ về phía phòng của Olivia. – Đừng có ăn kẹo bây giờ kẻo sâu răng.

Olivia nhìn cái dáng khòng khòng của Reginald đi về phòng anh ta và mỉm cười. Cô bé đặt lòng tin vào người này và lòng tin đã không làm Olivia thất vọng. Sự thay đổi ở thái độ của Reginald thể hiện ngày một rõ, dù quá trình ấy diễn ra thật chậm chạp. Anh ta vui vẻ hơn, cười nhiều hơn và nói nhiều hơn. Reginald không nhận ra rằng có một con bé luôn bày trò nghịch ngợm và hỏi han anh ta đủ điều vô nghĩa chỉ vì mong muốn làm anh cười — không phải kiểu cười gượng Reginald thường trưng ra để lấp đi sự trống rỗng của cảm xúc — mà là vì ngài ấy vui vẻ thật sự. Reginald không biết anh ta trông đáng yêu như thế nào mỗi khi cười, và Reginald cũng không hề biết Olivia yêu nụ cười đó tới nhường nào.

* * *

Cánh cửa phòng Reginald đóng sầm lại, nụ cười trên môi vụt tắt. Những lời nói đùa dành cho Olivia không khiến anh bận lòng bằng việc suy nghĩ xem những điều khủng khiếp mà Arthur sẽ làm với hai người là gì. Sống một cuộc sống tự do thoải mái và đầy ắp niềm vui với Olivia vô tư là điều Reginald mong muốn hơn tất cả, nhưng đó là suy nghĩ không tưởng.

Gã ma cà rồng cởi áo, treo chúng lên mắc rồi tháo dần lớp băng quanh vai và vùng bụng dưới ra. Những vết tụ máu và trầy da từ lần đánh nhau với Renato vẫn chưa thể nào đi hết, nhức nhối một cách khủng khiếp! Reginald thật sự không hề muốn ai chạm vào người mình, chỉ một hành động tiếp xúc nhỏ nhất cũng có thể khiến anh ta bật dậy và kêu lên vì đau. Nhưng Reginald vẫn chịu đựng, và anh vẫn sẽ giữ im lặng cho đến khi cảm giác khốn khổ ấy qua đi.

* * *

Những cơn gió xào xạc và tiếng chó tru về đêm đánh thức Allan. Cậu nhỏm dậy, nhận ra mình đang nằm giữa một bãi đất vắng, cổ đau nhói vì bị cắn. Đứng dậy khỏi vũng máu của chính mình, từ cổ họng Allan, cơn khát máu bắt đầu cuộn lên.

– – – – – – HẾT PHẦN 19 – – – – – –


"Phần 20. Lời hứa" bởi iamDage
Hai ngày trôi đi thật chậm chạp với những hoạt động quen thuộc đầy nhàm chán; nhưng tuổi mười bốn chính thức của Olivia vẫn phải tới, dù muộn màng. Trái ngược với sự háo hức của đứa trẻ, Reginald không nói gì nhiều, lại rất hay đi vắng. Có lẽ anh ta chỉ ra ngoài làm việc riêng. Căn cứ vào tính cách của người ấy, Olivia không nghĩ mình sẽ nhận được sự bất ngờ nho nhỏ nào.

* * *

Earlene nhìn lên đôi mắt xám buồn bã của người đàn ông mặc áo đen đang đứng trước cửa. Sự kết hợp của bao cảm xúc mừng rỡ, mệt mỏi và bất ngờ khiến cô cười mếu máo; nhưng quan trọng hơn cả, anh ấy đã trở về.

– Reginald? – Earlene bỏ chiếc khay xuống, hai mắt rưng rưng nước. Cô lao về phía anh, chẳng thèm quan tâm tới biểu cảm kì quặc của mình vào lúc này.

– Là anh đây. – Reginald mỉm cười, dang hai tay đón lấy Earlene.

* * *

– Cố gắng nào, anh yêu! – Earlene hôn Reginald trong lúc anh cởi nốt chiếc áo cuối cùng. Dù đã không còn xa lạ với cơ thể đầy những vết thương cũ chồng chéo lên mới này, cô vẫn cảm thấy đau xót.

Earlene đã chuẩn bị sẵn một khay đựng đồ sơ cứu đầy đủ băng, dịch tẩy trùng và bơm kim. Cô dùng nhíp lấy ra những mảnh dằm còn lại trên người Reginald, sau đó tiêm cho anh. Thuốc bắt đầu phát huy tác dụng sau vài giây, Reginald có thấy đỡ đau hơn một chút, nhưng từng đó là chưa đủ. Earlene đoán cơ thể anh ta cần phải được nạp một lượng morphine gấp ba lần chỗ vừa rồi để cảm thấy thoải mái.

– Thêm nữa đi. – Reginald nói nhỏ.

Earlene chấm khăn lau máu cho Reginald rồi khâu lại vết rách, vừa khâu vừa nghiêng đầu ngáp. Đêm đã muộn mà cô vẫn chưa được nghỉ ngơi.

– Chúng không chịu buông tha cho anh hả. – Earlene nói lầm rầm, nước mắt trào dâng. Làm sao cô chịu đựng nổi việc người mình yêu bị đau đớn.

Reginald chưa bao giờ có ý định muốn tìm đến ma túy để xoa dịu bản thân, càng không nghĩ mình sẽ bị lệ thuộc. Nhưng rồi, mọi thứ xảy đến như cách mà chúng vốn phải xảy ra. Cảm giác ban đầu chỉ là sự thư thái nhất thời, rồi Reginald thành một kẻ như-hiện-giờ. Những cơn đau ngày một dữ dội hơn, thân thể anh ta ngày một tã tượi. Việc đối mặt với những lo âu và căng thẳng bị giấu kín càng trở nên khó khăn hơn, rắc rối cứ thi nhau kéo đến với cuộc sống của hai người tromg khi cô gái của Reginald thì liên tục đòi hỏi anh phải trở thành một người đàn ông như cô mong muốn. Earlene không hiểu rằng Reginald cũng có những vấn đề riêng của mình, anh ta cũng cần được thấu hiểu và cảm thôngg.

– Khuya rồi, Earlene. – Reginald nói với cô, đầu hướng ra cửa sổ, không thấy gì ngoài một màu đen kịt của màn đêm. Earlene đã làm hết khả năng cho hôn thê của mình, anh cần cô phải khỏe mạnh.

– Thế còn anh?

– Anh sẽ ngủ sau.

Đống băng gạc và dụng cụ ngổn ngang trên bàn bốc mùi máu tanh nồng khiến Earlene buồn nôn. Nhưng, Reginald đã nói như vậy, cô không muốn làm trái ý anh. Cô thu dọn bớt đồ lại rồi lên giường nằm trước, không quên mỉm cười với Reginald.

– Chúc ngủ ngon, anh yêu.

– Ngủ ngon, Earlene.

Reginald đổ chỗ bột màu nâu vào một chiếc thìa, thêm chút nước rồi châm nến đốt chúng lên. Một chút morphine để xoa dịu cơn đau cũng tốt thôi, nhưng tại sao phải làm vậy khi heroin có thể khiến Reginald quên hết đi mọi điều tồi tệ của cuộc đời, dù chỉ trong vài giây ngắn ngủi. Chờ cho hỗn hợp sôi, anh lấy kim hút lại, tiêm vào cánh tay trái. Sự hưng phấn lan đi khắp nơi nhờ hệ thống mạch máu, tới tận các đầu ngón tay, chân Reginald.

Reginald đánh rơi kim tiêm xuống đất, lảo đảo bước về phía giường ngủ. Một cảm giác lâng lâng tựa làn sóng ấm áp vỗ về trào dâng từ lồng ngực Reginald rồi tỏa ra như ánh hào quang lấp lánh, làm anh cảm thấy nhẹ bẫng tới mê man. Trong giấc mơ, Reginald nhìn thấy bản thân trong hình dạng của một đứa trẻ năm tuổi, thấy mẹ mình – người phụ nữ anh chưa bao giờ được gặp, và một người đàn ông khác bên cạnh bà – người cha mà Reginald tưởng tượng ra. Đó chỉ là một người đàn ông hết sức bình thường với nhiều khiếm khuyết; nhưng tình cảm ông dành cho con mình là thật, và ông sẽ không bao giờ bỏ rơi nó, ngay cả khi nó đã đánh mất chính mình.

– Con yêu tất cả mọi người. – Reginald nói khẽ trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê.

“Chúng ta cũng yêu con.” – “Mẹ” của Reginald nở nụ cười hiền hậu, và “bố” Reginald xoa lấy đầu anh.

Hai mi mắt của Reginald khép dần. Anh ngủ thiếp đi trong hơi ấm của tình thương gia đình, trong cảm giác yên bình và được tin tưởng. Heroin cứu rỗi Reginald, biến anh thành người anh ước được trở thành. Reginald biết chúng chẳng là gì ngoài những sự lừa dối ngọt ngào để kẻ hèn nhát trốn tránh và thoát li, rồi sẽ đến lúc anh phải tỉnh giấc sau cú ngã văng từ đỉnh cao của hưng cảm xuống nền đất lạnh ngắt. Nhưng, cho đến lúc đó…

* * *

Reginald cảm nhận được sự hiện diện của người nữa đang ở giường, đặt bàn tay lên người mình. Mái tóc bù xù và hơi ấm sượt qua da Reginald làm gã ma cà rồng tưởng rằng đó là Olivia, cho tới khi bị cái lưỡi dài ướt át liếm liên tục lên mặt. Thật kỳ lạ khi Reginald vẫn còn mơ về Earlene.

– Chào buổi sáng, Reg. – Trước mặt anh là chú chó đen nặng nề của Olivia.

Thấy chủ thức dậy, Reg vẫy đuôi mừng rỡ, tiếp tục liếm vào mặt Reginald.

– Đừng hy vọng ta tha thứ cho ngươi, đồ chó hư. – Reginald lạnh lùng gạt Reg sang một bên và đi thay đồ. Chú chó buồn bã cụp đuôi xuống, ngồi cuộn tròn trên giường, nhìn theo chủ bằng đôi mắt nâu tròn tội nghiệp.

Như thường lệ, Reginald đeo cổ cồn và cổ tay áo lên, chỉnh lại chúng cho thật vừa vặn rồi thắt ascot ra ngoài. Anh cài vest, tiếp đó mặc lên chiếc áo khoác đơn rồi khoác áo khuy chéo ra ngoài cùng. Reginald lấy lược chải hết tóc ra phía sau trán, đứng trước gương và ngắm mình. Dù vui hay buồn, chán nản hay lo âu, Reginald không muốn người khác trông thấy mình trong bộ dạng yếu đuối và bất lực. Đó cũng chính là điều mà Arthur đã uốn nắn con mình từ nhỏ, rằng ngoại hình của một người đàn ông có thể tác động đến thái độ và cách hành xử của người khác đối với anh ta ra sao. Nhưng Reginald căm ghét và chối bỏ cha mình. Anh không muốn cư xử như Arthur, anh không muốn trông giống như Arthur, anh không muốn mình có bất cứ thứ gì dính dáng tới Arthur.
Nhìn vào hình ảnh phản chiếu, Reginald vội bới tóc mái ra thành đường ngôi.

Reginald đi dọc hành lang, bồng Reg trong tay. Nhìn thấy cửa phòng Olivia trong tình trạng đóng hờ, anh bước vào trong, vô tình giẫm lên chiếc áo.

– Ta tin quái vật lông lá này là của ngươi. – Reginald đặt Reg lên giường, tiện tay kéo luôn chiếc chăn con bé đang quấn quanh người ra.

Vừa mới thức dậy, lại bị tước đi chiếc chăn ấm, gương mặt Olivia từ ngơ ngác chuyển sang nhăn nhó. Nó lăn về phía Reginald, muốn làm nũng một chút.

– Ê… Ngài có quà cho tôi không?

Reginald nhìn vào mái tóc bết nhờn của Olivia. Từ lần đầu tiên gặp con bé anh đã thấy khó chịu, đến giờ vẫn vậy.

– Ta sẽ làm bất cứ thứ gì ngươi muốn, quà của ngươi phải chờ tới Giáng sinh. Nhưng trước đó, làm sạch bản thân đi, nhóc. Lần cuối cùng ngươi gội đầu là khi nào?

– … Tháng trước?

– Thế đấy! Đi gội đầu ngay. – Reginald rùng mình.

– Có ích gì đâu, rồi tóc tôi lại bẩn mà. – Olivia chau mày.

Reginald ngồi xuống bên cạnh Olivia mà thở dài, không biết phải làm gì để đứa trẻ bướng bỉnh này nghe lời. Một ý tưởng chợt lóe lên, anh lật tóc con bé, giật mình kêu toáng:

– Lice! (Chấy!)

– “Lice” là gì? – Olivia lo lắng. Reginald chưa dạy từ tiếng Anh này, nhưng căn cứ vào thái độ ấy, rõ ràng “lice” rất nguy hiểm.

– Poux, những con bọ nhỏ thích hút máu và sinh sôi trong tóc bẩn. – Reginald ẩn vai Olivia. – Tránh xa ra, nhóc! Ta không muốn bị lây sang.

Olivia hét lớn, nổi da gà. Tưởng tượng những con bọ chét nhỏ xíu nhảy loạn xạ trong tóc mình mà thỏa sức cắn phá, nhóc thấy đầu mình ngứa ran.

– Tôi phải làm gì đây đây?

– Gội đầu, càng sạch càng tốt!

Olivia hoảng hốt chạy lao ra khỏi giường, còn Reginald lén che miệng cười. Nhìn thấy chú chuột nhỏ chui lên từ chân giường, trèo qua chiếc cỏ gối lấm tấm vệt mốc, anh mới nhớ ra mình lại quên nhắc Olivia dọn dẹp. Con bé vốn đã bừa, lại sợ lạnh nên lúc nào cũng để phòng ngủ kín mít. Reginald lo bệnh của đứa trẻ ấy sẽ lại tái phát trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt này.

* * *

– Reginald, hứa với tớ là cậu sẽ không bao giờ trở thành một người giống như cha cậu. Cậu làm được không?

– Mona, cậu biết là… – Reginald run rẩy cầm lấy tay Desdemona, giữ thật chặt. Từng giọt nước mắt liên tiếp rơi xuống bàn tay cậu; rơi cả vào tóc, vào mặt cô gái. – Tớ có thể giúp cậu sống và chờ tới khi Robert trở về.

– Đừng khóc… Hứa với tớ. – Desdemona nói rất khẽ.

– Tớ hứa. – Reginald cay đắng gật đầu.

– Cảm ơn, và tạm biệt. Bảo với Robert tớ xin lỗi….

Desdemona gượng cười trong nước mắt, đôi bàn tay cô buông dần theo nụ cười buồn bã trên môi. Đứa bé không nằm đúng với vị trí thông thường trong tử cung khiến việc sinh nó ra trở thành một cực hình đẫm máu. Desdemona đã chiến đấu tới cùng, nhưng cơn đau vượt quá sức chịu đựng của một cô gái phải làm mẹ ở tuổi mười bảy. Reginald vuốt mái tóc nâu ướt đẫm mồ hôi, ôm ghì người con gái bất hạnh ấy cho tới khi cô trút hơi thở cuối cùng.

– Nhìn con kìa… – Arthur mỉm cười. Ông ẵm đứa trẻ sơ sinh, khẽ chạm lên cái mũi nhỏ hơi khoằm xuống của nó. – Thiên thần nhỏ này lớn lên sẽ là một nhà giả kim như cha nó, hãy ngủ ngoan trong vòng tay ông Arthur khi con còn có thể nhé.

Desdemona và Robert là hai người bạn duy nhất Reginald có. Họ hiểu Reginald, cũng là người duy nhất cảm hóa được cậu. Phải rất khó để một người lúc nào cũng lủi thủi như Reginald mở được lòng mình, để tin tưởng và bày tỏ tình cảm với những người cậu yêu quý. Nhưng rồi tất cả đều ruồng bỏ Reginald, hoặc phản bội cậu, hoặc ra đi. Vậy thì có ích gì?

– Đừng… – Reginald nhìn vào mắt cha mình, cố nén nỗi đau lại. – Con xin cha, đừng giết nó!

* * *

Đã hơn nửa tiếng trôi qua mà Olivia vẫn chưa chịu ra khỏi nhà tắm. Từ bên ngoài, Reginald chốc lại gõ lên cửa, giục giã đứa trẻ:

– Nhóc, ngươi làm gì lâu thế?

– Tôi chưa xong! Chừng nào chưa đuổi được lũ chấy đi! – Olivia gắt.

– Hơn nửa tiếng rồi, ngươi không sợ bị cảm?

– Không!

– Ta cần vào trong để rửa tay… – Reginald nhìn vào hai lòng bàn tay dính bụi sau khi dọn phòng.

– Thì ngài cứ vào đi.

Reginald mở cửa, thấy Olivia đang điên cuồng tra tấn tóc con bé dưới vòi nước. Mười ngón tay nó bợt bạt và nhăn nheo lại, tay áo cũng ướt sũng theo.

– Đủ rồi đấy. – Reginald cầm lấy khăn phủ lên đầu Olivia, kéo con bé ra khỏi bồn.

– Nhưng chấy…

Reginald cố gắng nén tiếng cười lại, thấy hơi tội lỗi vì không ngờ Olivia lại coi lời nói đùa đó nghiêm túc đến vậy. Nếu không giải thích cho con bé, có lẽ nó sẽ còn tiếp tục lãng phí nước trong hoảng loạn.

– Ta nói dối ngươi đấy nhóc, ta chỉ muốn ngươi gội đầu thôi. Lau đi…

– Cái gì? – Olivia gắt lên.

– Thôi nào.

– Ngài lừa tôi! – Olivia tức tối té chỗ nước trong bồn vào người Reginald, chỉ muốn dìm chết kẻ đã dọa mình. Nó nhảy lên, túm vào vai Reginald và vít xuống.

Biết Reginald tỏ ra khó chịu, con bé càng đùa hăng hơn.

– Cõng tôi đi.

Olivia hắt xì, run người lại.

– Đó.

Reginald biết Olivia đã bị nhiễm lạnh. Anh chạy ra phòng khách, mang theo cả Olivia trên vai. Tay con bé bám rất chặt. Nước từ cả hai vương vãi ra khắp lối đi, Reginald trượt chân ngã xuống sàn. Anh vịn vào bàn để đứng dậy, cười ngại ngùng; Olivia thấy vậy cũng cười theo.

Reginald dừng lại trước lò sưởi, cố gắng gỡ tay Olivia ra khỏi mình.

– Ngươi làm ướt áo ta. Bỏ ra nào.

– Không. – Olivia lắc đầu.

– Olivia! Thả ra rồi tự chải đầu mau!

Olivia miễn cưỡng buông tay, trượt xuống sàn, cầm lấy lược. Những sợi tóc xoăn lâu ngày không được chăm chút rối mù lại với nhau, dù con bé đã dùng hết sức lôi lược ra vẫn thấy đau đớn khủng khiếp.

– Giúp tôi với. – Olivia than thở.

Reginald giật mạnh chiếc lược, kéo theo cả vài sợi tóc. Olivia rít lên. Nó ôm lấy đầu và quay đi, không cho Reginald động vào nữa.

– Tôi ghét gội đầu!

– Nếu ngày nào ngươi cũng chải đầu hoặc tết tóc gọn lại thì đâu bị đau. – Reginald tiện tay gỡ những sợi tóc rối rồi chải cho Olivia, chia luôn tóc con bé ra làm hai bên và tết lại.

– Ngài biết tết tóc hả, Reginald? – Olivia ngạc nhiên.

– Ta biết tết đuôi lợn.

Olivia cười lớn. Reginald hôm nay thật lạ lùng.

– Ngài bị làm sao vậy? Bình thường ngài đâu có như thế này?

Reginald mỉm cười. Một nụ cười phảng phất nét buồn bã và giả tạo trên ánh mắt.

Olivia ngồi yên để Reginald tết tóc mình. Anh ta làm rất nhanh, chẳng mấy chốc mái đầu bù xù đã biến thành hai dải tóc xinh xinh. Co hai chân lên ghế, con bé tì cằm vào đầu gối suy nghĩ một chút, cố gắng hiểu xem lý do sâu xa đằng sự quan tâm và chăm sóc của Reginald là gì.

– Em gái của ngài đâu rồi? – Olivia hỏi nhỏ.

– Ta không có em gái. – Reginald lắc đầu. – Ta là con cuối.

– Vậy mà tôi cứ tưởng ngài phải là anh cả hoặc ít ra là con giữa. Ngài hay nhường nhịn và lo cho tôi. Ngài có coi tôi giống như em của mình không?

– Tại sao không. – Reginald mỉm cười xoa đầu Olivia, cả khuôn mặt con bé đỏ bừng.

“Thật không ngờ Reginald nghĩ như vậy về mình.”

– Vậy ngài có chị?

Reginald gật đầu.

– Có anh chị chắc là vui lắm? – Olivia đung đưa đôi chân, nghịch vạt áo Reginald.

– Sinh trước ta có tám người. Họ trông không khác ta là mấy nhưng luôn thích bắt nạt ta vì ta nhỏ tuổi nhất. Thường thì họ sẽ bịt miệng ta lại và cố làm ta ngừng khóc trước khi cha ta phát hiện ra và trừng phạt từng đứa một.

Olivia cười lớn.

– Tôi cũng hay bị bắt nạt lắm, lúc còn ở trại mồ côi.

– Vì mắt ngươi?

Olivia gật đầu.

– Ngươi bị lác bẩm sinh?

– Không. – Olivia lắc đầu. – Năm tôi bốn tuổi thì bị sốt cao. Trời lúc ấy lạnh lắm, nhưng người tôi nóng rực. Chân tay tôi cứ giật lên, tôi còn cắn cả vào lưỡi mình nữa. Đau cực kì! Sau đó thì mắt của tôi thành như vậy.

Reginald khoanh tay nghĩ ngợi. Olivia ốm yếu, nhưng cũng thật mạnh mẽ khi mà nó có thể sống sót được một mình tới tận bây giờ. Anh muốn an ủi con bé, nhưng sợ nếu nói ra những lời mùi mẫn hoặc ôm nó vào lòng sẽ làm nó không thoải mái.
Cho rằng những lời của mình đã khiến Reginald buồn, Olivia bẽn lẽn cười, đấm vào tay anh:

– Này, đừng như vậy. Nhờ có nó mà tôi mới biết ai thật sự yêu quý tôi vì tôi mà.

Reginald thở dài.

– Một trong những người chị của ta, Amalasanda, chị ấy có mái tóc trắng và đôi mắt đỏ. Anh ta, Armand, có sáu ngón tay. Ansell có cái đầu nhỏ hơn những người bình thường…

Olivia lại cắn móng tay mình trong lúc Reginald nói. Chưa bao giờ Reginald tiết lộ về gia đình hay người thân nhiều đến vậy.

– Và Armand cũng hay cắn móng tay, hệt như ngươi. – Reginald tiếp lời, tiện đó kéo tay Olivia ra.

– Ngài nói họ trông không khác ngài mà?

– Ý ta là tương đồng về tuổi tác, vì ma cà rồng lớn chậm. Còn có những người khác nữa, nhóc. Alexander là anh cả, anh ấy và ta trông giống nhau nhất. Chỉ Alexander là không bắt nạt ta.

Olivia nhìn một lượt khắp Reginald, không có điểm gì bất thường trên người ngài ấy cả. Tóc Reginald vẫn đen, mỗi bàn tay chỉ có năm ngón.

– Họ bắt nạt ngài vì ngài khác biệt?

– Có lẽ vậy. Hầu hết anh chị của ta đều khá thấp và ốm yếu, trong khi ta thì cao. Ta thường khom lưng xuống để cảm thấy mình cũng giống như họ.

– Nếu vậy thì ngài phải là người bắt nạt họ chứ? Ngài to cao hơn mà?

Đầu gối Reginald bỗng dưng nặng trịch. Anh cúi xuống, nhìn thấy cái đầu của Olivia đã đè lên đó từ lúc nào, còn con bé thì cười khì khì. Từ lâu lắm rồi Olivia luôn mong có những người anh chị lớn để cùng chơi đùa và chia sẻ nhiều thứ. Cảm giác gối đầu lên đầu gối thật là tuyệt.

– Anh chị của ngài bây giờ ở đâu?

– Họ, họ đều đã mất… – Reginald chợt bối rối.

Olivia ngồi bật dậy vì phẫn nộ.

– Tại sao? Sao họ lại chết? Có phải cha ngài cũng giết nốt họ không?

– Không, cha ta không giết họ. Anh chị ta bị giết bởi… một con quái vật. – Reginald nói nhỏ, mắt hướng xuống sàn nhà.

– Reginald, tôi rất tiếc. Con quái vật đó sẽ phải trả giá vì tội ác của nó!

– Phải rồi… – Reginald hơi nhếch mép.

Olivia vốn không tin tưởng những người đàn ông — đặc biệt là những người đàn ông trẻ; nhưng, có cái gì đó ở khiến Reginald khiến ngài khác với tất cả những gã đểu cáng mà cô bé biết. Lắng nghe lời trải lòng của ngài về việc bị bắt nạt bởi những người chị gái trong gia đình, nhóc cho rằng giữa Reginald và người anh lớn Alexander hẳn phải có một sự gắn bó tình cảm đặc biệt nào đó — thứ tình cảm khiến Reginald trở nên yêu quý những người đàn ông hơn là phụ nữ, cũng là lí do khiến Reginald hoàn toàn vô hại với những bé gái như Olivia.
Vậy, Olivia đã hiểu ra, theo cách của riêng của con bé?

– Reginald này, ngài hãy trả lời tôi thật lòng được không?

– Gì nào?

– Có phải ngài không thích phụ nữ, chỉ thích đàn ông?

– Ai bảo ngươi vậy?

– Reginald, tôi không ghét ngài nếu ngài thích đàn ông đâu. Tôi, tôi hiểu tình dục là gì! Anh ngài không bắt nạt ngài, nên ngài yêu anh ấy, và ngài yêu những người đàn ông khác. Chỉ như vậy mới giải thích cho việc tại sao ngài không kết hôn với Earlene, và ngài không bao giờ… với tôi. – Olivia rùng mình ôm lấy hai cánh tay.

Reginald cảm thấy bức xúc, không phải cho anh mà cho Olivia. Tại sao một đứa trẻ mười bốn tuổi lại có những thứ suy nghĩ như vậy? Có phải quãng thời gian sống cùng với Renato đã khiến tâm hồn non nớt kia bị tổn thương tới méo mó?

– Ngươi cho rằng bất cứ người đàn ông nào ở cùng một cô gái yếu ớt thì sẽ…?

Olivia gật đầu, bắt đầu thở gấp:

– Khi còn nhỏ tôi vẫn hay ngồi lên lòng Renato, vì hắn cho phép tôi và luôn tỏ ra vui vẻ mỗi khi tôi làm vậy… Renato nói với tôi rằng hắn yêu tôi—và muốn có được những khoảng thời gian riêng tư, vui vẻ bên tôi; nhưng tôi—tôi… Là lỗi tại tôi, phải không? Chỉ vì tôi ngộ nhận…

Reginald chợt nhận ra gã thiếu nhạy cảm làm sao. Không ít lần gã đã tỏ ra cau có với cách thể hiện tình cảm của Olivia, khiến con bé nghĩ rằng đó là một việc làm gây khó chịu cho người khác. Rơi vào cảnh mồ côi, bị cướp đoạt cái quý giá nhất của cuộc đời, bị hủy hoại cả sự hồn nhiên của con trẻ, sống lay lắt nay đây mai đó — đâu phải là lỗi của nó. Giá như ngày hôm đó Reginald cương quyết giữ Olivia ở nhà, anh thà bị nó chửi là đồ chuyên đi bắt nạt và áp đặt còn hơn để Renato cấu bộ móng vuốt bẩn thỉu của hắn lên người con bé.

– Reginald, không phải vì Renato hận ngài nên trút giận lên tôi đâu! – Olivia hoảng hốt kéo tay Reginald lại. – Là lỗi của tôi mà! Nếu tôi khôn ngoan và mạnh mẽ hơn… Nếu tôi không bị lung lay trước những điều hắn nói…

– Ta không quan tâm Renato nghĩ gì về ta. – Reginald nói nhỏ, dù biết mình đôi khi cũng có những suy nghĩ không hay về Olivia. – Ngươi cũng đừng bận tâm đến hắn. – Anh chỉ vào yết hầu của mình. – Nếu bất cứ kẻ nào có ý định hại ngươi, đấm thật mạnh vào đây.

– Tôi biết. Khi ở rạp xiếc, tôi đã làm vậy để chạy thoát. Tôi chỉ muốn hắn chết đi!

– Nếu muốn hắn chết, ngươi phải giết hắn bằng cán ô của ta. – Và Reginald nhận ra đây là cơ hội tốt để đánh lạc hướng đứa nhóc. – Ngươi đã từng đâm ta bằng dao nhưng ta đâu có chết.

– Phải đấy, tôi vẫn thắc mắc tại sao cái ô của ngài lại không giết được người.

Reginald khoanh hai tay trước ngực, cúi đầu lại gần Olivia, nói nhỏ:

– Ma cà rồng hồi phục vết thương rất nhanh, chỉ có bạc mới ngăn được quá trình ấy lại.

– Thì ra là vậy! Tôi thích cái ô của ngài rồi đấy. Ngài có thể cho tôi mượn không?

– Nặng lắm nhóc. Ngươi có thể mang nó theo mình 24/7 chứ?

– Bạc nhẹ mà? – Olivia chau mày.

– Bạc nhẹ, nhưng mềm. Điều khiến cái ô nặng là lớp vỏ bên ngoài được làm bằng thép để bảo vệ phần bên trong. Chẳng cần tháo cán ra, ngươi vẫn có thể thoải mái dùng ô của ta đánh gãy tay ai đó. Nhưng, hãy nghĩ kĩ trước khi có ý định làm tổn thương người khác. Ngươi không biết mình sẽ phải đối mặt với những gì sau khi giết người đâu…

Olivia liếc qua đôi mắt của Reginald, con bé luôn thích cái nhìn thẳng mỗi khi ngài ấy bày tỏ suy nghĩ về chuyện gì; như vậy trông rất mạnh mẽ, chân thành và đáng tin cậy. Cứ mỗi lần nói, vài sợi tóc dài lại rủ xuống che một bên lông mày của Reginald, và anh lại phải vuốt ngược lên. Không muốn quá trình nói cứ bị gián đoạn, Olivia vén nhanh lọn tóc đen kia ra sau tai người ấy.

– Nhóc! – Reginald lắc đầu, tỏ ra khó chịu. – Ta chợt nhớ ra, hôm nay ta phải đến trường của ngươi.

– Kệ! – Olivia bĩu môi xuống.

– Nếu ngươi muốn nghỉ học thì cũng cần phải tới nói chuyện đàng hoàng. Mười lăm phút, lên phòng và chuẩn bị đi. Nhớ mặc thêm áo.

* * *

Reginald cùng Olivia đi tới trường học của thị trấn. Một trong những điều anh thích nhất ở mùa đông là bầu trời âm u cả ngày dài. Cái lạnh có gây ảnh hưởng cho gã ma cà rồng, nhưng không đến mức khó chịu như với con người. Nhờ có những đám mây dày che hết ánh mặt trời, Reginald không còn phải lo việc che chắn hay mang theo ô mỗi khi đi ra ngoài nữa. Olivia vốn đang quen với nhiệt độ ấm áp bên trong tòa lâu đài, việc tiếp xúc đột ngột với những cơn gió lạnh khiến gương mặt con bé tái lại.

Olivia ngồi chờ ở hành lang trong lúc Reginald trao đổi ở phòng bà hiệu trưởng. Cô bé áp sát tai vào cửa, cố gắng nghe ngóng.

– Ngài thấy đấy, van Schoolderwalt là một đứa trẻ— chúng tôi nói sao cho phải đây — không được bình thường? Cô bé đã cắn năm bạn cùng lớp, NĂM, thưa ngài. Vết sẹo trên tay Catherine đến giờ vẫn còn. – Bà hiệu trưởng nhìn Reginald, cho rằng có lẽ vấn đề ở đây không phải là do Olivia, mà là người giám hộ của con bé. Việc lớn lên trong cảnh mồ côi, lại thiếu sự quan tâm và giáo dục đã tác động tiêu cực lên đứa trẻ này.

– Bản thân tôi không muốn dung túng cho hành vi của Olivia, thật lòng; nhưng, không lẽ bà và những giáo viên khác không nhìn ra được nguyên nhân sâu xa tại sao con bé lại làm vậy?

– Ý ngài là gì? Ngài cho rằng van Schoolderwalt không có lỗi?

Hiệu trưởng không đồng tình với điều Reginald nói. Bà ta lấy ra từ trong ngăn kéo một đống gì đó như nắm bùi nhùi, có lẫn những đám xù xì màu nâu và vàng như tóc người. Reginald rùng mình. Thật tội nghiệp cho đứa trẻ nào phải đi học với cái đầu trọc lốc một mảng, nó sẽ bị trêu chọc chẳng khác gì Olivia.

– Đây là tóc của những học sinh đã bị van Schoolderwalt giật. Cô gái trẻ này ngang nhiên giật tóc và tấn công bạn cùng lớp. Tội nghiệp Catherine, lúc nào cũng bị nhắm đến đầu tiên!

Reginald lắc đầu chán nản. Dù không muốn lấy khiếm khuyết về ngoại hình của Olivia ra để làm thứ ngụy tạo lòng thương với người khác, nhưng rõ ràng những đứa trẻ cần được dạy dỗ lại về cách cư xử phải là con bé Catherine xấu tính và đồng bọn của nó, không phải Olivia. Nếu chúng không xúm lại chửi rủa, đặt biệt danh và bêu xấu Olivia, con bé việc gì phải phản ứng như vậy. Reginald không muốn gì hơn ngoài việc Olivia được đối xử bình thường như những đứa trẻ khác, nhưng xem ra anh không đủ khả năng.

– Van Schoolderwalt không thể tiếp thu bài vở, không thể giao tiếp một cách tự nhiên với những đứa trẻ cùng trang lứa. Nói ngắn gọn, đây là một học sinh cá biệt.

– Thứ lỗi cho tôi, vì đã là một người nuôi dạy kém cỏi. Nhưng tôi không thể ép Olivia phải làm điều nó không thích, hay ở một nơi nó không cảm thấy thoải mái.

– Đó là ý kiến của ngài. – Bà hiệu trưởng nhấc gọng kính ra. – Ngài đã suy nghĩ kĩ về điều đó chứ?

– Tôi đã nghĩ kĩ, đã quyết định và đã làm, từ trước tới nay. Cảm ơn bà. Trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục Olivia thuộc về tôi, tôi sẽ cố gắng hết khả năng. – Reginald gật đầu, bước về phía bà ta. Do lúc đó đứng ở chiều không thuận, anh tiện cầm lấy bút ký giấy xác nhận thôi học của Olivia bằng tay trái.

Cánh cửa phòng bị kéo ra, Olivia giật mình lùi về phía sau. Con bé nhìn lên, nhận ra sự kiên định trong ánh mắt Reginald giờ đã không còn.

Olivia lẽo đẽo đi bộ phía sau Reginald, qua quảng trường Forest Hill ngập tràn trong sắc xanh của những cây thông nhỏ và sắc đỏ của vòng hoa thắt ruy băng. Cuộc trò chuyện nghe trộm được ở phòng hiệu trưởng khiến nó thấy có lỗi vô cùng vì những việc làm trước đây.

– Reginald, ngài chỉ nói như vậy vì tôi đúng không?

– Ta không muốn ép ngươi. – Reginald nhún vai.

– Vậy lần sau đừng bắt tôi rửa bát hay học Hình học nữa nhé! – Olivia lè lưỡi ra và cười.

– Không được. – Reginald ẩn nhẹ vào đầu con bé.

Olivia dù sao cũng đâu quan tâm cho lắm tới trường lớp, cuối cùng nó đã được giải thoát. Thà bị Reginald mắng mỏ với cây thước gỗ lăm lăm trên tay còn hơn phải đối mặt với Catherine chảnh chọe và chịu đựng đám bạn của nó mỗi ngày.

– Reginald, sao ngài không mua vòng hoa? – Olivia muốn chuyển đề tài sang cái gì đó vui vẻ hơn, chỉ luôn về phía một chiếc vòng hoa để minh họa cho câu hỏi.

– Có vấn đề gì không? – Reginald thờ ơ đáp, rồi chợt nhớ ra Giáng sinh sắp tới. – Ý ta là tại sao phải mua khi ngươi có thể tự làm. Ngươi chỉ cần vài cọng dây kẽm, ruy băng, chút lá họ thông, quả thông và quả nhựa ruồi…

– Có nhất thiết phải làm như vậy không? Tôi thấy có nhiều vòng hoa khác nhau mà? – Olivia gãi đầu.

– Thật ra, ngươi có thể dùng bất cứ loại lá và hoa nào mình muốn, miễn là chúng đẹp một cách hài hòa. Như người Hy Lạp sẽ lấy ngươi ra làm vòng đội đầu cho nhà vô địch, Nhành-Ô-liu ạ. – Reginald chạm nhẹ lên mũi Olivia, khiến cô bé giật mình. – Thường, lá thông, gỗ đỏ hay hoàng dương được ưa dùng vì chúng là loại cây mùa lạnh, lại tươi lâu. Hơn nữa, cây thông cũng là biểu tượng của tình yêu thương, nghị lực kiên cường và trường thọ.

– Giống như ngài. – Olivia hồn nhiên đáp.

Reginald lắc đầu và cười. Anh hơi cúi xuống, để lộ dáng người lòng khòng.

– Không…

– Tại sao không? Ngài sống lâu, thẳng thắn và tôi chưa thấy ngài khóc vì điều gì bao giờ. Tôi ngưỡng mộ ngài lắm!

Không thấy thoải mái khi ai đó nói ra cảm nhận của họ về mình, Reginald lảng sang chuyện khác.

– Nhóc… Sắp tới trưa rồi, ngươi muốn ăn gì không?

– Tôi muốn cà phê sữa và “Petits Fondants au Chocolat” (bánh sô cô la nhỏ). – Olivia reo lên đầy phấn khởi, chỉ tay về phía quán café Jazz.

– Đó không phải là món thích hợp cho bữa trưa. – Reginald chau mày.

– Nhưng ngài hỏi tôi muốn gì, tôi muốn cà phê sữa và bánh sô cô la. Chính ngài đã nói ngài sẽ làm những gì tôi muốn vì hôm nay là sinh nhật tôi.

Thoáng thấy bóng cô gái mặc đồ đen đứng bên ngài thị trưởng, nụ cười trên môi Reginald lụi dần. Anh quay nhanh mặt sang hướng khác.

– Reginald, ngài có nghe không đấy? Ngài muốn ăn bánh cùng tôi không? Hay là ngài không thích đồ ngọt? – Olivia cảm thấy khó chịu khi bị lờ đi như vậy. Cũng giống như lần đầu tiên gặp nhóc, Reginald mải chìm trong suy nghĩ riêng tới quên hết mọi thứ đang diễn ra xung quanh.

– Không. Tất nhiên là được. – Reginald vội vàng trả lời.

– Tuyệt lắm! – Olivia kéo tay áo Reginald đi.

“… Forest Hill của chúng ta được biết đến như là thánh địa của rừng thông trên đồi. Cây thông là điểm nhấn của toàn bộ thị trấn này, và nó cũng sẽ là nơi để đặt dàn đồng ca, phân phát quà cho người già và trẻ em. Không được phép làm qua loa, nhưng cũng không được tiêu xài phung phí, bởi ngân sách của chúng ta chỉ có hạn. Mục đích chính là tôn vinh tinh thần của ngày lễ. Tôi mừng vì giờ đã không còn cảnh rừng thông xơ xác sau mỗi lần chặt phá vô tội vạ…”

Thị trưởng đang nhắc nhở một số người trong thị trấn về kế hoạch cho đêm Giáng sinh. Dù bận trao đổi, ông vẫn để ý thấy sự xuất hiện của con trai và suýt chút nữa thì không nhận ra cô bé Olivia ngày nào với mái tóc được tết lại. Con ông chưa từng cười nhiều như vậy kể từ khi Robert và Desdemona ra đi. Còn Olivia – từ một đứa trẻ thông minh nhưng hoang dã như chú sói nhỏ – giờ ngày càng trở nên sạch sẽ, yếu ớt và lệ thuộc. Arthur biết sự gắn bó giữa hai con người, đến một mức nào đó, có thể tác động lên cả ngoại hình lẫn tính cách của nhau. Từng chút một, họ dần thay đổi chính mình vì nhau mà không hề biết.

Arthur hơi nhếch môi cười, ông liếc nhanh qua cô trợ lý của mình và trở lại với công việc.

Đứng bên ngài thị trưởng, Gina im lìm và mờ nhạt như một cái bóng. Bắt gặp Reginald đi bên Olivia , trong lòng cô thấy nặng nề và buồn bã, mong ước mình được như em gái vô tư đó. Gina chưa bao giờ được ai hỏi xem cô thích ăn gì, làm gì, hay cô được chào đời khi nào. Gina muốn có một người bạn dù không bao giờ nghe thấy những lời cô nói nhưng vẫn quan tâm tới cô. Cô yêu Joseph, nhưng lại quá tự ti để có thể thổ lộ với cảnh sát trưởng. Bắt gặp đôi mắt Reginald vô tình liếc qua mình, Gina ngoảnh mặt, tự quở trách bản thân vì đã ghen tị nhỏ nhen với một cô bé.

* * *

– Xin chào! – Olivia đẩy cánh cửa quán, vẫy tay với người phục vụ.

Reginald kéo một chiếc ghế cho Olivia và ngồi vào chiếc còn lại ở phía đối diện. Mới là ngày hai mươi nhưng cô bé có thể cảm nhận được không khí Giáng sinh rạo rực ở khắp nơi.

– Chào cô bé. Em muốn gì nào? – Người phục vụ tới bàn của Olivia, mỉm cười.

– Cho em cà phê sữa và bánh sô cô la.

– Còn Trumpet, lại Absinthe hả? – Cô phục vụ cười cợt. Ai làm ở quán đó cũng đều biết gã chơi kèn hợm hĩnh thích uống Nàng tiên xanh đã bị đuổi.

– Trà thôi, cảm ơn.

Nghe thấy “Trumpet”, Olivia nhớ lại lúc Reginald chơi kèn ngẫu hứng ở gánh xiếc. Chắc hỏi thêm ngài ấy một hai câu trong lúc chờ đồ tới cũng chẳng hại gì.

– Này, ngoài Trumpet ra ngài còn chơi được nhạc cụ nào nữa không?

– Có. Ta chơi được Piano nữa. Nhưng, ta thích Trumpet và chơi nó lâu hơn cả.

– Tại sao vậy?

– Bởi Trumpet là “cái tôi”. Một thứ tưởng như dễ chơi nhưng phải mất cả đời mới làm chủ được.

Olivia gãi đầu, không rõ ý của Reginald là gì.

– Lúc mới tới Anh, tôi cũng gặp một nghệ sĩ đường phố chơi kèn. Chẳng ai để ý tới anh ta cả, vì anh ta bị mù. Tôi đã lợi dụng điều đó và, “thó” một chút tiền lẻ.

– Tại sao ngươi lại kể cho ta? – Reginald bật cười, nụ cười tự phụ thường thấy mỗi khi con bé ấy mắc lỗi.

– Tôi không biết nữa. Tôi cảm thấy có lỗi với anh ấy. Nếu không phải vì đói, tôi thật ra không muốn ăn cắp của ai đâu. Nhưng này, vì ăn cắp nên tôi mới gặp được ngài đấy!

Nụ cười tự phụ giờ trùng xuống. Ai lại đi cười một đứa bé day dứt vì quá khứ trộm cắp của nó?

– Reginald, tôi không có nhiều bạn, và người bạn mà tôi yêu quý nhất đã mất. Bị đánh đến chết. Mỗi lần nghĩ về cậu ấy, tôi lại khóc. – Olivia bẽn lẽn cười, cố gắng nuốt trôi giọt nước mắt và thứ giọng nghẹn ngào của mình lại. – Nếu ngài cảm thấy cưu mang tôi là cách duy nhất để chuộc lỗi với Desdemona, không sao đâu, tôi chẳng thấy có vấn đề gì cả.

– Không phải là chuyện Desdemona, nhóc à. – Reginald lắc đầu.

– Hay là vì tôi trông giống Desdemona? – Olivia cúi gằm. Con bé thỉnh thoảng vẫn cảm thấy tủi thân và tự hỏi mọi sự quan tâm Reginald dành cho mình có thật sự là cho mình, hay chỉ vì mình là vật thay thế người con gái kia.

– Chỉ là ta…

Đúng lúc đó, người phục vụ mang đồ Olivia gọi tới. Reginald quyết định không nên nói thêm, dù rất muốn cho cô bé biết về lời hứa của mình với Desdemona.

Reginald uống cốc trà. Anh uống nhưng nhìn vào Olivia và nhận ra nỗi buồn trong mắt cô bé. Sự kém cỏi trong diễn đạt khiến Reginald không muốn nhiều lời, sợ rằng sẽ làm ai buồn hay hiểu lầm.

– Hay là thế này, ngươi thưởng thức chỗ bánh đi. Về lâu đài ta sẽ cho ngươi xem một thứ.

– Thật hả? Là gì vậy?

– Ngươi sẽ biết thôi.

* * *

Seth dắt Colby ra ngoài chơi trong lúc bố cậu hít cocaine – loại thuốc giúp ông Coffin cầm máu và quên đi những cơn đau vì ho hắng triền miên, nhưng cũng khiến ông ngày càng lờ đờ, uể oải. Nếu như những ngày trước, chỉ một gói nhỏ là đã đủ cho Paul dứt cơn ho và tiếp tục làm việc, nay, ông cần tới ba gói lớn chỉ để cầm cự ngày qua ngày.

Seth lắc lư con hươu nhỏ trước mặt em, làm Colby nhoẻn miệng cười. Thứ đồ chơi đó được làm từ những mẩu kim loại cậu lụm được trên đường, trong những bãi rác. Có hai người đi từ phía quảng trường, cô bé đi bên cạnh người đàn ông áo đen mang nét gì đó rất quen. Đó là Olivia? Hôm nay Olivia trông thật khác!

– Olivia?

Vẫn còn đang bận cười đùa với Reginald, cô bé cáu kỉnh hướng về phía ai đó đã gọi mình.

– Chào Reginald và Olivia. Hai người đi đâu vậy? – Randolph đứng ở gốc cây gần đó cũng lại gần. Cậu bắt tay Reginald và mỉm cười.

– Hôm nay là sinh nhật thứ mười bốn của nhóc này. – Reginald hơi nghiêng đầu về phía cô bé.

– Đã mười bốn tuổi sao? – Randolph ngạc nhiên vô cùng. – Dù sao thì cũng chúc mừng sinh nhật nhé, quỷ lùn!

Olivia khúc khích cười với biệt danh Randolph đặt cho mình.

– Cảm ơn anh!

– Reginald, ngài có rảnh một phút không? – Randolph nhìn Reginald, chĩa ngón cái ra phía sau lưng.

– Ngươi về lâu đài trước đi. – Reginald chỉ nói vậy với cô nhóc, sau đó đi rất nhanh theo Randolph.

Seth bẽn lẽn lại gần Olivia. Hơi chạm tay vào dải tóc đuôi lợn, cậu ấp úng:

– Cậu, hôm nay cậu trông khác quá. Cậu làm gì với tóc vậy?

– Tết vào thôi mà. – Olivia kéo tóc của mình ra. – Có việc gì không?

– À không, chỉ là tớ lâu rồi chưa gặp cậu. Kể từ lúc có đoàn xiếc tới đây.

– Cậu không tới đó à Seth?

– Không. – Seth lắc đầu. – Tớ ghét nhìn những con vật mặc váy xòe múa may lắm. Người ta đánh đập, chọc thủng tai chúng chỉ để làm trò mua vui.

– Tớ hiểu… – Olivia nói nhỏ, chợt thấy bẽ bàng.

Reginald kéo Randolph vào một góc khuất, anh ngó sang hai bên để chắc chắn rằng không có ai ở quanh đó nghe được cuộc nói chuyện này.

– Là chuyện về lũ ma cà rồng đúng không?

– Sao ngài biết? – Randolph ngỡ ngàng. Cậu còn chưa hề đề cập về bất cứ thứ gì.

– Cha tôi vẫn còn sống. Ông ta là tin xấu cho tất cả chúng ta, nhất là cho tôi. – Reginald không giấu giếm. Randolph không phải là Olivia, cậu ta hiểu được chuyện gì đang xảy ra ở thị trấn này.

Randolph lấy thuốc lá ra hút. Cậu ngồi bệt xuống đất, cánh tay buông thõng.

– Cha ngài? Ông ta có liên quan gì tới lũ ma cà rồng?

– Tôi không rõ. – Reginald lắc đầu. Bản thân anh cũng biết những lời mình nói chẳng ra đâu vào đâu. – Cha tôi không bao giờ tự mình nhúng tay vào những việc bẩn thỉu. Chúng ta không thể nào biết ông ta đã lôi kéo được những ai đâu.

Tạm ngừng lại để hít thở, Reginald lại lấy tay hất tóc mái.

– Mọi nhất cử nhất động của tôi đều bị cảnh sát để ý tới. Tôi không thể và tôi cũng không muốn làm gì dính dáng đến giết chóc cả! Tại sao tôi không được sống yên ổn?

Randolph nhướn mày. Một Reginald chậm chạp và lầm lì, suốt ngày ẩn nấp trong tòa lâu đài cũ kĩ là những gì mà người đang đứng trước mặt cậu bình thường vẫn thể hiện ra. Gã thật sự muốn được sống yên, không muốn quấy rầy ai hoặc bị ai làm phiền; hay gã cần được yên tới mức sẽ tìm mọi cách để khử bất cứ kẻ nào dám động tới sự “yên ổn” của gã? Nghĩ như vậy, cậu bỗng thấy do dự. Có nên chia sẻ với Reginald về những điều cậu nắm được hay không?

– Reginald, có điều này tôi cần ngài biết. Về Joseph, ông ta—ông ta biết về sự tồn tại của ma cà rồng.

– Tôi biết. Và cảnh sát trưởng cũng không ưa gì loài của tôi. – Reginald gật đầu. – Joseph đã vài lần ẩn ý với tôi về điều đó rồi.

– Quan trọng là cái xác của John-Michael. Nếu cảnh sát tìm ra được hung khí, và dấu tay chân trên hiện trường trùng khớp, tôi e là ngài sẽ bị kết án tử hình và Olivia…

– Tôi không để ai cướp con bé đi đâu. Nó đã chịu đựng quá nhiều điều khốn nạn rồi!

– Reginald, tại sao ngài không phi tang cái xác đi? – Randolph thắc mắc. Rõ ràng Reginald đủ khôn ngoan và kinh nghiệm để không làm bản thân bị phát giác.

Reginald đan chặt hai bàn tay vào nhau, cảm thấy thật ngu xuẩn. Đâu thể quở trách ai ngoài chính mình vì đã bất cẩn, khi mà John-Michael không phải là quỷ hút máu đầu tiên chết dưới tay gã ma cà rồng bất tử này. Ngày hôm đó, gã đã tự nhắc nhở mình sau khi đưa Olivia trở về, cần phải quay lại túp lều giấu cái xác và xóa dấu vết ngay lập tức. Nhưng sự xuất hiện và lời đe dọa của Renato, rồi tâm trạng bất ổn trước bệnh tình của Olivia, cái tên Michael ấy gần như không còn hiện hữu trong tâm trí Reginald nữa. Gã không ngờ mình lại có thể chủ quan đến khó hiểu như vậy. Và giờ, gã sẽ phải trả giá.

– … Tôi đã phạm sai lầm, hung hăng và bất cẩn. Chỉ là lỗi của tôi. – Reginald thở dài. – Không thể để Olivia bị liên lụy, con bé vô tội.

Randolph có thể nhìn thấy được sự sự bế tắc hiện rõ mồn một trong đôi mắt và giọng nói nặng nề của Reginald. Cậu vẫn chưa thể hiểu hết về con người này, nhưng bản năng của một người anh mất em và một đứa con mất bố mẹ mách bảo cậu hãy làm điều gì khiến mình không phải cắn rứt lương tâm về sau. Sau những gì cậu đã tận mắt chứng kiến, Reginald rõ ràng không phải là một người quá tốt, nhưng gã cũng chưa bao giờ chủ động làm điều xấu với ai.

– Reginald… – Cậu nhà báo cúi sát lại gần Reginald, thì thầm một lúc. Reginald lắng nghe rất chăm chú, thỉnh thoảng anh lại gật đầu.

– Cảm ơn cậu. – Reginald thể hiện sự cảm kích bằng một cái siết tay thật chặt, sau đó vỗ nhẹ lên vai anh chàng nhà báo trước khi rời đi.

* * *

Tối hôm đó, thị trưởng lấy ra một thanh kiếm đặt ở trên lò sưởi để đánh bóng trong lúc đợi Gina trầm lặng pha trà. Cô trợ lý của Arthur nhẹ nhàng đặt khay ấm chén lên bàn rồi ngồi lùi lại sau ghế, ngỏ ý mời ông.

– Cảm ơn, Gina. – Arthur mỉm cười.

Chờ cho thị trưởng yên vị thưởng thức, cô gái giơ ngón trỏ lên ngang hàng khuy áo như một lời xin phép.

– …

– Ta biết cô đang cảm thấy có lỗi, Gina. Sự bất cẩn của cô đã tạo điều kiện cho Joseph tiến được thêm một bước gần hơn về phía Reginald. Cô biết nếu Reginald bị bắt, điều gì sẽ xảy ra chứ? Chúng ta không thể để Reginald bị bắt đi. Họ sẽ giết chết anh ta, sau đó là tới Olivia. Lúc đó ta không cứu nổi hai người ấy đâu.

Gina lấm lét nhìn Arthur.

– Gina yêu dấu, hẳn là cô đang thắc mắc tại sao ta lại dành sự quan tâm đặc biệt của mình tới một anh chàng và cô bé vô danh nào đó tới vậy. Với những người bình thường, Reginald và Olivia chẳng là ai; nhưng với loài chúng ta, họ là hy vọng duy nhất.

Arthur ngừng nhâm nhi, để chiếc chén xuống bàn. Một tay ông đặt lên trên tay Gina, nắm thật chặt, cánh tay còn lại choàng lên cô gái.

– Khi biết Reginald trở lại nơi này, ta đã cố gắng dàn xếp mọi thứ… Reginald là tất cả đối với ta, cậu ấy là một ma cà rồng bất tử nguyên bản, và là con trai ruột duy nhất của ta còn sống.

Hai chữ “con trai” khiến Gina choáng váng. Môi cô mấp máy không lên lời, đôi tay thì run rẩy tới mức Arthur phải ghì chặt xuống, ngăn cô khỏi làm đổ vỡ thứ gì trong lúc mất bình tĩnh. Không thể ngờ Arthur lại giấu cô điều đó cho tới tận bây giờ.

– Shh… Yên nào, Gina. Đây là bí mật của chúng ta. – Arthur lấy tay mình chặn nhẹ lên môi cô gái. – Làm ơn hãy bình tĩnh và kiên nhẫn, rồi ta sẽ nói với con trai về chúng ta…

* * *

Reginald dắt Olivia đi qua sảnh lớn phía sau phòng khách, mang theo một vỏ đĩa nhạc. Olivia chưa bao giờ được phép lại gần khu vực này chứ đừng nói là chơi đùa ở đó, cho tới bây giờ.

– Chúng ta đi đâu vậy? – Olivia nhìn theo những bức tranh khổ lớn trên tường, chúng đều ẩm mốc và bị bụi che mờ.

– Cho ngươi biết một sự thật: đây không phải là lần đầu tiên ta quay trở lại lâu đài. Về cơ bản, nơi này không thay đổi quá nhiều trừ hệ thống điện nước, nhà tắm ta lắp đặt thêm; cùng một phần tháp bị dỡ bỏ do quá xập xệ. Mỗi khi có dịp, ta lại trở về để dọn dẹp và tu sửa.

– Chẳng trách. Chắc ngài tốn nhiều tiền và công sức lắm. – Olivia gật gù. Cô bé chưa bao giờ thắc mắc tại sao một tòa lâu đài cổ lại có những thiết bị tiện nghi và ít xuống cấp tới vậy. – Dù sao thì nó cũng là nhà của ngài mà, ngài có trách nhiệm chăm sóc cho nó. Ngài muốn nói thế đúng không?

Dừng lại ở căn phòng bên phải, Reginald gãi nhẹ lên đầu.

– Nhóc, ngươi có nghĩ lần trở về này của ta chỉ là một sự trùng hợp? Hay, đó là món nợ ta phải trả cho Desdemona?

– Cuộc sống còn nhiều điều kỳ diệu mà, tôi nghĩ chúng ta gặp được nhau là nhờ định mệnh. – Olivia cười tinh nghịch, tự thấy điều mình vừa nói nghe sao mà “to tát”.

– Ta có “ác” với ngươi quá không?

– Một chút. – Olivia giơ cao ngón trỏ và ngón cái, kẹp chúng sát vào nhau. – Nhưng…

– Trước đây, khi còn sống ở lâu đài, phòng khách chỉ là nơi tiếp khách và dùng bữa trà điểm tâm. Ta khá thoải mái khi cho ngươi được phép ăn và chơi đùa ở đó đấy. – Reginald đẩy hai cánh cửa gỗ. – Bởi vì…

Olivia bước vào trong, nằm giữa căn phòng là một chiếc bàn gỗ bị gấp lại làm bốn. Ở đây có vẻ hơi hẹp về chiều rộng, nhưng rất dài về chiều ngang.

– Reginald, có phải đây là phòng ăn? Tôi thấy những gia đình quý tộc luôn ngồi trên những chiếc bàn thật dài, mỗi thành viên lại có một chiếc chuông để gọi người hầu hạ.

– Đúng vậy. – Reginald gật đầu.

– Cái bàn ấy đâu rồi?

Reginald kéo hai đầu bàn ra xa nhau rồi lật những tấm gỗ lên. Olivia trước đây luôn tưởng rằng cần phải mất rất nhiều người và sức lực để mang một chiếc bàn vướng víu như vậy vào nhà, ai ngờ nó gấp lại được.

– Tuyệt quá! – Con bé trèo lên ghế và chạm lên mặt bàn. Nó giả vờ cầm một chiếc li, gõ vào không khí. – Người đâu, mang cho ta sâm panh!

– Chúng ta không nói như vậy. – Reginald bật cười, quỳ xuống bên cạnh nhóc. – Quý cô của ta, nàng muốn gì vào ngày đặc biệt này?

Olivia đỏ bừng mặt và phá lên cười.

– Hãy đưa tôi tới tiệc khiêu vũ.

– Như nàng muốn. – Reginald gật đầu, rồi anh cũng phải phì cười.

Reginald dắt Olivia ra khỏi phòng ăn, tiến về phía hành lang cuối cùng, nơi chiếm nhiều diện tích nhất của lâu đài – phòng khiêu vũ. Cô bé nín thở khi cánh cửa gỗ màu nâu khắc biểu tượng hoa Lys cách điệu khổng lồ dần hé mở.
Lớp bụi mỏng giữa hai khe cửa bay ra ngoài. Quý cô của Reginald chậm rãi bước vào trong, mỗi bước một nhanh dần vì sự háo hức và tò mò đang cuộn trào. Reginald bật tất cả công tắc, toàn bộ phòng khiêu vũ bừng sáng trong ánh đèn trắng vàng lung linh.

– Chà!

Tiếng thốt đầy thích thú của đứa trẻ vang đi khắp nơi. Cô bé chạy lên bậc thang dẫn tới phía trên của phòng khiêu vũ, phóng tầm mắt xuống dưới. Bức tường bên phải được đặt những khung cửa kính khổng lồ cách đều nhau cao gần tới trần nhà, hai bên phủ rèm nhung màu kem sẫm thướt tha. Bên trái bức tường, ngự hai chiếc lò sưởi lớn để đảm bảo không khí trong phòng vẫn thoải mái vào mùa đông. Toàn bộ tầng hai của phòng khiêu vũ gắn đèn tường bóng kép màu trắng, ngay cả những góc khuất cũng được chiếu sáng một cách dễ chịu.

Reginald đứng ở phía dưới, ngước theo vẻ mặt đầy say mê của Olivia bé nhỏ, mỉm cười. Trông bóng Reginald in xuống mặt sàn đá hoa cương (granite) bóng loáng, Olivia tưởng tượng những bước chân uyển chuyển của mọi người lướt trên mặt đá phản chiếu ánh đèn ấy hẳn sẽ tuyệt vời và cuốn hút đến nhường nào. Và tất nhiên, ai có thể quên được chiếc đèn chùm pha lê tráng lệ ở chính giữa trần nhà. Đèn chùm là biểu tượng của sự xa hoa và đẳng cấp, là vật không thể thiếu, là linh hồn của tiệc khiêu vũ. Còn gì đẹp hơn ánh nến lung linh được những mảnh thủy tinh đủ màu sắc khuếch tán khắp căn phòng?

– Reginald, tại sao ngài không cho tôi tới đây lúc trước? – Olivia hoàn toàn choáng ngợp trước sự lộng lẫy của nơi này.

– Ta muốn để dành cho những dịp đặc biệt, như hôm nay chẳng hạn. – Reginald chạy máy phát nhạc. Anh bước nhanh lên khán phòng, nơi Olivia đang đứng. – Ngươi biết điệu Valse (Waltz)?

– Ngài làm gì vậy? – Olivia ngạc nhiên khi thấy lòng bàn tay Reginald hướng về phía mình. – Tôi không biết nhảy.

– Đừng lo, ta nhảy xấu lắm. Valse cũng đơn giản thôi.

Reginald dắt Olivia xuống dưới, ra vị trí trung tâm căn phòng. Cô bé nín thở, tay phải nắm lấy tay trái của bạn dẫn, tay trái đặt lên vai anh. Âm thanh sâu lắng và hoài niệm của violin vang lên, cộng hưởng cùng tiếng kèn Pháp mãnh liệt bắt đầu điểm theo nhịp một, hai, ba…

– Ngươi chỉ cần làm theo ta và giẫm lên chân ta thôi. – Reginald đỡ lấy Olivia. Anh tiến lên phía trước, hơi nghiêng người cô bé. Họ bắt đầu khiêu vũ chậm rãi dưới ánh đèn chùm. – Hầu hết chỉ là những động tác lặp lại, và lặp lại theo người dẫn.

– Reginald, tôi… – Olivia bước trở lại về Reginald, hoàn toàn không thốt nên lời.

– Cứ tận hưởng khoảnh khắc này đi.

Những động tác đánh tay và bước đi bắt đầu nhanh hơn. Olivia ngả về bên trái, vô tình đá vào chân Reginald, cười ngượng ngùng.

– Tôi muốn biết về lời hứa của ngài với Desdemona. – Olivia chụm chân lại, bước lùi xuống.

– Không một người nhà van Schoolderwalt nào phải chết dưới tay ma cà rồng, đó là lời hứa của ta. – Reginald nhấc tay, xoay Olivia nhẹ một vòng.

– Tại sao ngài chưa bao giờ hút máu tôi? – Olivia bật cười.

– Ta không có hứng thú với máu người. Tanh lắm, lại mặn lờ lợ nữa. – Reginald dẫn Olivia bước sang ngang, hơi nhìn xuống, tránh ánh mắt của Olivia. Những lời anh nói chỉ một nửa là sự thật. – Tuy nhiên, máu của dòng họ van Schoolderwalt mang theo một mùi đặc trưng, có chút gì đó giống với hoa oải hương.

– Hoa oải hương? – Olivia đưa chân trái về phía sau, hơi ngả xuống. – Renato cũng từng nói với tôi rằng tôi có mùi hoa oải hương…

Reginald lùi lại, chụm chân sang phải.

– Ngươi đã từng làm trẹo chân Michael, vô hiệu hóa cánh tay của kẻ khống chế mình. Nếu không phải vì ta bất tử, ngươi cũng đã đoạt mạng ta chỉ vì một cái đồng hồ lên dây cót mà ngươi tưởng là hỏng. Tại sao một đứa trẻ nhanh trí như ngươi lại khờ khạo vậy?

Olivia bật cười.

– Tại sao ngài lúc nào cũng coi tôi như trẻ con?

– Vì ngươi vẫn chỉ là trẻ con.

– Ngài thấy tôi đáng ghét lắm?

– Không, ngươi chỉ phiền nhiễu thôi. Ngươi mười bốn tuổi rồi, ta biết ngươi quý ta, nhưng ta đâu thể lo cho ngươi mãi.

– Tôi trưởng thành hơn rồi mà. Nếu ngài gặp tôi của hai năm trước, ngài sẽ còn ghét tôi hơn nhiều. – Olivia tiếp tục xoay theo cánh tay của Reginald. – Cảm ơn Reginald, vì đã mời tôi nhảy cùng. Ngài có muốn gì cho Giáng sinh không?

– Ta không cần gì cả nhóc ạ, miễn là ngươi ở đây. – Reginald nói nhỏ, mong rằng điều mình muốn chỉ đơn giản như điều mình nói.

– Tôi sẽ không bỏ rơi ngài đâu. Tôi hứa đấy.

– Ngươi không thể hứa những điều chưa chắc mình sẽ làm được trong tương lai.

– Chẳng phải ngài cũng hứa với Desdemona một điều ngài không thể chắc chắn? Ngài đã thực hiện được nó rồi còn gì! – Olivia nắm chặt lấy tay Reginald, không hiểu tại sao ngài ấy luôn cảm thấy thiếu tin tưởng.

Reginald thở dài. Anh nâng vai, kéo nhẹ Olivia về phía mình. Tiếng nhạc chậm dần báo hiệu điệu nhảy sắp kết thúc.

– Biết không nhóc, ngươi đúng đấy. Chúng ta không thể biết trước được những gì sẽ đến, nhưng chừng nào cả hai còn sống với nhau, hãy cố tốt với nhau, được chứ?

Olivia nhìn Reginald một lúc lâu, đôi mắt xanh lam tròn phản chiếu ánh đèn sáng long lanh. Nghĩ về những gì đã trải qua cùng những điều Reginald đã nói với mình, cô bé mỉm cười, ôm chầm lấy anh.

– Tôi yêu ngài.

– Ta biết. – Reginald đặt tay lên đầu Olivia, kéo nó vào lòng. – Sinh nhật vui vẻ nhé, nhóc.

Bản nhạc vừa tắt đúng lúc đôi bạn nhảy đứng lại, kết thúc một điệu Valse dặt dìu. Reginald mỉm cười buồn bã, cánh tay xoa lấy đầu Olivia ngốc nghếch buông dần ra. Anh liếc nhìn lên bầu trời đêm, vầng trăng đêm nay vẫn còn khuyết đi một góc nhỏ.

Ánh đèn trong phòng khiêu vũ rọi qua khung cửa sổ khổng lồ, chiếu sáng cả một khoảng lớn bãi cỏ bên ngoài lâu đài.

– – – – – – HẾT PHẦN 20 – – – – – –


"Phần 21. Những đêm trước Giáng sinh 1" bởi iamDage
– Em đặt một đầu dài hơn, sau đó vòng nó lên như thế này, chỉ cần thắt lỏng thôi… – Vừa nói, người anh vừa chỉnh chiếc ascot trên cổ em trai mình.

– Rồi sao nữa?

– Rồi em lồng nó qua cái nút, như thế này, rồi kéo lại và cho vào trong áo. Thế là xong rồi.

– Thắt ascot đơn giản quá! Nhưng, em không thấy nó giống như của cha?

– Cha thích để kiểu cách hơn một chút cho phù hợp với vị trí của mình thôi mà. Khi nào em lớn như anh, cha cũng sẽ cho em một chiếc gài khăn.

Người anh chỉnh lại chiếc khăn một chút nữa cho đẹp. Đúng lúc đó, cha hai cậu bé bước vào.

– Chà, chẳng phải đó là thứ đáng yêu nhất trên đời ta từng thấy sao! – Ông thốt lên, gương mặt không giấu được niềm hạnh phúc. Trước mắt ông, những đứa con mới ngày nào vẫn còn phải ẵm trong vòng tay mà giờ đã lớn hết rồi.

– Cha! – Người anh reo lên. – Cha nhìn này, cha thấy Reginald thế nào?

– Con dạy em tốt lắm, Alexander! – Arthur xoa đầu con trai lớn rồi quay về phía con út. – Reginald, con thích chiếc khăn này chứ?

– Vâng, con rất thích, thưa cha.

Reginald nhẹ nhàng đặt tay lên ngực, nơi chiếc ascot màu xanh rêu thẫm nằm ngay dưới cổ cồn cứng dựng cao, lấp ló giữa hai lớp áo; rồi quay ra ngắm chiếc khăn lụa màu tím than được đính ghim ngọc trai ở giữa của cha một cách chăm chú. Cậu mỉm cười, cảm thấy mình trông thật tao nhã và trưởng thành. Sẽ có một ngày nào đó, cậu bé đang đứng trước gương này trở thành một người đàn ông giống như cha, đeo chiếc ascot xanh gấp chéo hai bên được gài ngọc trai ánh xám đầy kiểu cách. Cậu sẽ đứng trên tầng, quan sát bữa tiệc quý tộc náo nhiệt, tay cầm ly champagne và chào hỏi khách tham dự, với tư cách là người tổ chức-chủ nhà.

* * *

(Hai ngày trước sinh nhật của Olivia)

Đã quá nửa đêm, đồn cảnh sát của thị trấn chỉ còn lại Brook. Cậu ta phải uống tới ba cốc cà phê đen nhưng sự quyến rũ của cơn buồn ngủ xem ra vẫn còn vương vấn. Brook ngáp nhiều tới nỗi mỏi cả miệng, ngả ngốn ra ghế.

Nhìn thấy cảnh sát trưởng từ xa, Brook giật mình thu dọn lại bàn.

– Chào Joe. Ờm, cà phê chứ?

– Không, cảm ơn. Chào Brook. – Joseph nói bâng quơ. Ông vào phòng mình rồi trở ra với quyển lịch và tập hồ sơ về John-Michael.

– Có chuyện gì không?

– Dấu chân để lại rất lớn và sâu. Gã giết John-Michael hẳn là khá to con và hung hăng, nhìn cái cách hắn “tẩn” tên này đã thấy đau rồi. – Ông cảnh sát nhớ lại lúc Reginald “tẩn” Renato.

– Đúng vậy. Hắn có lẽ vào khoảng sáu feet (180-185 cm), thấp hơn hoặc cao hơn một chút. Không hẳn là một chiều cao quá phổ biến, nhưng ai cũng có thể đạt được từng đó.

Joseph bật cười và ho dữ dội. Ông biết Brook vẫn chưa hiểu ý của mình, nhưng không giận cậu ta.

– Tôi không bắt các cậu phải lùng sục cả nước Anh rồi mang hết những gã cao từng đó về đây đâu con trai. Hung thủ vẫn ở trong thị trấn này, hắn chẳng trốn đi đâu cả. Hoặc là hắn muốn ở lại để bỡn cợt chúng ta, hoặc hắn bất đắc dĩ không thể đi đâu nữa.

– Sao ông lại khẳng định như vậy? – Brook ngạc nhiên.

– Tôi mới phát hiện ra thôi. Nói cho tôi về đặc điểm của vết thương trên cổ John-Michael đi.

Brook cau mày một lúc, không thích việc cảnh sát trưởng úp mở cho lắm. Thường ông ta chỉ như vậy khi đã phát hiện ra được điều gì mới.

– Vết đâm nhỏ, tương tự với kích cỡ của một thanh kiếm kỵ binh (cavalry sword) nhưng lại lê thẳng như của kiếm một mặt (backsword)1. Điều đáng nói ở đây là: Tại sao lại dùng kiếm? Chẳng phải một thanh kiếm khá dài và cồng kềnh, nếu sử dụng nó để gây án ắt sẽ gặp khó khăn trong việc mang nó bên mình và phi tang? Chưa kể đến trường hợp một người có kiếm ngang nhiên đi lại sẽ bị cảnh sát phát hiện ngay lập tức?

– Chính xác! – Joseph hướng bàn tay mình về phía Brook. – Không kẻ nào dại dột tới mức mang kiếm ra ngoài đường cả.

– Loại lưỡi kiếm này khắc phục được nhược điểm lãng phí lực chém của kiếm một mặt, nhưng hơi nhỏ. Căn cứ vào đường đi của vết chém2, tôi nghĩ hung thủ thuận tay trái, trình độ cũng không tới mức “đồ tể” (chỉ những kẻ dùng dao kiếm gượng tay, khác với Jack “the ripper”). John-Michael bị tình nghi là đã giết những cô gái điếm ở Croydon bằng cách cắn vào cổ họ, xem ra hắn cũng chẳng được “bình thường”. Nếu phải giết một tên điên rồ như vậy, tôi sẽ chọn súng hoặc những thứ gây được thương tích từ tầm xa. Tôi đâu muốn bị cắn đứt cổ đến chết.

1 Trước năm 1908, có ba loại kiếm phổ biến được dùng trong quân đội của nhiều nước châu Âu:

• Cavalry kiểu cũ của Anh: hình dạng tròn, nhỏ và nhọn giống như một ngọn giáo, dùng để đâm.

• Saber/sabre (cavalry hạng nặng, dựa theo hussar’s saber của Pháp): có phần lưỡi cong và chém được ở cả hai mặt.

• Backsword: mảnh và thẳng, dùng để chém, nhưng chỉ cắt được một mặt như lưỡi dao.

Năm 1908, ra đời cavalry saber – loại kiếm cải tiến dựa theo mẫu saber của Mỹ. Do được kết hợp từ đặc điểm của saber và cavalry cũ, loại này có thể vừa đâm vừa chém, độ sát thương vì thế tăng theo. Để tránh tình trạng thông tin lan man và dư thừa, người viết không bàn thêm về ưu nhược điểm của các loại vũ khí và lịch sử của chúng.

2 The left hand curve (hay còn gọi là sinistrorse curve): chỉ sự hướng về bên trái, đặc biệt trong hình xoắn ốc và hướng mọc của thực vật; cũng dùng để chỉ đường di chuyển theo cử động tay của người thuận bên trái.

Joseph gật đầu. Cảnh sát trưởng cũng có ấn tượng rất mạnh về thanh kiếm kỳ lạ này, điều khiến ông thắc mắc là bằng cách nào hung thủ lại che giấu được nó khéo léo đến vậy.

– Tôi biết một người đàn ông ở Forest Hill có thể chơi đấu kiếm và sở hữu kiếm. Ông ta cao ngang ngửa tôi, chỉ có điều, người này khá già và tôi không thấy giữa ông ta với John-Michael có bất cứ mối liên quan nào.

– Ai vậy? – Brook ngạc nhiên.

– Ngài thị trưởng.

Brook hơi nhướn lông mày. Cậu không tin người già như thị trưởng lại có thể dùng kiếm giết gã như John-Michael một cách linh hoạt được.

– Tôi cho rằng có thể vì bóng ma của Jack “đồ tể” quá lớn nên họ đã bỏ qua vụ cắn xé rải rác này… Nhưng, John-Michael chết rồi. Chắc ông cũng biết luật bất thành văn của cảnh sát là bớt một thằng hiếp-giết người thì bớt một gánh nợ? Ông không thấy kể từ sau cái chết của hắn, Croydon yên ắng hơn hẳn? Gã chơi kiếm giúp chúng ta đấy chứ. Tôi chưa thấy có thêm báo cáo mất tích hay giết người nào kể từ đó nữa.

– Con trai, tôi cũng muốn nghĩ đơn giản như vậy lắm. Nhưng có cái gì đó không ổn, tôi linh cảm như vậy. Mọi thứ dễ dàng quá, cậu không thấy thế?

Joseph lấy bao thuốc lá từ túi áo ra hút. Vết cắt trong lòng bàn tay của Gina gợi nhớ ông rằng đấu kiếm là môn thể thao ưa thích của ngài thị trưởng. Chẳng phải trợ lý của Arthur khá mảnh mai, thấp hơn Joseph có một chút, và chẳng phải cô ta đã từng hạ đo ván cảnh sát trưởng chỉ bằng một cục đá?

“Giờ đâu còn là thời đại của những nàng tiểu thư mong manh…” – Cảnh sát trưởng tự nhủ. Sau cú đánh của Gina, điều cuối cùng Joseph nhớ được là cảm giác nhói đau và dòng máu xối xả chảy từ trán mình. Rồi ông gục xuống đất, bất tỉnh. Một lực đánh quá đỗi mạnh và dứt khoát!

Brook xin một điếu thuốc lá để hút, suy nghĩ nhiều khiến đầu cậu ta như muốn nổ tung đến nơi. Dù sao thì, nếu vụ này thành công, rất có thể nó sẽ giúp Brook tiến thêm được vài bước trên con đường trở thành một thám tử ở London.

Cả hai đã cùng ở lại đồn và thảo luận tới tận sáng sớm, gần như quên cả cơn đói và sự mệt mỏi. Trước khi cảnh sát trưởng rời đi, Brook muốn tán gẫu một chút.

– Tôi để ý thấy ông hay quay hai điếu thuốc lá ngược lại mỗi khi mua một bao mới.

– Một điếu lấy điềm tốt và một điếu lấy “chốt”. (One for good luck and one for a good fuck.) – Joseph cười. – Cậu chưa nghe câu ấy bao giờ?

– Chưa. – Brook lắc đầu. – Nó là một dạng truyền thuyết dân gian?

– Chẳng ai biết trò lật thuốc lá này có xuất xứ từ đâu, cũng chẳng rõ tại sao nó lại được coi là may mắn. Nhiều người tin rằng “điếu thuốc may mắn” có là do trước khi ra trận, những người lính thường xoay ngược một điếu lại và để dành đến cuối cùng. Nếu họ sống sót tới khi hút được nó, thì coi như họ may mắn. – Joseph vừa nói vừa vẩy bớt tàn thuốc. – Sau này nó trở thành “lấy may”3.

3 Tiếng lóng của tình một đêm.

Nhận ra ý nghĩa của điếu thuốc lá “may mắn”, Brook bật cười. Từ lúc Joseph vào đồn cậu đã ngửi thấy hương thơm thoang thoảng trên người ông. Cảnh sát trưởng là kiểu người sạch sẽ nhưng ông ta không dùng nước hoa, đây lại là nước hoa của phụ nữ.

– Hẳn là ông đã lấy may?

– Không. – Joseph lắc đầu.

– Thôi nào, Chypre đúng không?

Thán phục trí tưởng tượng và khả năng suy diễn đầy linh hoạt của
Brook, Joseph bật cười:

– Không phải như cậu nghĩ đâu. Tập trung tìm hiểu gã “sáu feet tay trái” này đi. Sau này cậu muốn bao nhiêu Chypre và “may mắn” cũng được.

– Cậu nhà báo đó cũng cao đấy chứ, chỉ tiếc là thuận tay phải. Đợi đã, chẳng phải ông cao sáu feet và thuận tay trái?

Đứng trước cửa đồn, cảnh sát trưởng không quên quay đầu lại mà chỉ về phía Brook:

– Cho cậu hay, tôi cao sáu feet và MỘT inch (1,86m). Tạm biệt, con trai.

* * *

Nghe lén chuyện bố mẹ, Seth bỏ chạy. Cậu muốn đi dạo trong rừng một lúc cho thoải mái, nhưng cảm giác bức bối vẫn không chịu vơi đi. Bố cậu đang bệnh nặng, Seth biết. Ông không còn nhiều thời gian, Seth biết. Cậu chỉ không hiểu nổi tại sao bố lại muốn giấu diếm con cái mình khỏi sự thật vốn đã quá rõ ràng đó. Gia đình của Seth không hoàn hảo và đôi khi bố mẹ cậu vẫn cãi nhau, nhưng cậu không muốn nó tan vỡ vì sự ra đi của một thành viên.

Tất cả lũ trẻ con ở Forest Hill đều ghét Seth, thậm chí Olivia – người khiến trái tim Seth rung động lần đầu tiên trong đời – cũng không muốn nói chuyện với cậu. Seth không ép ai phải chơi với cậu, nhu cầu được chia sẻ của cậu không cấp thiết bằng việc chữa bệnh cho bố. Seth chỉ muốn được ở một mình, để tự làm đau bản thân như một giải pháp băng bó tạm thời cho nỗi lòng.

Đứa con trai của Paul nghiến chặt hàm răng lại. Lưỡi dao cạo đã trở nên cùn sau nhiều lần sử dụng, khiến vết cắt rất nông và đau đớn. Cậu bật khóc tức tưởi — có thể vì đau, cũng có thể vì cảm thấy bản thân quá vô dụng. Đến việc hành hạ chính mình Seth còn không thực hiện được trọn vẹn, làm sao cậu có thể giúp mẹ và em vượt qua được sự mất mát quá lớn sắp tới?

Seth trông theo từng dòng máu đỏ thẫm rỉ ra từ cổ tay rồi chảy ròng xuống đất, từng giọt một đem theo cảm giác nhói đau, ướt dính và ngứa ngáy. Hình như có những đôi chân đang tiến dần về cậu từ đằng sau. Seth muốn ngoái lại nhìn nhưng cái đầu nhẹ bẫng của cậu cứ hết nghiêng sang trái rồi lại sang phải. Mọi thứ mỗi lúc một lờ mờ và chao đảo hơn, rồi cậu nghe thấy tiếng nói gần đó.

“Chúng ta có gì đây? Một cậu bé tự sát?”

“Không, nếu nó tự sát thì đã cắt một nhát thật sâu vào mạch máu cho khỏi đau rồi. Chỉ là một thằng khùng thích tự ngược đãi thôi…”

* * *

Reginald mặc tạm áo sơ mi lên, bỏ ra ngoài. Đứng từ phía ban công, đôi mắt anh hướng về phía ngôi nhà ngỏ của Randolph.

Những cơn gió lướt qua thị trấn mang theo mùi máu, cả của con người lẫn không phải con người.

“Có gì đó không đúng…” – Reginald nhảy qua lan can, lao xuống.

Một con dơi khổng lồ màu đen vỗ đôi cánh bay vượt lên trên. Nó liệng qua tòa lâu đài, hướng về nơi phát tán mùi hương.

* * *

Seth dần dần lấy lại được tỉnh táo, cố mở đôi mắt một cách khó nhọc. Cậu thấy nhức nhối ở cổ, giật mình vì cổ áo ướt đẫm đầy mùi tanh. Hai người, một nam và nữ, đều mặc tang phục đang đứng trước mặt Seth. Miệng của họ vẫn còn dính máu tươi, con ngươi họ đỏ quắc lên trong màn đêm.

– Hư quá! Không ai dạy em rằng tuổi trẻ là phải biết trân trọng cuộc sống à? – Cô gái cầm lấy cổ tay bị thương của Seth, nhìn cậu bằng ánh mắt thương hại. – Ít nhất thì cũng phải yêu lấy chính mình chứ. Nếu em chán chường đến thế, chẳng bằng…

Seth vẫn chưa hết bàng hoàng. Những người này là ai? Họ đã làm gì cậu khi cậu không tỉnh táo? Tại sao Seth lại bị thương và cổ áo cậu lại có máu? Seth muốn một lời giải thích, nhưng cậu sợ sẽ gặp rắc rối.

– Đứng dậy đi oắt con, còn ngồi ở đó đến bao giờ nữa! – Người con trai hất hàm.

– Hai người là ai? – Seth hoảng hốt lùi lại.

– Câu hỏi phải là, tại sao nhóc lại ở đây, và làm việc này… – Cô gái chỉ về lưỡi dao cạo dính máu rơi dưới đất.

– … Em đi về đây.

– Chuồn đâu nhanh thế! – Chàng trai giữ lấy tay Seth lại. Anh ta rất khỏe, dù Seth cố cựa quậy đến mấy cũng không thể vùng ra được. – Mày đã biết bí mật của bọn tao rồi.

– Không! Em thề, em không…

Cô gái kỳ lạ túm lấy tay Seth, cậu càng sợ hãi và cố chạy đi hơn. Trong trận giằng co, một bóng đen bất ngờ lao tới.

– Thả nó ra.

Cả ba người nhìn lên chiếc cán ô hướng về phía họ, nhận ra kẻ cầm nó là Reginald. Chàng trai chau mày. Người đàn ông đứng trước mặt lúc này trông khá giống “ông ta”, nhưng trẻ hơn nhiều.

– Bá tước? – Hắn hỏi.

– “Bá tước”? – Seth run rẩy, cặp mắt cậu cũng không rời khỏi người sống cùng Olivia. Ai là “bá tước”? Chuyện gì đang xảy ra?

Cô gái đi cùng tên con trai chợt kêu lên, ngã ra đất. Ả một tay ôm lấy cổ, tay còn lại tự bịt miệng mình. Người con trai vội vã thả Seth ra để nâng ả dậy, nhưng rồi hắn cũng ngã xuống, miệng trào bọt mép lẫn máu hồng.

– Stacey, em…

– Nó, nó là… – Stacey nhìn Seth bằng ánh mắt kinh hoàng, miệng không ngừng lắp bắp. Hai tay ả run rẩy chống lên nền đất, cố gắng kéo tên bạn trai của mình bỏ đi.

Seth vội vã bò ra hướng ngược lại, thở hổn hển vì sợ hãi. Suýt chút nữa cậu đã mất mạng.

– Đợi đã. – Reginald ngăn Seth lại.

– Ngài là…

– Phải, ta cũng giống như chúng. – Reginald trả lời, liền đó lắp ô về như cũ.

– Không, ý tôi là ngài đang mặc—đồ lót. – Seth chỉ vào chiếc áo trắng còn không thèm gắn cổ cồn của Reginald.

– Đằng nào thì ngươi cũng biết rồi. – Reginald nhún vai. – Giờ đang là đêm, có ai quan tâm ta mặc gì đâu.

Reginald nhìn về phía nhà máy đường cách đó không quá xa, tự hỏi một thằng bé như Seth thì làm gì ở đây, vào lúc muộn như thế này. Cậu bán báo vội kéo tay áo xuống, che đi vết thương. Reginald bắt gặp hành động ấy, anh không có ý định can thiệp vào chuyện riêng của Seth nên cũng lờ đi.

– … Ngươi nên về nhà.

– Cảm ơn ngài vì đã cứu tôi. – Seth khẽ gật đầu. Cậu nhìn vào chiếc ô to đùng Reginald đang cầm trên tay, không rõ vì sao ông ấy lại thả mình. – Ngài để cho tôi đi?

– Ý ngươi là gì? – Reginald chau mày.

– Tôi phát hiện ra ngài là quỷ hút máu, nhưng ngài để cho tôi đi?

– Phải rồi, đừng nói với ai đấy, nhóc. Ngươi nghĩ ta sẽ giết ngươi để bịt miệng?

Seth nghĩ vậy, bởi cậu đoán Reginald từng giết người. Vào thời điểm Olivia mới tới đây, không ai khác ngoài cậu đã chứng kiến cô bé bị John-Michael đánh ngất đem đi, rồi lại được Reginald đưa trở về từ chính ngọn đồi đó. Sự tò mò thôi thúc Seth vào trong rừng để tìm hiểu. Bãi cỏ phía sau túp lều lúc bấy giờ đã xuất hiện một cái hố mới toanh, không cần đào lên Seth cũng đoán được bên dưới là cái gì. Những điều Seth biết chẳng thể lọt qua được đôi mắt của cảnh sát trưởng. Không khó để Joseph khiến cháu phải tiết lộ ra sự thật, nhưng may mắn thay, Seth đủ thông minh để ém nhẹm phần liên quan tới Reginald nhằm bảo vệ cô gái hàng xóm cậu trót phải lòng.

– Tôi…

– Ngươi làm sao? – Reginald bắt đầu mất kiên nhẫn với kiểu nói ngập ngừng này.

– Tôi chỉ muốn biết ngài và Olivia là gì của nhau, nếu ngài không thấy phiền.

Reginald quay mặt ra hướng khác, nói lảng:

– Để ta đưa ngươi về.

– Được thôi, – Seth chỉ về phía trước – hướng này.

* * *

Ông Coffin trở mình, nhẹ nhàng rút cánh tay ra khỏi người vợ đang ngủ say. Ông lấy khăn lau chỗ mồ hôi vã ra trên trán, cố gắng hít một chút không khí thoáng mát về đêm. Biết mình lại sắp ho, Paul nhón chân bước ra khỏi giường.

Cánh cửa vừa bị đẩy, Paul ngã gục xuống. Ông định che miệng lại nhưng hai lá phổi mong manh không còn đủ sức để kìm nén. Từng trận ho mang theo những dòng máu đỏ lẫn với bọt khí văng ra khắp nơi trên nền đất, trên tường và trên tay ông Coffin. Paul ngồi tựa lưng vào tường, thở hổn hển, thấy choáng váng.

* * *

Reginald “hộ tống” con trai ông Coffin trong yên lặng. Cả hai đều là những kẻ gặp khó khăn trong việc giao tiếp bằng lời nói, hơn nữa họ cũng không quá thân mật hay quen biết nhau. Reginald biết Seth quan tâm tới Olivia và anh cũng quan tâm tới Seth; nhưng, sự cứng nhắc và vẻ ngoài có phần ta đây của Reginald vô tình khiến Seth cảm thấy có lẽ đừng nên mở miệng nói ra bất cứ lời thừa thãi nào thì hơn.

– Cảm ơn ngài. Nhà tôi ngay phía trước, ngài không cần phải… – Seth chỉ về cái khối gạch hai tầng lớp nhớp rêu mốc đã bị mưa gió gội gần hết màu sơn. Trong bóng tối, Reginald thấy những mảng đen lỗ rỗ khắp các bức tường trông thật là gớm ghiếc.

– Cứ gọi ta là Reginald. – Reginald gật đầu. Anh ngửi thấy trong không khí có thoang thoảng mùi máu và sự hôi hám của những người mắc lao phổi lâu ngày.

Một bóng đen gầy gò đang ngồi co ro trước cửa nhà Seth, cậu vội chạy tới.

– Bố! – Seth thốt lên đầy bối rối. Trước là chú Joe, giờ lại đến Reginald gặp bố cậu trong tình trạng này.

Reginald đứng lặng. Căn cứ vào tình trạng này, ông Coffin chẳng còn nhiều thời gian là bao. Dịch hạch trắng (tên gọi khác của lao) là một căn bệnh vô cùng tàn nhẫn: một khi nó đã chọn được nạn nhân của mình, hiếm người nào có thể sống sót. Đáng sợ hơn cả là sau khi ông ta qua đời, từng thành viên một của gia đình đó rồi cũng sẽ lần lượt suy yếu. – Reginald muốn an ủi hai người ấy, nhưng anh lại sợ sẽ làm cho tâm trạng của họ thêm nặng nề.

– Ta rất xin lỗi. Ta nên về. Tạm biệt.

Seth nhìn theo cái dáng đi hơi gù của Reginald rồi nhìn bố mình, cảm thấy khốn khổ hơn bao giờ hết. Giờ cậu đã biết Reginald là quỷ hút máu, ông ta có thể giúp bố được tiếp tục ở bên cạnh gia đình mình thay vì chết trong đau đớn. Bằng mọi giá, cậu phải cầu xin Reginald ban cho bố mình một cuộc sống mới! Seth biết cậu cần phải tiếp xúc với ông ta nhiều hơn nếu muốn xin xỏ thành công.

– Con đưa bố vào trong nhà nào…

* * *

Reginald vừa đi bộ vừa nghĩ về Seth. Anh hiểu điều thằng bé muốn nói qua ánh mắt nó dành cho mình, nhưng lại lờ nó đi. Những lời của Reginald trước đó có thể khiến cho cả ông Coffin và con trai ông hiểu lầm rằng Reginald là một gã vô tâm và trơ lì, nhưng Reginald chấp nhận như vậy.

Tạm dừng tại nơi mình vừa cứu thằng nhóc Seth, Reginald trông thấy một người đang bước đi xiêu vẹo. Cậu ta trông quen quen.

– Allan? – Reginald lên tiếng, đồng thời bước nhanh tới trước.

– Cứu tôi… – Allan thì thào, sau đó ngã gục xuống đất.

Reginald dùng hai cánh tay đỡ lấy chàng trai. Anh nhìn lên trời và nhận ra những tia sáng yếu ớt của một ngày mới bắt đầu đến.

* * *

– Cảm ơn ngài, thị trưởng.

– Không có gì, rất vui được làm việc cùng cậu.

Arthur nhếch mép cười, đưa cánh tay phải bắt lấy tay Renato.

* * *

Sáng sớm, Joseph hút cố điếu thuốc lá trong lúc đi bộ, vừa đi vừa cảm thấy mặt đất cứ như gợn sóng. Sau một đêm thức trắng mà không hề có gì bỏ vào bụng, lượng đường trong máu cảnh sát trưởng lúc này vô cùng thấp và ông sắp sửa ngất bất cứ lúc nào. Dừng chân trước một ngôi nhà nhỏ, nghĩ về Seth và lời hứa mình dành cho cháu, ông bước vào trong. Giờ này chắc thằng bé cũng không còn ở nhà.

Joseph gõ lên tấm cửa gỗ chằng chịt vết trầy xước. Tim ông đập thình thịch vì hồi hộp. Đã lâu ông không gặp Paul và giờ ông không biết nên nói gì, như thế nào.

“Vào đi.”

Nghe thấy tiếng bạn vọng ra từ bên trong, cảnh sát trưởng mở cửa, bước vào.
Từ lúc đứng ở ngoài, Joseph đã nghe thấy những tiếng ho rũ rượi. Ông hầu như không còn nhận ra người cai ngục to cao ngày nào trong làn da xam xám.

– Paul… – Joseph cười gượng. – Tớ đến thăm cậu này.

– Joe!

Joseph ngồi xuống ghế. Những hạt bụi nhỏ màu trắng lấm tấm ở gò má và mũi Paul thu hút sự chú ý của cảnh sát trưởng. Ông miết nhẹ ngón trỏ lên mặt bàn, cảm thấy hơi sạn; rồi lại liếc nhanh xuống chân bàn, nơi có mẩu giấy thiếc nhàu nát. Ngoài chuyện về con trai Paul ra, cảnh sát trưởng không biết nên mở lời bằng chủ đề gì khác.

– Con cậu, Seth, đi bán báo rồi hả?

– Nó đi rồi.

– Hôm nọ tớ giữ Seth lại tới đêm, cậu thấy có vấn đề gì không?

– Tớ hỏi, nhưng nó không chịu tiết lộ lý do. Nó đã làm gì sai hả, Joe? Nếu đúng, cứ phạt mạnh tay vào. – Ông Coffin lo lắng. – Hôm qua Seth lại bỏ nhà đi. Tớ không đi tìm, nó tự về.

Paul vừa nói vừa lấy tay che miệng, ho húng hắng. Những đốm máu tươi văng ra khiến Joseph rùng mình. Cảnh sát trưởng lấy thuốc lá ra hút, cố che giấu sự bối rối của bản thân.

– Seth không phạm tội đâu, đừng lo. – Joseph an ủi.

– Tớ không thể quản lý nổi thằng con đang ở tuổi này nữa… Tớ là một người cha thất bại!

– Đừng nói thế. Giữ gìn sức khỏe đi, các con cậu cần cậu. Tớ đã mất bố mẹ mình, tớ mong Seth và Colby không phải chịu đựng điều tương tự. Ở Đức có rất nhiều bác sĩ tốt, biết đâu…

Khói từ Joseph khiến họng Paul ngứa.

– Tớ sắp chết rồi, Joe… Đêm nào tớ cũng cầu nguyện để được nhìn thấy con mình thêm một ngày nữa. – Giọng Paul run rẩy.

Joseph ôm chặt lấy bạn, nước mắt cũng rơi theo. Ông thấy cổ họng tắc nghẹn lại, như thể nếu cố gắng mở miệng nói thêm một lời nào nữa, những tiếng khóc sẽ vỡ òa ra. Hẳn là Paul đã quá tuyệt vọng, tới mức chẳng biết làm gì ngoài cầu xin thế lực tâm linh mơ hồ nào đó.

– … Paul, cậu bị ốm. Cái cậu cần bây giờ là ăn uống và nghỉ ngơi, không phải Chúa.

– Đồ vô thần bổ báng! Thật nực cười khi mẹ cậu đặt tên cho con trai bà là Joseph! – Paul gắt lên với tay cảnh sát đi nhà thờ được ba lần suốt cả cuộc đời.

Joseph kẹp điếu thuốc lá vào hai ngón tay rồi đẩy khói ra ngoài. Ông siết chặt lấy đôi tay cứng như cành cây khô của Paul, cười thật to. Cảnh sát trưởng cũng ho thành từng cơn ngắn và nông, dù lòng ông lúc này đang nhói lên vì thương hại và đồng cảm. Nếu ông cười, Paul sẽ nghĩ những giọt nước mắt của Joseph rơi ra không phải vì buồn. Cảnh sát trưởng biết rõ, một ngày nào đó, ông cũng sẽ không khác gì hình ảnh của bạn mình lúc này.

* * *

Vào sâu trong nhà máy đường, Reginald đặt Allan trong một chiếc xe đẩy gần khu vực băng truyền, phủ bạt lên người cậu. Trời đã sáng, Olivia chắc chắn đã thức dậy và sẽ tò mò về sự vắng mặt của anh. Hơn nữa, những người ở trong thị trấn không thể nhìn thấy Reginald đi ngoài đường với Allan trên vai. Reginald không muốn bỏ Allan một mình nhưng anh chẳng thể làm gì khác.

* * *

Olivia dắt Reg ra ngoài đi dạo. Mới sáng sớm nên quảng trường vẫn còn khá vắng, chỉ lác đác những người mở cửa hàng.

– Chào Olivia. – Seth cởi chiếc mũ berret trên đầu ra, mỉm cười với cô bạn. Cậu muốn nói nhiều thứ với cô bé hơn là “Chào Olivia”, nhưng cứ mỗi khi đứng cạnh cô gái ấy, Seth lại thấy bối rối và chẳng biết làm gì hơn ngoài lắp bắp liên hồi.

– Chào Seth. Cậu đi bán báo?

– Ừ. – Seth gật đầu. – Chúng ta nói chuyện một lúc được không?

Seth đi bộ sát bên cạnh Olivia. Cậu định nói gì đó, nhưng rồi lại lấy tay gãi lên vành tai, lúng túng.

– Cậu muốn nói chuyện gì nào? – Olivia nhắc nhở.

– Là về bố cậu…

Olivia nhướn mày vì ngạc nhiên. Cô bé không hiểu vì lý do gì mà Seth lại nhắc tới Reginald.

– Ông ta—không phải là cha ruột của cậu, đúng không?

– … Đúng vậy. – Olivia nói nhỏ, nhìn Seth bằng ánh mắt hoài nghi. – Tại sao cậu lại hỏi tớ?

– Đêm qua tớ gặp Reginald, ông ta đã cứu tớ khỏi hai người này… – Seth liếm môi, sau đó tiếp tục nói. – Họ không phải là người bình thường.

Thấy Seth đưa tay lên cổ áo, Olivia lùi lại một bước về sau. Cổ Seth hằn một vết cắn vẫn còn mới.

– Cậu bị cắn? – Olivia hoảng hốt.

– Ừ. Reginald đã cứu tớ khỏi những người đó. – Seth gật đầu. – Ông ta là ma cà rồng, phải không Olivia?

Olivia nhìn ra xung quanh để chắc rằng không có người thứ ba ở đây. Nếu Seth đã biết như vậy, giấu giếm cũng chẳng có ích gì.

– Reginald là ma cà rồng, nhưng ngài ấy khác với những ma cà rồng cậu biết.

– Cậu với Reginald… – Seth cầm lấy tay bạn. – Olivia, tớ cần cậu trả lời thật lòng. Khi mới tới đây, đã có một người bắt cậu đem vào trong rừng, đúng không?

– Phải…

– Reginald đã cứu cậu?

Olivia gật đầu.

– Và ông ta giết kẻ bắt cóc?

– Phải…

– Bằng cái gì?

Olivia căng thẳng đến mức bám chặt vào cánh tay của Seth, khẩn khoản:

– Đừng để ai biết chuyện này, tớ xin cậu đấy! Reginald là người thân duy nhất tớ có, ngài ấy còn hơn cả bạn nữa. Nếu cảnh sát phát hiện ra, tớ…

– Đừng lo. – Seth buồn bã nói. Đôi mắt nâu của cậu hướng xuống dưới, cố tránh ánh mắt long lanh ngấn nước của Olivia. – Tớ phải đi đây, tạm biệt.

– Đợi đã, tớ còn chưa… Seth!

Olivia gọi cố Seth, nhưng cậu cứ thế bỏ đi. Sẽ thật xấu hổ nếu như cô bé nhìn thấy gương mặt thẫn thờ đầy thất vọng này. Những điều Olivia nói hoàn toàn xuất phát từ tình cảm vô tư của mình, nhưng chúng thật tàn nhẫn với Seth. Olivia nói Reginald là người bạn duy nhất cô bé có, vậy Seth không phải là bạn của cô? Seth không xứng đáng để làm bạn của Olivia, sau những gì cậu đã cố gắng thể hiện ra?

– Tớ còn chưa kịp hỏi cậu điều này… – Olivia nói nhỏ trong cái thở dài. Seth đã đi mất. Cô bé cúi xuống cầm lấy sợi dây giữ vòng cổ của chú chó đen, định dắt nó về lâu đài. – Đi nào, Reg.

– Chào cô gái nhỏ.

Olivia giật mình. Lại là giọng nói trầm ấm và nhẹ nhàng ấy. Cô bé ngoái đầu nhìn, bắt gặp đôi mắt xám cùng nụ cười của ngài thị trưởng.

* * *

Joseph đi bộ ra công viên, chọn một chiếc ghế bên dưới tán cây sồi để ngồi. Sau khi rời khỏi nhà Coffin, cảnh sát trưởng chỉ muốn được ở một mình.

Có gì đó vướng víu và tắc lại trong ngực ông. Ông hắng giọng, lấy trong túi áo một mẩu giấy gấp làm tư che lên miệng, ho mạnh thành những tiếng sâu và khàn đục. Âm thanh đặc trưng của người nghiện hút lâu năm nghe thật là khó chịu, mà người tạo ra nó cũng cảm thấy mệt mỏi không kém khi cứ mỗi lần ho là một lần Joseph cảm tưởng từng lá phổi của ông bị rách toang, văng ra ngoài theo những cái khạc.

Định kiến thâm căn cố đế về loài ma cà rồng khiến cảnh sát trưởng chẳng biết nghi ngờ ai ngoài Reginald. Gã “Người ngựa-Kỵ binh” đó là tên giết người, chỉ có thể là hắn! Joseph biết ông khó lòng tìm ra được gì từ Reginald nếu chỉ lân la hỏi chuyện, tiếp cận “con gái” của hắn thì có lẽ dễ dàng hơn.

Joseph vo tờ giấy bẩn lại, ném nó vào thùng rác. Ông ngả lưng, cố gắng chợp mắt một chút. Buổi sáng sớm nào tình trạng ho và hít thở của cảnh sát trưởng cũng tồi tệ như vậy, một điếu thuốc lá khi vừa ngủ dậy sẽ giúp xoa dịu ông.

* * *

– Chào ngài thị trưởng. – Olivia cuống quýt. – Cháu không thấy ông…

Olivia cắn lên những đầu ngón tay run rẩy, sợ rằng Arthur đã đứng phía sau và nghe thấy tất cả. Đáp lại sự hoảng hốt đó, thị trưởng cầm lấy bàn tay Olivia và kéo nó ra. Arthur thường không hay đi ra quảng trường lúc sáng sớm, chính ông cũng bất ngờ khi gặp Olivia ở đây.

– Sao vậy? Đừng cắn tay cháu như thế. Tay cháu lạnh thật đấy, cháu gái. Nhớ giữ ấm vào.

Olivia thốt lên khi bàn tay lớn của ngài thị trưởng chạm vào da mình:

– Tay ông cũng lạnh quá!

– Đúng là nó hơi lạnh nhỉ.

– Ông vừa tới?

– Ta vừa tới thôi. – Arthur gật đầu.

– Ông có nghe thấy cháu và bạn kia nói gì không?

– Một chút, Olivia ạ. – Arthur mỉm cười. – Ta không có ý tọc mạch đâu.

Olivia ôm chặt lấy Reg và bắt đầu thở nông, hai tay không ngừng dứt từng mẩu biểu bì nhỏ ra khỏi đầu ngón. Tại sao nó lại để cho nhiều người phát hiện ra sự thật như vậy? Nếu Reginald biết được, hẳn sẽ phẫn nộ vô cùng.

– Bình tĩnh nào cô bé, đây là bí mật giữa chúng ta.

“Cái gì?” – Olivia nghiến răng.

– Ông nói thật không?

– Tất nhiên rồi. Cháu nghĩ ta nói dối? – Arthur ngửa hai lòng bàn tay lên và nhún vai. Ông kéo Olivia lại gần, tiếp tục lời đường mật. – Ngồi xuống đi. Cháu muốn nói chuyện với ta chứ?

– Vâng, cũng được… – Olivia đành gật đầu. Con bé sợ nếu không ở lại, ngài thị trưởng sẽ làm gì đó không hay với Reginald. Thật kỳ lạ là lời của ông ấy luôn có tác dụng trấn an ngay tức thì. Trái với bộ dạng gò bó của Olivia, Arthur ngồi vắt tréo chân, lưng ngả về sau rất thong thả. Khẽ thở dài, ngài thị trưởng cất lời:

– Có vẻ cháu bắt đầu mất giọng rồi đấy.

– Mất giọng?

– Tức là cháu bắt đầu nói giống người Anh hơn. Giọng cũ của cháu cũng đáng yêu lắm, nhưng nó hơi nặng nên có thể gây khó hiểu cho người khác. Vậy, Olivia, cháu thấy món quà thế nào?

– Chỗ kẹo ấy ạ? Cháu chưa ăn. – Olivia thật thà trả lời.

– Cháu không thích à?

– Cháu thích sô cô la lắm, chỉ là cháu muốn chia sẻ với ai đó thôi.

– Hẳn cháu là kiểu người làm gì cũng phải có bạn bè bên cạnh đúng không? Kể cũng lạ, một cô bé dễ gần như cháu mà có ít bạn bè nhỉ.

Một đợt gió lạnh thổi qua, Arthur vuốt lại mái tóc. Olivia cho rằng tóc thị trưởng đen hơn nhiều so với lần trước cô bé gặp ông. Cử chỉ vuốt tóc này, trông thật là quen thuộc.

Thị trưởng hơi cười trước biểu cảm của Olivia. Khóe miệng ông ta khi cười từng hằn khá nhiều nếp nhăn, nhưng giờ chúng mờ đi và nhỏ lại thấy rõ.

– Cô gái nhỏ, cháu bị ốm à?

– Không. – Olivia vội vã lắc đầu. – Cháu chỉ thấy lạ thôi. Bình thường ông đâu có ra đây vào lúc sáng sớm? Và ông trông trẻ hơn một chút thì phải?

– Tinh ý lắm, Olivia! Ta ngạc nhiên đấy! Nói cho cháu này, Reginald cũng là một người rất thích và giỏi quan sát.

– Reginald? – Olivia nhắc lại. Cô bé cũng biết Reginald là người như vậy, chỉ không hiểu tại sao thị trưởng lại nhắc tới ngài ấy.

– Cháu quý Reginald, đúng không?

– Uh huh. – Olivia thật thà gật đầu.

– Cháu muốn Reginald luôn là người đầu tiên biết những điều cháu biết, và vui cùng những thứ làm cháu vui?

– Vâng… – Olivia đáp mà không khỏi ngỡ ngàng. Cứ như thể ngài thị trưởng đọc được suy nghĩ của cô bé vậy.

– Cháu có muốn thể hiện tình cảm của mình cho Reginald?

– Có, nhưng… – Nói tới đây, gương mặt Olivia chợt trùng xuống. – Reginald ít khi nói cho cháu biết ngài ấy nghĩ gì hay thích gì lắm. Cháu còn không biết Reginald sinh vào ngày nào hay thích được tặng quà gì.

– Reginald không nói cho cháu ngày sinh của cậu ta? – Arthur bật cười.

– Ngài ấy bảo mình là cung Song tử.

– Reginald đâu phải cung Song… – Arthur chau mày. – Đợi đã, Song tử? Reginald nói cậu ta là Song tử? Chà, ta không ngờ đấy…

– Vâng. Cháu cũng bất ngờ lắm, nhưng ai mà biết được. – Olivia nhún vai.

Arthur phải bần thần tới vài giây. Là cha ruột của Reginald, tất nhiên thị trưởng biết con mình sinh ngày nào. Tại sao Reginald lại nói rằng nó là Song tử?

– Cháu biết không Olivia, nếu Reginald không tiết lộ cũng chẳng sao đâu. Giáng sinh là dịp để mọi người đoàn tụ và trao yêu thương, sao cháu không tận dụng? Cháu biết đấy, một món quà nhỏ mang ý nghĩa tinh thần, một lời bày tỏ tình cảm hay một cái hôn lên má cũng được. Người dè dặt như con… à—Reginald, sẽ rất cảm động đấy.

Từ trạng thái vui vẻ, cặp lông mày của Olivia chợt quặp xuống, dính chặt vào nhau. Cô bé dù có yêu quý hay thân thiết với Reginald tới mấy cũng không thể nói hay làm như vậy được. Cô bé chỉ không thể. Đôi mắt Olivia bắt đầu chuyển đỏ và ngấn nước, bờ vai run lên. Olivia mím chặt môi lại, cố gắng đừng bật khóc. Trước phản ứng kì lạ ấy, Arthur không mất nhiều thời gian để đoán ra được nguyên do. Ông đặt tay lên vai Olivia, khẽ hỏi:

– Sao vậy cháu của ta?

Olivia lấy hai tay che lấy mặt và cúi gằm xuống, nói lí nhí gì đó.

– Olivia, cháu có muốn chia sẻ với ta không? Như vậy sẽ nhẹ lòng hơn.

Đứa trẻ ngước lên nhìn ngài thị trưởng già qua mái tóc lòa xòa che hết nửa gương mặt. Sự dịu dàng đầy chín chắn luôn làm nó xiêu lòng và cảm thấy an tâm.

– Trước đây, có ai đã lừa gạt cháu?

Olivia khẽ gật đầu.

– Và làm cháu tổn thương?

– Lần cuối cùng cháu nói với một người rằng cháu yêu ông ta và hôn lên má người đó, ông ta… xấu xa, nhiều chuyện xấu xa lắm! Cháu sợ nếu… – Olivia nức nở.

– Không sao… không sao. Ta ở đây, ta sẽ giúp cháu. – Vừa nói, Arthur vừa ôm Olivia vào lòng mà an ủi. – Có một số người không tốt, họ lợi dụng tình cảm của cháu, ta biết. Nhưng cháu đừng vì vậy mà mất hết lòng tin và tình yêu vào những người tốt khác.

– Có nhiều người xấu xa lắm!

– Cháu có lòng tin, phải không? Cháu tin Reginald chứ? – Arthur kéo bớt phần tóc mái dính lên đôi mắt đẫm nước của cô bé.

Olivia lại gật đầu.

– Vậy tại sao cháu phải khóc? Tại sao cháu phải sợ? Chính cháu đã từng nói cháu luôn cho mọi người cơ hội, phải không? Cháu hãy cho Reginald một cơ hội, được chứ?

Arthur mỉm cười, xoa đầu Olivia.

– Đó. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Reginald sẽ rất vui khi nhận món quà của cháu, ta tin thế. Cười lên, được chứ?

Olivia hít sâu để ngăn nước mũi khỏi chảy ra. Cô bé lấy tay quẹt lên đôi mắt ướt và bẽn lẽn cười, cảm thấy hơi xấu hổ vì đã phản ứng ngốc nghếch như vậy. Ông ấy nói đúng, Olivia nên cho Reginald một cơ hội. Chẳng phải cô bé luôn tin vào những điều tốt đẹp?

* * *

“Không dễ để lấy được lòng tin của Reginald và Arthur, hai kẻ đó chắc chắn sẽ cảnh giác và tìm cách đánh lạc hướng mình.”

“Làm thế nào đây khi mày chỉ có một mình?”

Joseph dập điếu thuốc lá, cứ chốc ngẩng đầu lên rồi lại cúi xuống, tay vò lấy tóc. Để lấy được thông tin từ hai người đàn ông vô cùng kín tiếng kia, cách duy nhất là phải từ một kẻ bên trong. Kẻ này phải đủ gần gũi với tên giết người, đủ thiếu cẩn trọng để bị cảnh sát trưởng dẫn dắt. Nhưng Joseph sẽ phải vô cùng khéo léo và cẩn thận, sự vạ miệng của kẻ thứ ba giống như con dao hai lưỡi. Nếu người ấy vô tình cho Joseph những tình tiết có lợi cho việc điều tra, điều gì có thể khẳng định kẻ ấy sẽ không làm lộ ra rằng bản thân đã bị cảnh sát trưởng lợi dụng? Làm sao để “lừa” được trót lọt, Joseph sẽ phải tự mình giải đáp.

Mải nghĩ ngợi, chợt có một bóng đen dài đổ lên người cảnh sát trưởng. Hơi mỉm cười, ông ngoái đầu lại.

– Chào Gina.

* * *

Reginald đi bộ qua cây cầu gỗ bắc giữa hai bên vách núi, vừa đi vừa nghĩ ngợi lan man. Có nhiều thứ trôi đi theo dòng suy tưởng của anh, trong đó có cả Olivia. Những chuyện tồi tệ liên tiếp tới làm Reginald lúc nào cũng cảm thấy nơm nớp và bất an. Sau những sự việc này, Reginald cố không để lộ rằng anh lo lắng, cũng như cố để Olivia biết càng ít càng tốt. Anh chỉ muốn bảo vệ con bé, anh không cần nó phải hiểu cho anh. Đã đôi lúc Reginald cảm thấy yếu đuối và tủi thân, băn khoăn không biết liệu Olivia bé nhỏ của mình có phải là một đứa trẻ vô lo đến mức vô tâm; hay nó cũng giống anh, cũng giấu anh nhiều chuyện trong lòng. Reginald không rõ anh làm tất cả những điều này vì Desdemona, vì Olivia hay vì chính mình. Reginald lúc nào cũng tự đặt cho mình những câu hỏi mà anh không thể nào tìm được câu trả lời. Như vậy thật mệt mỏi, nhưng anh chẳng biết phải làm sao để ngừng.

Những trận gió lớn trên đồi thổi lay những ngọn cây thông, cuốn đám bụi qua khóe mắt Reginald. Thỉnh thoảng, vài con quạ nấp trong những tán cây lại kêu lên vài tiếng ngắn ngủi rồi vỗ cánh bay đi vì chẳng kiếm được gì để ăn.

* * *

Olivia đung đưa đôi chân nhỏ trên ghế như thói quen, con bé vốn không thể nào ngồi yên hoặc giữ cái miệng mình trật tự được. Có một điều nó vẫn thắc mắc ở ngài thị trưởng, đó là ông ta rất hay hỏi về Reginald. Olivia chưa từng thấy hai người này gặp nhau bao giờ, nhưng một người thể hiện sự quan tâm quá mức tới người chẳng có quan hệ bạn bè hay huyết thống với mình đâu được bình thường cho lắm.

– Này ông, cháu hỏi ông điều này nhé?

– Cháu cứ nói.

– Tại sao ông lại quan tâm tới Reginald nhiều đến vậy? Ngài ấy có gì đặc biệt sao?

Arthur hơi ngạc nhiên trong giây lát, nhưng đâu quá khó để giải đáp điều này.

– Thay vì trả lời trực tiếp, ta muốn chia sẻ với cháu đôi điều nho nhỏ về ta. Đó là nếu cháu hứng thú.

– Cũng được ạ. – Olivia nói nhỏ. Cô bé nóng lòng với một lời giải thích ngắn gọn hơn.

– Ta đã từng có một gia đình lớn, khá đông con. Hầu hết những đứa trẻ đều rất xinh xắn và nghe lời. Cuộc sống của ta không gập ghềnh cho lắm, nhưng, ta luôn thấy có gì đó thiếu vắng.

– Vâng. – Olivia thấy người thanh nhã như thị trưởng không lý gì lại có một gia đình lộn xộn.

– Rồi tới đứa con trai này… – Arthur nói tới đây thì ngừng lại.

– Người con trai ấy làm sao ạ? Anh ta làm ông buồn?

– Không, không hẳn. – Arthur khẽ lắc đầu. – Nó sớm bộc lộ sự chín chắn khi còn nhỏ; lại khá thông minh, thương người và hay suy nghĩ. Ta biết nếu được rèn luyện và nuôi dạy đúng cách, nó sẽ làm được rất nhiều điều tuyệt vời khi trưởng thành.

– Đúng là ông rất may mắn khi có người con như vậy…

– Nhưng rồi…

Nói đến đây, ánh mắt của Arthur chợt trùng xuống, hơi giống Reginald mỗi khi anh ta bần thần suy nghĩ gì đó.

– Nhưng rồi sao ạ?

– Ta không biết nữa. Mọi chuyện bắt đầu trở nên phức tạp khi con trai ta bước sang tuổi thiếu niên. Cháu biết đấy, cái tuổi mà phần lớn những đứa trẻ bắt đầu trở nên ngông cuồng và lúc nào cũng muốn thể hiện bản thân. – Arthur thở dài. – Có cái gì đó thay đổi ở con trai ta. Nó ngày càng kiêu căng, nóng nảy và cứng đầu hơn. Tình cảm của chúng ta cứ thế dần rạn nứt, mối quan hệ giữa hai cha con kể từ đó vô cùng căng thẳng và thiếu đồng cảm.
Ta chưa bao giờ ngừng tự vấn. Có phải là do ta đã quá kỳ vọng ở nó, có phải vì ta đã quá gò ép và áp đặt nó, hay là vì ta đã quên mất không dạy nó cách kiểm soát cái “tôi” của mình? Một ngày, con trai ta đã bỏ nhà đi và không bao giờ trở về nữa. Ta rất đau khổ, không ngày nào ta không nghĩ về nó, ta luôn mong nó trở về với ta. Ta vẫn luôn chờ nó, sẵn sàng tha thứ cho nó vì những gì đã làm, nhưng ta không biết liệu nó có nghĩ như vậy hay không.

Olivia yên lặng lắng nghe. Cô bé bị cuốn theo câu chuyện đầy kịch tính của Arthur mà quên mất điều mình muốn biết ban đầu.

– Ngày trôi qua ngày, rồi tháng trôi qua tháng, và năm trôi qua năm, hy vọng một ngày đoàn tụ của ta cũng phai dần. Ta muốn nói với nó rằng “Cha thương con và cha không trách con”, nhưng có lẽ ta không bao giờ có thể cho nó biết điều ấy được nữa. Cứ mỗi mùa đông tới, biết con trai sẽ lại không trở về, tim ta nhói đau.

Nói tới đó, Arthur lấy bàn tay khẳng khiu đỡ lên trán. Gương mặt mệt mỏi và đôi mắt hơi đỏ của ông khiến cho Olivia cảm thấy tim mình như thắt lại trước biểu cảm đáng thương này. Đứa trẻ chợt hiểu ra tại sao ngài thị trưởng lại muốn nó bày tỏ tình cảm với những người mình yêu quý đến vậy. Ông ấy đã mất đi điều mình nâng niu nhất cuộc đời, nên không muốn người khác bị tổn thương do những hiểu lầm của nhau. Nỗi đau mất con của ngài thị trưởng là thứ cô bé có thể đồng cảm. Sự thiếu thốn tình thương từ nhỏ luôn thúc đẩy cô bé phải tìm cho mình bằng được một tổ ấm đích thực, và đôi khi cái động lực ấy khiến Olivia vì quá vồn vã mà ngộ nhận và bị lừa gạt. Phải chăng ngài thị trưởng cũng thế, vì ông ta quá khao khát con trai mình trở về?

– Cháu… – Giọng Olivia nghẹn lại. – Ông có thể cho cháu biết người con ấy bao nhiêu tuổi không?

– Có lẽ là ba mươi gì đó. Reginald của cháu hình như cũng từng ấy phải không?

– Cháu đoán vậy… Có phải vì Reginald và con trai ông tương đồng với nhau về mặt tuổi tác và tính cách?

– Cháu có thể nói thế, Olivia. – Arthur chợt mỉm cười. – Nên cháu hiểu tại sao bí mật của cháu và Reginald sẽ an toàn rồi chứ?

Nhìn nụ cười chếch trên khóe miệng Arthur và đôi mắt xám như hớp hồn người khác của ông, Olivia cũng ngây thơ mỉm cười theo.

– Cô bé này, vì cháu đã hiểu… Vào đêm trước Giáng sinh, cháu có thể dẫn Reginald tới quảng trường được chứ? Đây là lời mời của ta dành cho cháu và cậu ấy, ta không muốn nhận lại lời từ chối đâu.

– Tại sao ạ?

– Cháu quan tâm tới Reginald mà, cháu muốn cậu ấy bất ngờ chứ? Bởi ta có một kế hoạch.

– Ý ông là một món quà bất ngờ nhân dịp Giáng sinh ạ?

– Đại loại như thế, Olivia ạ. Tin ta đi, Reginald sẽ không thốt nổi lên lời.

* * *

Reginald bước vào phòng khách. Ngoài chú chó đang nhảy chồm chồm trên ghế, chẳng có ai ở đó cả.

– Nhóc, ngươi ở nhà chứ? – Reginald gọi lớn.

Đáp lại lời của anh là sự im lặng.

Reginald thở mạnh vì bực dọc. Anh cần lên tầng thay đồ đã, sau đó sẽ đi tìm Olivia.

* * *

– Bí mật nhé! – Ngài thị trưởng giơ ngón tay trỏ lên môi mình.

– Bí mật! – Olivia cũng làm theo, nở nụ cười tinh quái.

“Nhóc, ngươi làm gì ở ngoài vào lúc này?”

Mải nói chuyện với thị trưởng, Olivia giật mình trước tiếng gọi của Reginald. Cô bé quay đầu lại, vẫy tay với anh và reo lên:

– Reginald!

Reginald bất đắc dĩ lại gần. Anh không muốn Olivia và Arthur gặp nhau sau lưng mình một chút nào.

– Chào Reginald. – Arthur mỉm cười.

– Chào thị trưởng. – Reginald lạnh lùng đáp.

– Reginald, ngài đã đi đâu vậy? – Olivia thắc mắc.

– Việc của ta, ngươi không cần biết.

Thái độ của Reginald lúc này không hề dễ chịu một chút nào, dường như cáu và giận là hai trạng thái cảm xúc duy nhất ngài ấy có và bộc lộ ra. Olivia nghĩ tốt nhất không nên nói gì thêm.

– Về nhà trước đi nhóc. Ta và thị trưởng cần nói chuyện riêng. – Reginald nói như ra lệnh, tiện đẩy Olivia đi.

Chờ Olivia đi xa, Reginald trao cho cha mình ánh mắt dữ dội. Anh không biết kẻ đã cắn Allan là ai, cho tới khi nhìn thấy mái tóc hoa râm giờ đã ngả sang sắc đen nhiều hơn xám và gương mặt bớt đi tới vài nếp nhăn này.

– Con trai, sao con lại nhìn ta như vậy? – Arthur mỉm cười, hỏi Reginald như thể ông thật sự không biết điều gì đã xảy ra.

– Thôi giả vờ đi. Nói cho tôi, ông đã làm gì? Ông đã nói gì?

– Ta không hiểu… – Thị trưởng hơi chau mày.

– Ông đã cắn Allan. Tại sao?

– Ta không biết Allan nào. Con trai, nếu con định buộc tội ta…

Reginald gằn giọng, không thể tin tới giờ phút này Arthur vẫn còn chối bay được. Bực bội, anh ngồi xuống ghế, hai tay chống lên trán.

– Nhìn con kìa: nóng nảy, giận dỗi… – Arthur xáp lại gần con.

– Vậy cái gì đã giúp ông trẻ lại?

– À, ý con là ta đã lấy máu của một ma cà rồng nào đó! Allan là tên cậu ta? – Arthur chế nhạo. – Đáng lẽ con nên hỏi như thế từ đầu mới phải. Ta không thấy chuyện này có gì đáng phải truy cứu cả, con trai. Suy cho cùng, đó cũng là từ máu của con, phải không? Mà con là ruột thịt của ta, ta chỉ muốn lấy lại những gì thuộc về mình. Tại sao thằng bé đó lại có được máu của con? Con nghĩ nó xứng đáng?

– Chỉ có mình ông xứng đáng, phải không? Ý ông là như vậy?

Arthur lắc đầu.

– Không. Không, con trai, nghe ta này…

– Tôi không muốn nghe thêm bất cứ lời dối trá nào của ông! Tôi không biết ông đã tiêm nhiễm cái gì vào đầu Olivia suốt thời gian qua, nhưng đừng bao giờ lại gần con bé thêm nữa!

– Con đang đe dọa ta hay ra lệnh cho ta vậy? Reginald, con nên hiểu rằng người cha này đang cố hết sức có thể để hàn gắn lại mối quan hệ giữa hai chúng ta. Đừng cố chấp. Cảm giác ta có không khác cảm giác của con mỗi khi Olivia cãi lời con là mấy đâu.

Reginald ngẩng đầu nhìn Arthur, anh định nói gì đó nhưng lại quyết định ngừng.

– Nhưng cả hai đứa đều đáng yêu lắm, và ta là cha nên chẳng giận lâu được đâu. – Arthur chợt cười và xoa lấy đầu con.

Reginald cắn vào môi dưới, cố gắng che giấu nụ cười nhẹ của mình một cách vô vọng. Anh gần như đã quên cảm giác có cha mẹ là như thế nào. Nhưng rồi sự bướng bỉnh lại trỗi dậy, Reginald gạt tay cha ra.

– Con thật…

Cái xoa đầu của Arthur như chiếc công tắc đóng gạt cơn giận trong Reginald. Cặp lông mày của Reginald dãn ra, cơ vai anh ta cũng buông lỏng dần.

– Tôi đã cân nhắc rất kỹ trước khi quyết định cho Allan máu của tôi, tại sao ông lại làm vậy?

– Ta…

– Tôi đã vướng vào một đống rắc rối để rồi lọt vào tầm mắt của cảnh sát. Ông định hại tôi thêm nữa?

– Con, nếu muốn hại con thì ta đã hại từ lâu rồi, huống gì chúng ta lại là cha-con. Ta không nói ra không có nghĩa là ta không thương con hay không quan tâm tới con. Tin ta đi, mọi thứ ta làm từ trước tới nay đều là vì gia đình.

Reginald đưa đôi mắt buồn bã nhìn cha. Sau tất cả những gì đã xảy ra, Reginald chỉ không thể tha thứ cho cha, hay tin tưởng ông ta thêm một lần nào nữa. Arthur biết điều đó, và ông cũng biết một mình ông thì khó mà khiến đứa con thù hận này xao động. Nhưng Reginald không phải là sắt đá, nó cũng có cảm xúc như bất cứ ai.

– Reginald, con biết không, con nên về nhà đi. Olivia đang chờ con đấy.

– Con bé thì liên quan gì tới tôi và ông?

– Không, chỉ là… – Arthur nắm lấy tay con. – Olivia nghĩ con là một người quan trọng trong cuộc đời mình, và con bé hy vọng con đúng là người quan trọng ấy. Cái cách Olivia nói về con, cách nó nhìn con, cũng như cái nhìn trìu mến con âm thầm dành cho Olivia và thái độ nóng nảy như một người cha luôn bao bọc quá mức cần thiết của con làm ta cảm động. Olivia nghi ngờ và phản ứng vô cùng mãnh liệt với tất cả những ai xa lạ, với những gì khiến con bé liên tưởng ngay tới kẻ đã hại nó trước đây — chỉ trừ có con. Ta là cha, nhưng không phải chuyện nào ta cũng hiểu được hết đâu.

“Con biết.” – Reginald nghĩ vậy, nhưng anh không muốn nói thành lời.

– Về chuyện của con, con nghĩ cảnh sát mất bao lâu nữa để phanh phui ra?

Reginald đặt tay lên vai cha mà không buồn nhìn ông, sau đó rút lại.

– À, có điều này ta thắc mắc. Tại sao con lại nói với Olivia rằng mình là Song tử? Ai bảo với con như vậy? Hay con tự phát hiện ra?

– Tất nhiên là tôi nói đùa Olivia. Hay ông đã quên mất ngày sinh của đứa con này?

– Tất nhiên là ta vẫn nhớ chứ! – Arthur thở phào nhẹ nhõm.

Reginald cảm thấy chuyện chòm sao này thật ngớ ngẩn, lời nói của Arthur cũng vậy. Anh chào cha và quyết định ra về.

– Tạm biệt, con trai.

Sau khi Reginald đứng dậy, ngài thị trưởng cũng rời khỏi quảng trường.

* * *

– Tôi cũng thế! – Joseph thốt lên đầy phấn khởi.

Gina lấy hai bàn tay che lên miệng và bẽn lẽn cười, ánh mắt không giấu được niềm vui vì sự đồng điệu giữa hai người.

Cảnh sát trưởng và Gina đã ngồi bên nhau và trò chuyện một lúc lâu. Cả hai đều có vẻ đang tận hưởng khoảng thời gian này, chẳng ai muốn mình là người đầu tiên phải rời đi.

* * *

Reginald bước qua phòng khách, cố tình phớt lờ cục lông đen đang quấn quýt dưới chân. Reg rất buồn khi chủ nó giận đến mức im lặng như thế này. Ông chủ mà giận thì chẳng có ai cho nó ăn và chải lông nó cả.

– Nhóc? Ngươi đã về chưa đấy? – Reginald cất tiếng hỏi.

– ÒA! – Olivia nhảy ra từ sau lưng Reginald, đập vào người anh.

– Có cố gắng đấy nhóc, nhưng ngươi còn lâu mới dọa được ta.

Reginald ngồi xuống ghế, hơi cúi đầu suy nghĩ gì đó.

– Ngài nghĩ gì vậy? – Olivia kéo vào tay áo anh.

Reginald ngước lên nhìn cô bé. Lời nói của anh đã chạm tới đầu lưỡi nhưng rồi ngay lập tức bị nuốt vào trong.

– Ngài lạ lắm nhớ!

– Nhóc, ngươi có muốn nói chuyện với ta một lúc không?

– Về chuyện gì?

– Ngồi xuống đi.

Olivia nhanh chóng trèo lên ghế. Cô bé ngồi thẳng lưng, mắt hướng về phía Reginald, mong chờ anh mở lời.

– Olivia, ta cần ngươi nói thật cho ta biết: khi ở ngoài kia với thị trưởng, ông ta đã nói những gì?

– … Không nói gì cả. – Olivia nhún vai.

– Ý ngươi là sao? Ta thấy cả hai nói với nhau khá lâu mà. – Reginald chau mày.

Olivia đã hứa với ngài thị trưởng rằng sẽ giữ bí mật, cô bé không thể nói ra vì như vậy thì còn gì là bất ngờ nữa. Olivia chỉ muốn Reginald bất ngờ.

– Thôi nào nhóc! – Reginald bắt đầu mất kiên nhẫn.

– Chỉ hỏi về tôi và chỗ sô cô la thôi mà.

Cái nhìn thẳng trách cứ và sự im lặng của Reginald làm Olivia bối rối.

– Thật đấy! Chẳng lẽ ngài không tin tôi?

Reginald không có nhiều thời gian để ở lại và đôi co với đứa trẻ này. Cuộc trò chuyện ngắn giữa mình với cha đã phần nào giúp Reginald hình dung ra được những điều tiếp theo phải làm là gì. Anh đứng dậy, xoa đầu Olivia và rời đi.

– Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật đâu.

– Ngài cứ như trẻ con ý! – Olivia gắt lên sau cái đóng cửa của Reginald. Cô bé vẫn luôn nghĩ hành động bỏ đi của anh ta là biểu hiện của sự hờn dỗi.