"Hậu cung - Phượng hoàng bay cao" bởi theboyofschool
"Tự cổ Đế vương đa bạc tình
Tự cổ Hồng nhan đa bạc mệnh"


“Hậu cung – Phượng hoàng bay cao” là những trang truyện kể về cuộc chiến của những nữ nhân trong bốn bức tường gọi là Tử Cấm Thành. Như một định mệnh, để sống sót và có được quyền lực trong tay, tất cả đều phải tự mình giành lấy duy nhất một thứ: trái tim của Hoàng đế.


Thể loại: Truyện Phân đoạn: 14 Hoàn thành: Không Độ dài: 117870 từ Đọc: 2081 lần Đăng: 15 Jul 2017 Cập nhật: 21 Nov 2017

1. "Chương 1 " bởi theboyofschool

2. "Chương 2" bởi theboyofschool

3. "Chương 3" bởi theboyofschool

4. "Chương 4" bởi theboyofschool

5. "Chương 5" bởi theboyofschool

6. "Chương 6" bởi theboyofschool

7. "Chương 7" bởi theboyofschool

8. "Chương 8" bởi theboyofschool

9. "Chương 9" bởi theboyofschool

10. "Chương 10" bởi theboyofschool

11. "Chương 11" bởi theboyofschool

12. "Chương 12" bởi theboyofschool

13. "Chương 13" bởi theboyofschool

14. "Chương 14" bởi theboyofschool


"Chương 1 " bởi theboyofschool
Author: by Kiya Banks (Niên Gia/ theboyofschool)
Disclaimers: các nhân vật và diễn biến của truyện được tạo nên dựa vào một phần những sự kiện có thật trong lịch sử (giai đoạn từ năm 1906 đến 1925)
Genres: cung đấu/dã sử/lãng mạn
Fandom: không có
Pairings: không có
Summary: Ngày đại hôn diễn ra, Tử Chi cùng những người khác đi từng bước tiến vào Hoàng cung lộng lẫy uy nghi lên ngôi phi tử Nam triều. Để rồi kể từ hôm đó, cuộc đời của tất cả mọi người trong chốn hậu cung đã rẽ sang một con đường đầy nước mắt và nỗi bi thương.

“Hậu cung – Phượng hoàng bay cao” là những trang truyện kể về cuộc chiến của những nữ nhân trong bốn bức tường gọi là Tử Cấm Thành. Như một định mệnh, để sống sót và có được quyền lực trong tay, tất cả đều phải tự mình giành lấy duy nhất một thứ: trái tim của Hoàng đế.

( Link dẫn đến blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )


__________________

Người trong mộng, ta vẫn còn da diết
Mất nhau rồi, ta tiếc mái đầu xanh
________________




Chương 1



Ngày 13 tháng 5, năm Thành Thái thứ 17

Tất cả bắt đầu từ một ngày nắng sớm oi ả trên bờ biển cửa Tùng. Gió thổi lồng lộng đẩy từng đợt sóng xô bờ, đánh trắng cả một vùng cát. Nước trong xanh như ngọc, phản chiếu mặt trời làm tưởng chừng như biển trải dài rộng đến mênh mông.

Tử Chi bước trên cát, chốc lát lại cúi người xuống nắm một tay đầy cát, rồi lại tỉ mẫn nhặt ra từng vỏ sò đủ mọi kích cỡ và bỏ vào trong giỏ mang bên người.

“Tiểu thơ ơi, lại đây đi, ở đây nhiều lắm này.” – Miên Thanh đằng xa gọi với, tay vẫy cao ra hiệu.

Tử Chi nói “Ừ, em đợi ta” rồi đi nhanh đến gần mõm đá đen đằng kia chỗ Miên Thanh đang đứng.

Miên Thanh chỉ xuống bãi cát lém lỉnh nói “Cô xem, nhìn thích mắt chưa? Đủ mọi màu sắc, kỳ này chúng ta đào ngay ổ vàng rồi tiểu thơ ơi.”

Tử Chi không ngăn được cười nói “Đồ quỷ con, đừng nhiều lời nữa, mau mau cùng ta nhặt hết chỗ này rồi về, cũng gần trưa rồi, đừng để cha mẹ ta đợi cơm.”

Miên Thanh nhăn mũi nói “Ui dào, nhặt hết chắc em phải đến gãy cả lưng mất.”

Tử Chi cười “Lại lười biếng rồi phải không? Hay vậy đi, em giúp ta một tay cho nhanh, khi về ta sẽ cho em hết chỗ bánh gạo mà mẹ ta mới làm. Chịu không?”

Miên Thanh nghe vậy vỗ tay nói “Hay quá, bánh gạo phu nhân làm là ngon nhất. Tiểu thơ hứa với em rồi là phải giữ lời đấy nhé.”

Tử Chi vờ nghiêm mặt vỗ hông Miên Thanh một cái “Con bé này chỉ có mỗi dụ khị ta là giỏi.”

Miên Thanh gãi đầu cười rồi lại kéo tay Tử Chi cuối xuống nhặt vỏ ốc bên dưới chân mình. Cả hai nhặt từng vỏ một, phủi cho sạch cát rồi cho hết vào giỏ, vừa làm vừa cười nói rôm rả.

Thoáng đó trời cũng đã gần đến giờ đứng bóng. Miên Thanh nhìn lên rồi quẹt trán nói “Tiểu thơ, nắng lên cao lắm rồi, chúng ta mau về thôi, kẻo ông với bà la em không biết nhắc nhở cô giờ cơm trưa.”

Tử Chi cũng thấy nóng, cô lấy tay chặm mồ hôi rồi gật đầu “Ừ, em đợi ta một chút, ta xong ngay đây.” Nói rồi Tử Chi nhặt ráng vài chiếc vỏ nữa mới đứng dậy cùng Miên Thanh ra về.

Cả hai đi dọc theo đường bờ biển trải dài. Sóng vẫn đánh nhịp nhàng vào cát trắng, gió biển thổi mạnh làm không khí cũng bớt oi bức một chút. Miên Thanh nhìn thấy một mõm đá đằng xa kia, lắc tay Tử Chi nói “Tiểu thơ, hay chúng ta leo lên chỗ đó chơi một lát, trên đó cao, chắc sẽ nhìn thấy được nhiều cảnh hơn.”

Tử Chi nhìn theo hướng Miên Thanh chỉ rồi lắc đầu nói “Không được đâu, giờ đã gần trễ, chúng ta mau đi về thôi, em biết mỗi lần cha mà giận là sẽ phạt nặng cả hai mà.”

Miên Thanh nhăn mũi “Từ đây về đến nhà cậu của tiểu thơ cũng chỉ chốc lát, đâu phải năm nào cả nhà mới được đi từ Huế ra biển cửa Tùng chơi như năm nay. Tận dụng mọi thời khắc mà ngắm cảnh đẹp như vầy mới là thượng sách tiểu thơ ơi.”

Biết không ngăn được, Tử Chi cũng đành gật đầu nói “Thôi được, nhưng ta chỉ lên đó một chút rồi về ngay đấy nhé.”

Miên Thanh cười lém lỉnh vâng dạ rồi kéo tay Tử Chi chạy theo mình. Mõm đá này nằm khá xa bờ biển, lại cao hơn so với các mõm khác nên trên đây nhìn được toàn cảnh biển cửa Tùng. Trời giờ đã cao vút và không một áng mây, nhìn xanh như ngọc. Nhìn mọi thứ từ đây, Tử Chi thầm nói, tranh thủy mặc chắc cũng chỉ đẹp được nhường này.

Miên Thanh thích thú cười nói liên hồi, khung cảnh này đúng là làm cho con người ta thoải mái.

Cả hai ngắm cảnh thỏa thích rồi mới quyết định đi về. Tử Chi nói “Miên Thanh, ta về thôi em, chắc đã trễ lắm rồi.”

Miên Thanh giờ đang ngồi ngay mép mõm đá mà đung đưa chân. Nghe tiếng Tử Chi gọi, nàng ta loay hoay đứng dậy nói “Tiểu thơ ơi, lần sau chúng ta lại ra đây nữa nhé...Ốiiii !”

Hóa ra chỗ đá ngay đoạn đó trơn hơn Miên Thanh nghĩ, vừa định đứng lên thì chân không bám được, tay cũng chưa kịp phản ứng, nàng ta mất thăng bằng mà rơi ngay xuống biển, miệng chỉ kịp la oai oái.

Nhớ ngay đến việc Miên Thanh không biết bơi, Tử Chi mặt tái xanh, sợ đến mất cả mật, chạy vội đến chỗ đầu mõm đá, nhìn xuống biển, thấy Miên Thanh đang bị sóng đánh từng đợt mà không thể bơi được, tay quơ quào vô định lên khỏi mặt nước, cô hoảng loạn nắm chặt tay, môi mấp máy mấy tiếng yếu ớt “Trời ơi, có…có ai không? Cứu… cứu với!”

Biết quanh đây không có ai, lại ngay lúc giờ trưa nên dân miền này không ra biển là điều dễ thấy. Không còn cách nào khác, Tử Chi vừa định trèo xuống biển để cứu Miên Thanh thì bỗng một bóng người nam mặc áo trắng từ đằng bờ biển bơi lại chỗ Miên Thanh đang ngoi ngóp. Hắn ta vừa bơi vừa ôm nàng ta rồi bắt đầu quay vào bờ.

Tử Chi không suy nghĩ, chạy ngay xuống bờ biển bên dưới, thấy Miên Thanh không động đậy mà lòng chỉ cầu Phật là nàng ta sẽ không bị sao, nếu không, chắc cô phải hối hận đến chết.

Người nam kia khi tới gần bờ liền đứng dậy và xốc bế Miên Thanh trên hai tay, chân loạng choạng nhưng vẫn cố gắng đưa nàng ta đến chỗ Tử Chi đứng càng nhanh càng tốt.

Vừa thả Miên Thanh xuống, Tử Chi ôm chặt lấy nàng người hầu nói “Miên Thanh, em có sao không? Em có bị ngạt nước không em?”

Miên Thanh ho vài cái rồi thều thào “Dạ, bẩm tiểu thơ, em…không sao.”

Tử Chi thở phào nhẹ nhõm. Vuốt trán Miên Thanh rồi trách “Em hư lắm, ban nãy ta sợ chết giấc. Lỡ em có bị gì thì ta biết phải làm sao? May nhờ có người ta cứu, nếu không thì…”

Miên Thanh lí nhí “Dạ, em xin lỗi tiểu thơ, tiểu thơ đừng buồn em nghe.”

Tử Chi tất nhiên là không giận hờn chi cả, nhưng mặt vẫn tỏ ra nghiêm nghị để làm nàng ta sợ một phen nữa. Bỗng nàng chợt nhớ ra, chẳng phải ban nãy đã có người đã cứu Miên Thanh đó sao? Cứ mãi lo đằng này mà quên mất người ta.

Nhìn lên cách đó hai thước, người kia vẫn đang ngồi nghỉ mệt trên cát mà thở liên hồi. Suýt chút nữa là phải bị mang danh thất lễ vô ơn, Tử Chi đặt Miên Thanh trên tay ngồi xuống đó rồi mới đứng dậy tiến lại gần.

Chẳng biết mở lời sao cho phải, Tử Chi cũng đành rụt rè nói “Dạ, anh gì đó ơi, chẳng hay anh có bị làm sao không?”

Anh quay lại nhìn Tử Chi với gương mặt ướt sũng, tóc cũng phủ lên hai mắt, nhưng anh cũng vuốt mái đầu lên cho gọn rồi lắc đầu cười “Không, tôi không sao. Chỉ lo cho em của cô, chắc phải ngạt nước dữ lắm.”

Tử Chi cảm kích nói “Em tôi chỉ bị hoảng sợ một chút. Hôm nay cũng may nhờ có anh cứu mạng kịp lúc, chứ nếu không tôi cũng chẳng biết làm sao nữa. Chị em tôi cảm ơn anh nhiều lắm.”

Anh ta cười xòa “Không hề chi. Tôi cũng đang định tắm biển, vừa may lại có dịp nhảy xuống bãi ở cửa Tùng này mà tắm cho thỏa thích. Tôi phải cảm ơn hai cô đây mới phải.”

Tử Chi không nhịn được cười, phải lấy tay che miệng khúc khích. Miên Thanh chợt ho vài tiếng bên kia, Tử Chi mới nhớ ra rằng là mình còn phải dìu Miên Thanh về nhà, không khéo nàng ta lại bị bệnh nặng. Cô nói “Thưa anh, bây giờ chúng tôi phải đi về. Không biết nhà anh ở đâu, ngày mai tôi sẽ dẫn cậu cùng cha tôi đến để cảm ơn, có như vậy mới là phải đạo.”

Anh ta đứng dậy, vừa phủi cát trên người vừa hỏi “Vậy xin hỏi nhà của hai cô ở đâu? Nói ra không chừng tôi sẽ biết.”

Tử Chi thật thà “Dạ, chúng tôi từ Huế lên đây chơi ít hôm, giờ cả nhà tôi đang ở tại nhà cậu. Nhà cậu tôi nằm ở ngay gần chợ, cách đây không xa. Mà nói ra, vậy anh là người ở đây hay sao? Tôi nghe giọng anh có vẻ không giống như người Quảng cho lắm.”

Anh cười nói “À không, tôi không phải người Quảng, tôi chỉ thường ra đây chơi, rồi đi đây đi đó, khu này tôi cũng qua lại mấy lần. Nhà cậu của cô ở gần chợ, chắc nhà cậu cô phải là quan to lắm.”

Tử Chi nói “Dạ bẩm, không giấu gì anh, cậu tôi cũng làm quan, nhưng cũng chỉ là ông Huyện, không phải quan to gì.”

Anh ta nhướn mày “Ồ, hóa ra cô đây chính là…À, không có gì, tôi chỉ ngạc nhiên thôi. Không ngờ ông Huyện lại có người cháu ở Huế.”

Rồi anh nhìn sang Miên Thanh “Cô cứ đưa em của cô về trước. Tôi cũng phải về đây kẻo nhà đang trông.”

Tử Chi nói “Nhưng anh ơi, anh còn chưa nói cho tôi biết nhà anh ở đâu kia mà.”

Anh cười tươi “Không cần đâu, ngày mai chúng ta lại gặp nhau thôi.”

Tử Chi chớp mắt “Nhưng mà…”

Anh ta vẫy tay nói “Đừng lo, Vĩnh San tôi đây chưa bao giờ thất hứa.” rồi quay lưng lại chạy về phía cồn cát bên kia.

Tử Chi đứng nhìn anh một hồi lâu rồi mới quay lại đỡ Miên Thanh dậy, trong lòng băn khoăn bao nhiêu điều về người thanh niên ấy. Cô cùng Miên Thanh đi về hướng ngược lại của anh ta nhưng Tử Chi vẫn quay đầu lại nhìn cái bóng của anh cho đến khi anh khuất sau hàng dừa xa tít đằng kia.


"Chương 2" bởi theboyofschool
( Link dẫn đến blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )


Mỗi tối, sau giờ ăn chiều, Tử Chi theo lệ thường đi dâng trà cho cha rồi dạo quanh vườn nhà, gần tối mới vào phòng ngủ. Nhưng hôm nay, sau khi từ chỗ của cha về, cô lại đi thẳng vào phòng mình mà kéo kín rèm, bật đèn dầu rồi ngồi trầm ngâm giở sách ra mà đọc.

Hương sen ngoài ao theo gió thổi vào làm Tử Chi khoan khoái đôi chút, tiếng ếch nhái nỉ non sau vườn vang vọng đến tận đây nên không gian cũng bớt đi mấy phần buồn tẻ.

Sách mới giở được vài trang thì rèm rung lên, Miên Thanh trên tay bưng một khay có đĩa bánh gạo cùng một bình trà bước vào phòng.

Tử Chi gấp sách lại rồi đi nhanh lại phụ bưng khay gỗ nói “Em còn mệt, sao không nghỉ sớm đi? Bánh này nhờ người khác đem vào cho ta cũng được.”

Người Miên Thanh toàn mùi dầu khuynh diệp, vừa đặt món trên tay xuống bàn thì gãi đầu nói “Em chỉ bị ngạt nước một chút, bà ban chiều cho em thoa dầu là đã khỏi, giờ chỉ còn hơi đau vai nên em lo hầu tiểu thơ, để đứa khác hầu thì tiểu thơ lại không vừa ý.”

Tử Chi cười cảm động nói “Thôi được rồi. Nào, ngồi xuống ghế ở đây rồi cùng ăn bánh gạo với ta.”

Miên Thanh dạ một tiếng rồi cả hai cùng giở đĩa bánh ra. Mùi gạo dẻo thơm lạ lùng, vừa nghe đã ướt đầu lưỡi. Tử Chi cầm ấm sứ trắng rồi liền rót trà ra tách ngọc bên cạnh. Trà bưởi bốc khói nghi ngút, hương chát của lá trà vừa phơi cứ đậu ngay mũi, thơm dịu không dứt.

Tử Chi cười nói “Bánh của mẹ làm là quả là công phu không ai sánh được.” rồi nhanh nhảu hớp một ngụm trà, xong lấy tay bóc bánh gạo nhai chầm chậm. Bánh vừa ăn vào miệng đã tan thành vị ngọt dịu nhẹ, thêm chút vị chát của trà ban nãy lại càng làm cho bánh thêm ngon.

Miên Thanh vừa nhai bánh vừa nói “Cũng may ban sáng lúc đi về thấy bộ dạng của em nên hai ông không mắng cho tội đi về trễ, lại còn bảo người sắc thuốc cho em uống, chứ nếu không hẳn là giờ này em đã nằm sấp vì bị đòn chứ không được cùng tiểu thơ ăn bánh như thế này đâu.”

Tử Chi nói “Em đó, còn nói nữa, sau này phải biết tự mình cẩn thận. Nếu hôm nay không có người ta cứu thì ta biết phải làm sao?”

Miên Thanh cười nói “Dạ, em cũng thấy vậy.” rồi chuyển sang chuyện khác “Mà nhắc đến mới nhớ, đến giờ tiểu thơ cũng vẫn chưa biết người đó là ai sao ạ?”

Tử Chi bỗng ngừng ăn, trầm ngâm nói “Ừ, vẫn chưa. Vả lại ta chỉ nói với cha và cậu là em vì nhặt giỏ đựng vỏ sò bị rơi nên bị sóng đánh ra xa bờ một chút, vì thế cũng không tiện nhắc đến chuyện hỏi thăm thân thế người kia.”

Rồi cô đặt cái bánh ăn dở lên đĩa “Nhưng thực lòng, ta vẫn rất muốn gặp lại anh ta. Người ta cứu em, mà ta cũng chỉ nói cảm ơn qua loa, chưa đáp lễ thứ gì, ta thấy áy náy từ đó đến giờ.”

Miên Thanh nói, giọng pha chút chua ngoa “Anh ta cũng thật kỳ lạ, cứ như là sợ bị người ta biết nhà của mình ở đâu không bằng. Xem ra chắc hẳn phải có điều chi mờ ám mới hành xử như vậy. Cơ mà, tiểu thơ có nghe anh ta có tự xưng mình tên chi hay không?”

Tử Chi mông lung nhìn vào góc phòng, tưởng tượng lại khung cảnh ban sáng rồi nói “Vĩnh San…Anh ta tên Vĩnh San.”

Miên Thanh gật gù “Tên đẹp vậy, chắc hẳn phải là con nhà quyền quý. Anh ta có nói mình ở Huế ra đây chơi, hay tiểu thơ thử hỏi ông xem, biết đâu anh Vĩnh San này lại là con của một quan lớn trong triều, bằng hữu của ông thì sao?”

Tử Chi ngẩn người “Để làm gì? Hai người nam nữ không quen biết giờ lại hỏi thăm gia cảnh của nhau, người ta biết được thì sẽ quở ta không giữ ý tứ. Không hay đâu.”

Miên Thanh cười hì hì “Tiểu thơ nói cũng phải, thôi thì đành vậy. Nhưng nói gì thì nói, em thực ra rất muốn biết tên thanh niên dáng vẻ tuấn tú ngất trời đó là ai, gia cảnh thế nào, có xứng để làm con rể của Hồ gia chúng ta hay không.”

Tử Chi đỏ mặt bịt miệng Miên Thanh “Không được nói bậy. Em thật quá đáng. Ta…ta sẽ mách cha cho xem.”

Miên Thanh tái xanh mặt khẩn khoản nói “Oan cho em quá, tiểu thơ đừng nói với ông, tội em lắm.”

Tử Chi gườm “Thôi được rồi, ta tha cho em đó.” Rồi lại lí nhí “Nhưng…đúng thực anh ta rất đĩnh đạc, dáng vẻ cũng dễ nhìn.”

Miên Thanh được nước làm tới “Vậy tiểu thơ sao không chủ động tìm hiểu xem anh ta là ai? Biết đâu chừng hai người sẽ được tiếp tục gặp nhau?”

Tử Chi nói “Ngày mai, ngày mai sẽ gặp lại mà.”

Miên Thanh tròn mắt “Tiểu thơ chắc chắn như vậy sao?”

Tử Chi nhìn nàng ta, rồi lại đưa mắt ra ngoài cửa sổ, nhớ lại khoảnh khắc anh ta cười rồi quay đi, Tử Chi nhẹ cười “Ừ, ta tin vậy. Vì ‘Vĩnh San tôi đây…chưa bao giờ thất hứa.’”

-o0o-


Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong xuôi, nhìn lên thấy trời nắng đẹp, lòng khoan khoái lạ thường, Tử Chi cùng anh mình định ra chợ mua ít cua về nấu cháo, sẵn tiện tham quan chợ vùng biển cho thỏa thích. Đang mặc thêm áo khoát ngoài chuẩn bị ra lên đường thì Miên Thanh chạy vào nói:

“Bẩm cô, ông nói là sáng nay khoan hãy đi ra chợ. Lát nữa hai ông sẽ dẫn cả nhà đi ra đình ở ngoài gần bãi tắm.”

Tử Chi thắc mắc “Sao hôm qua cha không nói gì với ta hết vậy? Cha nói với em khi nào?”

Miên Thanh thở hổn hển nói “Dạ, mới vừa ban nãy. Ông chỉ nói có khách quý của hoàng gia cũng đang du hí ở đây nên nhờ ông dẫn cả nhà ra tiếp kiến, xem như làm quen.”

Thoáng chút ngạc nhiên nhưng Tử Chi cũng gật đầu “Ừ, ta biết rồi. Em lại đây mặc áo giúp ta rồi chúng ta cùng ra ngoài nhà khách.”

Miên Thanh cầm cây trâm bạc trên bàn lên, vừa cài lên búi tóc của Tử Chi vừa hỏi “Hôm nay tiểu thơ có vẻ ăn mặc kỹ lưỡng hơn thường ngày, vì sắp gặp hoàng gia nên cũng chỉn chu hơn sao ạ?”

Tử Chi vuốt nhẹ tóc mai nói “Không hẳn. Vốn ta định đi chợ cùng anh xong rồi sẽ đi với em ra biển, biết đâu sẽ gặp lại anh chàng Vĩnh San nọ. Nhưng giờ chúng ta lại ra thẳng cửa Tùng, thế cũng tốt.”

Miên Thanh lém lỉnh nói “Hôm nay nhìn thấy tiểu thơ xinh đẹp còn hơn hôm qua, chắc sẽ không cầm lòng được mà khai hết gia thế của hắn. Chúng ta không cần mất sức nhiều.”

Tử Chi gườm “Đừng đứng đó mà nói bậy nữa, chúng ta đi thôi. Cả nhà hẳn là đang đợi.”

Khi ra nhà khách phía trước thì mọi người cũng mới vừa tập trung đầy đủ. Tất cả mọi người biết người sắp diện kiến tới đây là thân thế hoàng gia thật không tầm thường nên ai nấy cũng đều đều quần áo chỉnh tề, sửa soạn hơn thường ngày một chút.

Cha và cậu Tử Chi hô đi trước, mọi người đi theo sau. Người hầu đáng ra đều phải ở nhà nhưng Miên Thanh lanh lẹ, lại là người thân cận của tiểu thơ Hồ gia, nên được đặc chuẩn mà đi theo bầu bạn với Tử Chi, sẵn tiện phòng tí nữa có khi lại cần thì cũng có người sai bảo trước sau.

Đi ra cửa, mọi người leo lên xe ngựa kéo, hai người lên một chiếc. Tử Chi với Miên Thanh đi chung. Xe chạy băng qua chừng vài con phố là đã đến cửa Tùng.

Đến nơi, Tử Chi bất giác ngước lên, sắc trời hôm nay thật đẹp, xanh nhạt nhưng nhìn xa thăm thẳm, lại tô điểm thêm vài cánh chim bay trên cao qua lại, nhìn quả thật xao xuyến động lòng.

Miên Thanh dìu Tử Chi bước xuống xe, cô chỉnh trang y phục rồi đưa mắt dáo dát nhìn quanh như đang tìm kiếm. Miên Thanh thì thầm:

“Tiểu thơ đang tìm ai vậy? Có phải là tên Vĩnh San đó không?”

Bị nói trúng tim đen, Tử Chi cũng đành nhận “Phải, nhưng chắc cũng vô ích. Ta định ở đây đến trưa, nếu không gặp anh ta thì cũng đành chịu. Xem như ta tin lầm người vậy.”

Đứng đó một chút thì có một người đi tới từ phía bên kia. Ông ta mặc áo chỉnh tề, đầu vấn khăn lụa nên nhìn là biết hẳn đây là quan trong triều đình. Vừa đi đến ông ta liền cúi đầu chào: “Dạ bẩm, bổn quan xin chào ông Thượng(1), chẳng hay ông Thượng mấy hôm nay ở nhà của ông Huyện, chắc cũng thoải mái chứ ạ?”

Tử Chi thầm nói, vậy là ông ta vai vế trong triều đình chắc hẳn là nhỏ hơn cha của mình nên mới phải kính cẩn như vậy.

( (1): “Ông Thượng” là nói tắt của “Ông Thượng thư” – chức quan Chánh nhị phẩm ở chế độ phong kiến tương đương với chức Bộ trưởng ngày nay)

Cậu Tử Chi cung kính đáp lời “Dạ, không dám không dám. Thấy anh rể lên nhà tôi chơi, như rồng tới nhà tôm, gia đình tôi đều không dám thất lễ.”

Ông Thượng cười nói “Đều ổn, đều ổn. Chúng tôi rỗi việc đi chơi ít hôm, ông Tuần phủ(2) đừng quá bận tâm. Mà này, ban sáng sao ông chỉ sai người đến báo tin là có người của hoàng gia hạ cố đến cửa Tùng mà lại không nói rõ ai, làm chúng tôi như ngồi đống lửa?”

( (2): Tuần phủ là một tước quan bậc Tòng nhị phẩm ở thời phong kiến )

Ông Tuần phủ phân trần “Bẩm ông Thượng, xin ông đừng trách lầm tội nghiệp cho tôi, vì người này lệnh cho tôi không được nói, chỉ sợ gia đình ông Thượng và ông Huyện cứ phải chuẩn bị kỹ lưỡng, ấy lại làm mọi người bị không được tự nhiên, đâm ra mất vui. Người này nói tất cả cứ xem nhau như bằng hữu là được. Nghe lệnh vậy, tôi cũng chẳng dám cãi.”

Ông Thượng chớp mắt “Vậy chẳng hay người này là vương công hay là hoàng tử, công chúa nào chăng?”

Ông Tuần phủ lắc đầu “Đều không phải. Thực ra người này là…là Đông cung Thái tử.”

Tất cả mọi người nghe xong đều hoang mang, Tử Chi tròn mắt, nhìn sang Miên Thanh, lòng tự hỏi, Thái tử tôn quý không ở trong hoàng cung, thích đi du hí ra tận ngoài cửa Tùng này đã đành, sao lại còn muốn gặp mặt cả nhà cha mình làm gì?

Ông Thượng có chút kinh sợ, nói “Ấy chết, nếu vậy thì chúng ta lại càng phải nhanh chóng diện kiến ngài, để ngài không trách tội." rồi đưa tay ra trước "Nào, mời ông Tuần phủ đi trước.”

Ông Tuần phủ khách sáo đáp lẽ nói “Không dám, Thái tử đang ngự ở Hải Phong đình đằng kia, đi chốc lát là tới.”. Nói rồi đi trước dẫn mọi người đi về phía cồn cát bên kia.

Đi được khoảng năm phút, Hải Phong đình cũng dần hiện lên trước mắt. Đình không lớn, nhưng mái đình lại cao, thêm nữa xung quanh được trang trí hình long phụng lượn mây, nhìn mười phần thanh nhã. Đứng ngoài đình là vài tên thị vệ đang đi qua lại, khung cảnh bỗng dưng nghiêm trang khó tả. Thấy vậy, thầm nghĩ tới hình dáng thái tử chắc phải oai vệ lắm, Tử Chi nhìn xuống giày rồi nhẹ chỉnh lại y phục một chút, cô nghĩ ít ra cũng không cho phép mình bị thất lễ bởi những điều khinh suất không đáng có.

Vừa bước vào đình, ai nấy cũng đều trong tư thế cung kính, không dám nhìn dáo dát sợ mang tội thất lễ, Tử Chi chỉ kịp nhìn thấy một thanh niên đứng chắp tay, xoay lưng lại với cổng phía tây này, dáng vẻ đạo mạo nghiêm trang. Lòng nghĩ ắt hẳn là Thái tử, cô lại không dám nhìn lâu, vừa thấy đã liếc mắt nhìn xuống dưới chân, hai tay đan lại để trước bụng sẵn sàng quỳ bái lễ.

Ông Tuần phủ đi lại gần Thái tử rồi nói “Bẩm Thái tử, thần đã dẫn cả gia đình ông Thượng cùng ông Huyện đến cầu thỉnh an đây ạ,”

Thái tử ừ một tiếng rồi bước lại gần chỗ mọi người đang đứng. Tất cả đồng loạt nhìn theo ông Thượng mà quỳ xuống hô “Dạ, thần xin được thỉnh an Thái tử.”

Thái tử nói “Tất cả mọi người đứng lên hết đi. Ở ngoài hoàng cung, đừng câu nệ quá nhiều quy củ, làm ta mất vui.”

Giọng nói này, Tử Chi có lẽ đã từng nghe qua…

Mọi người theo lệnh mà đứng dậy, Tử Chi liền ngước mắt nhìn lên phía trước, không sai, quả thực người xưng danh Thái tử không ai khác mà chính là…

“Là Vĩnh San, tiểu thơ ơi, là tên Vĩnh San ấy đó. Anh ta chính là Thái tử.” – Miên Thanh kiềm nén xúc động, ghé sát tai Tử Chi mà nói nhẹ như thở nhưng vẫn nghe rất rõ.

Tử Chi nắm tay nàng ta, môi mấp máy “Ta thấy rồi. Em đừng khinh suất.”

Dù ngoài mặt vẫn bình tĩnh chứ không hốt hoảng như Miên Thanh, nhưng lòng nàng cũng kinh hoàng không kém. Thảo nào vừa nói đến bản thân là cháu ông Huyện thì anh ta biết ngay Tử Chi là con ông Thượng thư đương triều. Vì cha Tử Chi đảm nhiệm nhiều việc quan trọng, lại được Hoàng đế sủng ái, thân hữu trong triều cũng nhiều nên chỉ vừa vắng mặt vài hôm là tin đồn loan khắp bá quan, nên đến cả Thái tử dù không ra mặt trong các dịp thượng triều nhưng cũng biết rõ, rằng ông Thượng kỳ này đi đâu, ở đâu, âu cũng là điều dễ hiểu.

Gió biển thổi nhẹ, Hải Phong đình xung quanh chỉ hơi mát một chút nhưng tự nắm tay mình, Tử Chi giờ thấy lạnh ngắt, đầu không dám nhìn thẳng Thái tử mà chỉ chăm chăm xuống đất. Miên Thanh lại càng rụt rè hơn, nấp sau lưng cô, trông bé nhỏ tội nghiệp đến tội.

Sau khi thăm hỏi, ông Tuần phủ mời cha và cậu của Tử Chi đứng hầu chuyện cùng Thái tử. Anh của cô cũng từng du học ở Pháp quốc về nên được mời ở lại. Vừa nghe xong đề nghị, Thái tử nói:

“Vừa ra khỏi Đại Nội được mấy ngày, ta cũng muốn đi thăm thú cảnh vật ở xứ Quảng, xem xem cửa Tùng có đẹp như người ta hay nói không. Nghe nói biển cửa Tùng đẹp nhất là lúc ngắm ít người, phong cảnh tĩnh lặng, nhìn sóng biển cũng thấy thích. Các cụ lão trong triều nếu có hứng thì đi cùng ta. Còn không thì cùng ngồi với nhau ở đình mà tự nhiên uống trà đàm đạo, cứ thoải mái như ở nhà.”

Mọi người chẳng biết phải đối đáp sao cho phải, mắt thoáng nhìn nhau thì ông Thượng hiểu ý bước lên nói “Dạ, bẩm Thái tử, thần cũng tin rằng không gì sánh được khung cảnh ngắm biển một mình, chúng thần xin được ở đây mà uống trà không dám quấy rầy người trong lúc thưởng ngoạn. Chỉ là đi một mình thì có lẽ không tiện, chẳng hay người có muốn ai đi cùng không ạ? Thị vệ hầu hay là…”

Thái tử cười nhìn Tử Chi “Ta nghe đồn con gái của ông Thượng thân là khuê nữ danh giá, vừa làu thông kinh sử, lại giỏi tiếng Pháp, văn thơ thi họa trước nay đều rành rỏi. Đúng lúc ta cũng muốn có bạn cùng bình thơ văn Tây học, vừa ngắm cảnh vừa bàn văn chương hẳn là thú vị. Ông Thượng có thấy tiện không?”

Tử Chi vừa nghe nhắc đến mình mặt đã tái xanh, mắt trân nhìn cha cầu cứu. Ông Thượng lúng túng một lát rồi nhìn qua con gái như hiểu ý. Nhưng Thái tử đã mở lời thẳng, ông e là khó từ chối nên nói “Dạ, bẩm Thái tử, dĩ nhiên là được. Chỉ là con gái tôi tuy học nhiều nhưng không thường ra ngoài, sợ rằng nói chuyện nhàm chán làm Thái tử mất hứng, hay là…”

Thái tử cười ngắt lời “Không chi cả. Người học nhiều ắt sẽ hiểu rộng, hiểu rộng ắt lời nói ra cũng sẽ uyên bác thâm thúy. Ông Thượng đừng quá khiêm tốn.”

Biết không thể từ chối, ông Thượng cúi đầu nói “Dạ, chỉ cần Thái tử không chê là được.” rồi quay sang Tử Chi dặn dò “Con còn không mau chuẩn bị đi cùng Thái tử? Dù biết Thái tử hòa nhã dung dị, nhưng cũng phải giữ lễ, không được tự do cười nói như đối với người thường, đừng khinh suất nghe con.”

Tử Chi cũng đành chịu thua, đầu vẫn không ngẩng lên cao mà chỉ nhún gối “Dạ, con xin tuân mệnh Thái tử. Con xin cẩn tuân lời cha dạy.”

Thái tử cười rồi bước ra ngoài cửa Tây, đứng ngay cạnh Tử Chi lấy tay chìa ra trước ra hiệu, nói “Thật là vinh dự cho ta quá. Mời tiểu thơ đi trước.”

Tử Chi đỏ mặt quay lại rồi kéo áo khoát chặt hơn một chút, mắt vẫn không nhìn lên, chân đi theo hướng của Thái tử mà bước ra khỏi Hải Phong đình với khung cảnh đầy cát trắng ngoài kia.

Bên cạnh đình là một con đường mòn dẫn thẳng ra bãi tắm cửa Tùng. Hai bên đường hàng phi lao cao vút lên trời, gió thổi qua nghe tiếng vi vu êm dịu, hương biển nhẹ nhàng thoảng qua làm người ta cũng cảm thấy dễ chịu.

Thái tử đi trước, Tử Chi giữ khoảng cách đi sau người khoảng vài bước chân, cả hai mắt không dám nhìn sang người bên cạnh mà chỉ chăm chăm vào bãi biển.

Được hồi lâu, Thái tử đi chậm rồi đứng hẳn lại, bất giác lên tiếng, mắt nhìn xa xăm, hỏi “Em có thích ngắm biển không?"

Tử Chi bị hỏi bất ngờ nên nhất thời lúng túng, nhưng sau đó cũng nhanh chóng định thần lại mà nói “Dạ bẩm, khung cảnh hữu tình, ai nhìn cũng sẽ thấy thích."

Thái tử cười, lại hỏi "Ta cũng thích ngắm biển. Em có biết vì sao không?"

Tử Chi im lặng một chút rồi lắc đầu nói "Dạ bẩm, con không biết, thưa Thái tử. Chỉ nghe cha kể cảnh trong cung đẹp lắm, nhưng chắc vì cảnh quen mắt nhìn không mấy thích nữa nên muốn ra biển để thăm thú chăng?”

Thái tử, tay vẫn để sau lưng, trầm ngâm nói “Cũng không hẳn. Lúc đầu ta cũng nghĩ là vì từ nhỏ đã sống trong Đại Nội nên ta chán chường những cảnh vật xưa cũ, muốn nhìn thấy những cảnh sắc bên ngoài cho thỏa trí tò mò. Nhưng sau đó, ta lại thấy chẳng phải vậy, mà chính là vì ta lúc nào cũng phải nhìn thấy cha mình, các ả(3) của mình, rồi tới từng quan quân, đại thần trước sau cũng phải đều cung kính những kẻ chẳng cho mình được tự do, nên ta cảm thấy chán nản, nên khao khát nhìn cảnh biển để cho lòng vơi đi vài phần nặng nề. Và để…ta bớt đi cảm giác thấy mình vô dụng.”

( (3): “Ả” là một đại từ xưng hô gọi “Mẹ” của tầng lớp quý tộc ở Huế )

Ban đầu, nói một cách khó nghe, là Tử Chi gần như không thể hiểu hết được những gì mà Thái tử đang giãi bày. Nhưng chỉ một thoáng sau đó, cô chợt hiểu ra được vài phần trong ý tứ của Ngài. Bước chân của những kẻ ngoại quốc dẫm lên đất An Nam làm Nam triều từ lâu đã bị kiềm kẹp bởi một thế lực chính trị khác, mà chính Hoàng đế cũng không thể tự chủ. Điều này từ lâu cũng đã làm cho nhiều người bất mãn việc đất nước lại bị cai trị bởi một chính quyền ngoại bang, và Thái tử đây hẳn là không ngoại lệ.

Tuy nhiên, bản thân là khuê nữ, từ nhỏ dù đọc nhiều sách nhưng cha cũng chẳng thúc ép phải học về chính trị hay kể cho nghe chuyện ở Tiền triều, thế nên giờ được một người chia sẻ tâm tư về những chuyện thế này, dù rất thông cảm với nỗi niềm của Ngài cũng làm cho Tử Chi phần nào khó xử, chẳng biết nói sao cho phải.

Khoảng sau một khoảng im lặng, Tử Chi đánh liều nói “Bẩm Thái tử, thứ cho con nhiều lời. Ông bà xưa có câu ‘Trai thời loạn, gái thời bình’ không phải là không có lý do. Chẳng phải ngày xưa bao anh hùng của các triều vua trước cũng chính nhờ cái tâm trạng chán nản của Thái tử bây giờ mà có thêm ý chí để làm việc lớn hay sao? Cho nên chán nản chính những gì mình thấy trước mắt chưa hẳn là không tốt, lại càng không phải vô dụng, mà đó chỉ là bước đầu xúc tiến cho những kỳ vọng sắp thành hiện thực trong tương lai. Thái tử, người nói có phải không?”

Thái tử chớp mắt nhìn Tử Chi, rồi lại ngẫm nghĩ xong cười một tiếng “Thú thật, bản thân ta ban nãy chỉ bất chợt bày tỏ suy nghĩ một chút, không ngờ lại được cùng em bàn sâu rộng, ta lại càng có thêm ý chí. Quả nhiên ông Thượng dạy dỗ con gái mình rất giỏi, xứng danh khuê nữ.”

Tử Chi cười thẹn “Chỉ là lý luận sách vở mà con học từ trước, giờ lại có dịp nên thuận miệng nói ra, Thái tử quá khen con rồi.”

Thái tử nói “Dù là lý luận sách vở hay là kinh nghiệm bản thân, nếu đã là người sâu sắc thì cũng sẽ nói lời sâu sắc, ý tứ ra dù muốn hay không cũng sẽ không giấu được sự uyên bác. Ta thấy thật không sai khi mời em ra đây.”

Tử Chi hơi nóng mặt “Dạ, được Thái tử khen, con không dám nhận.”

Thái tử cười “Thôi, ta đừng nói chuyện này nữa. Mà này, em cũng đừng xưng là “con”. Cũng đừng cứ mãi gọi ta là ‘Thái tử’, nghe xa cách lắm.”

Tử Chi ngẩn ngơ “Nếu vậy, chẳng hay con phải xưng hô thế nào cho phải phép?”

Thái tử nói “Ta và em cùng trạc tuổi nhau, em cứ xưng là ‘em’ và cứ gọi ta là Vĩnh San, ta thích cái tên đó.”

Tử Chi hoảng sợ thụt người lại một bước “Dạ, xin Thái tử thứ tội, con…”

Thái tử tiến lại gần, tay vẫn để sau lưng nhưng mặt kê gần sát Tử Chi, đến mức cô cảm nhận được cả sức nóng của hơi thở Thái tử, ngài vờ nghiêm mặt “Đây là lệnh của Thái tử, em không được cãi.”

Tử Chi biết không thể thoát, chỉ hít một hơi sâu rồi thẻn đỏ cả mặt nói “Dạ, em…em xin nghe lời dạy của…Vĩnh San.”

Vĩnh San cười to “Tốt, tốt lắm. Nào, ta đi tiếp thôi. Sắp đến bãi biển rồi.”

Nói rồi anh phóng lên vài bước, cười tít mắt, xoay người lại, chìa tay ra rồi nói “Đưa tay đây, ta sẽ dẫn em ra đằng này, đẹp lắm. Đi nhanh thôi, em.”

Không tự chủ, cánh tay của Tử Chi như bị mê hoặc, ngay lập tức đặt vào trong lòng bàn tay ngay trước mặt mình. Vĩnh San nắm chặt tay cô rồi cả hai bắt đầu chạy. Hai đôi chân lướt qua hàng lớp những cây phi lao vui tươi đung đưa nhịp nhàng. Trong lòng Tử Chi chợt yếu đuối nhưng chân đi không biết mệt, mắt giờ đây chỉ còn biết lẳng lặng nhìn Vĩnh San đang cười đùa hồn nhiên đằng trước với một tâm ý ấm áp như gió xuân.

Cả hai dừng lại ở trên một đồi cát nhỏ, không gian mênh mông ca hát cùng tiếng sóng.

Nhìn biển từ góc độ này, cô chợt nhớ lại hôm qua, lúc Vĩnh San bơi ra biển cứu Miên Thanh trong lúc cô đang tâm trạng hoảng loạn, cô buộc miệng nói “Hôm qua, cũng cảnh tượng này, em đã được gặp ngài. Em vui lắm.”

Vĩnh San nhìn cô cười thú vị “Vì sao? Vì ta đã cứu em của em hay sao?”

Tử Chi kéo sát áo vào người, cả thẹn nói “Cũng không hoàn toàn là như vậy. Nhưng rõ ràng thế nào thì em sẽ chẳng nói ngài biết đâu.”

Vĩnh San nheo mắt khó hiểu “Tại sao? Nói ta nghe thử?”

Tử Chi cười bí ẩn “Vì điều đó nam nhi trên thế gian sẽ chẳng bao giờ hiểu được.”

Vĩnh San nghe xong bật cười, ngẫm nghĩ gì đó hồi lâu quay sang bất giác hỏi “Nhưng còn em, em vẫn chưa nói với ta, rằng hôm qua tại sao hai chị em lại ham vui quá độ, leo lên mõm đá cao đó đùa giỡn thật lâu không nói, mà lại còn bất cẩn đến mức rơi hẳn xuống biển, làm ta đứng từ xa nhìn thấy cũng kinh hoàng, liền bơi lại cứu?”

Tử Chi nói “Dạ bẩm, em cùng Miên Thanh, chỉ định lên đó chơi một chút, nào ngờ em ấy lại không cẩn thận nên mới có cớ sự như vậy. Tội nghiệp, lúc dắt về nhà vì sợ bị cha em phạt mà chân cũng không nhích nổi, chẳng dám vào nhà.”

Vĩnh San nheo mắt “Vậy hóa ra cô ấy không phải là em gái của em sao?”

Tử Chi cười “Dạ, Miên Thanh là người hầu của nhà, nhưng lại được đưa vào phủ từ nhỏ, lại chu đáo lanh lẹ nên cha cho em ấy hầu em, cả hai lớn lên xem như là bạn, không phân biệt tôi tớ.”

Vĩnh San ồ một tiếng rồi ranh mãnh nói “Vậy sau này hai chủ tớ nếu có đi dạo biển nữa thì nhớ gọi ta đi cùng, phòng khi một trong hai vì quá khích mà lâm vào tình cảnh như hôm qua thì cũng có người kịp thời cứu giúp.”

Tử Chi che miệng cười “Dạ bẩm, nếu ngài có lòng thì em đây cũng không dám từ chối, chỉ là tụi em không phải đi dạo biển, nên chỉ sợ ngài đâm chán mà không thèm đi chung nữa thôi.”

Vĩnh San không hiểu, nghiêng đầu hỏi “Vậy hai em lại hà cớ gì phải ra bãi biển, không để tắm, mà cũng không phải đi dạo, nói ta nghe thử xem?”

Tử Chi lém lỉnh “Dạ thưa ngài, tụi em ra biển tìm ‘ngọc’.”

Vĩnh San tròn mắt “’Tìm ngọc’? Trước giờ ta chỉ nghe nói dân biển tìm ngọc trai, nhưng lại chưa từng nghe ai lại đi tìm ngọc trong bãi cát bao giờ. Em đang trêu ghẹo ta đúng không?”

Tử Chi lắc đầu “Dạ, em nào dám trêu ghẹo Vĩnh San người. Chỉ là ‘ngọc’ mà em nói không phải là ‘ngọc’ thường, mà những viên ngọc như thế này đây.”

Nói rồi cô lấy trong túi áo ra vài chiếc vỏ sò, trắng đỏ đủ loại, dưới nắng, chúng lại càng long lanh bắt mắt.

Vĩnh San vẫn chưa hiểu “Đây là ‘ngọc’ sao? Chẳng phải chúng cũng chỉ là những chiếc vỏ sò bình thường thôi mà?”

Tử Chi không nói gì, chỉ cười dịu dàng, rồi nhìn ra ngoài bãi biển xa kia mà hồi tưởng “Ngày xưa, cha em thường bảo, Hằng Nga vì phải xa người thương của mình là Hậu Nghệ mà ở trên cung trăng khóc than không thôi. Nước mắt của nàng là những viên ngọc rơi xuống trần gian, hòa vào nước biển, rồi dần hóa thành những chiếc vỏ sò mà chúng ta thấy như bây giờ. Vì thế, những thứ này không phải là vỏ sò, mà là những viên ngọc. Lúc nhỏ có lần em bị bệnh nặng, cha em đem về cho em những chiếc vỏ sò đẹp như thế này để em vui mong vượt qua bệnh tật. Và kỳ diệu làm sao, chỉ ngày hôm sau bệnh của em thuyên giảm mạnh, vài ngày sau là khỏi hẳn. Thế nên em luôn trân quý những thứ này, cứ có dịp đi đâu đến biển là em đều cùng Miên Thanh đi nhặt chúng về giữ, vì với em chúng không còn là những viên ngọc trong truyền thuyết nữa, mà lại là những viên ‘ngọc’ thực sự.”

Vĩnh San nhìn cô không chớp mắt. Nhận ra mình nói quá nhiều, Tử Chi bất giác quay lại rồi thẹn thùng “Em từ nhỏ đã luôn hay mơ mộng trẻ con, lại hay nói chuyện không đâu, làm ngài cười chê rồi.”

Vĩnh San lắc đầu “Không, không đâu. Ngược lại, ta lại thích nghe những điều em kể. Chắc có lẽ từ lâu không đọc nhiều thi văn mà chỉ chăm chăm vào sách luận cổ khô khan, nên trong lòng ta đã dần già cỗi rồi.”

Tử Chi che miệng cười khúc khích “Một tâm hồn già cỗi thì không thể nào có thể đứng từ xa mà ngắm người khác chơi đùa trên biển một hồi lâu như Vĩnh San ngài được. Ngài có chút quá lời rồi chăng?”

Vĩnh San ngẩn người hỏi “Em…Làm sao em biết hôm qua ta đã đứng đó nhìn hai người các em từ lâu? Thì ra hôm qua em đã thấy ta trước mà lại giả làm ngơ hay sao?”

Lần này thì không thể kiềm được, Tử Chi bật ra tiếng cười lớn, trêu ghẹo lại ngài ta “Vậy ra chính miệng người đã thừa nhận, em trước còn nghi ngờ điều mình nghĩ đúng hay sai, giờ thì lại chắc như đinh đóng cột.”

Vĩnh San đỏ mặt “Ta…Ta chỉ…”

Tử Chi vờ nghiêm mặt nói “Thưa ngài, cho phép em được giải thích. Sự tình hôm qua em thực không thể nhìn thấy ngài, chỉ là ban nãy ngài có nói rằng nhìn thấy em cùng Miên Thanh đùa giỡn, sau đó mới xảy ra sự cố. Hai người chúng em đứng ở bên trong nói chuyện khá lâu thì Miên Thanh mới đòi ngồi ở ngay mép của mõm đá. Nếu không quan sát kỹ thì không thể nào thuật lại được chi tiết như vậy, em chỉ phỏng đoán chớp nhoáng, nói ra cũng không tin là thật, cơ mà không ngờ ngài lại…”

Vĩnh San khi hiểu chuyện mới lắc đầu bất mãn “‘Họa từ miệng mà ra’ quả không sai. Cơ mà em cũng thật lém lỉnh, dám đưa ta vào tròng. Thật ta đã không đề phòng rồi.”

Tử Chi tủm tỉm “Nhưng nhờ như vậy em mới không còn thắc mắc là tại sao lại có người đến cứu Miên Thanh đúng lúc như vậy, lại còn biết thêm nữa là thì ra Thái tử đương triều cũng có những lúc ngây ngô thế này. Quả thật, biển cửa Tùng đã quá ưu ái cho Tử Chi này rồi.”

Vĩnh San đứng đưa hai tay ra sau, nhìn ra phía biển nói “Nếu vậy thì cửa Tùng năm nay cũng đã cho ta quá nhiều rồi, nhiều hơn những gì ta tưởng.”

Tử Chi tỏ vẻ không hiểu, Vĩnh San cười nói “Trước giờ ta đều ra đây chơi ít hôm rồi về. Lần nào cũng đều đi ra đây ngồi ngắm cảnh cho khuây khỏa, chẳng nói chuyện với ai, cũng chẳng có ai làm bạn. Mỗi lần đi đều có quan quân theo hầu nhưng cũng chẳng lần nào ta nói chuyện với bọn họ được mấy câu. Nhưng năm nay, những tưởng là cũng sẽ như vậy, nào ngờ, ta lại được gặp em, được trò chuyện với em, được đứng từ xa xem em cười đùa hồn nhiên. Chẳng phải là quá nhiều rồi hay sao?”

Nghe xong những lời trên, lòng Tử Chi xốn xang chưa từng. Thứ cảm xúc dâng tràn trong bản thân mình giờ đây làm tim cô đập nhanh liên hồi, nhưng không phải vì sợ, mà là vì hạnh phúc.

Cô ngập ngừng “Ngài…ngài quá lời. Em chỉ…”

Vĩnh San cười hiền, chìa tay ra “Nào, đừng đứng đây mãi. Chúng ta đi dạo tiếp thôi, chẳng phải ta đã nói với ông Thượng rằng em sẽ dẫn ta đi tham quan quanh đây sao?”

Tử Chi đưa tay ra để Vĩnh San nắm chặt, ngại ngùng nói “Dạ thưa, phải.”

Vĩnh San dịu dàng “Vậy thì ta đi thôi, em.”

Tử Chi không nói gì được thêm nữa, từng câu từng chữ muốn bày tỏ như bụi của hoa xuân trong gió, nhiều không kể siết. Cô chỉ còn đưa chân mình đi theo ngài một cách không tự chủ, lòng ước mong khoảnh khắc êm dịu này sẽ mãi mãi kéo dài đến tận vô chừng của định mệnh.


"Chương 3" bởi theboyofschool
( Link dẫn đến blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )


Thời gian trôi nhẹ như mây trời, khẽ khàng và nhanh đến mức trên dưới nhà Hồ gia ai cũng đều bất giác nhận ra rằng, chỉ thoáng đó mà tất cả đều phải rời cửa Tùng để về lại Huế trong nuối tiếc.

Đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”(1), buổi sáng hôm ấy, sắc trời không đẹp như mọi hôm, gió lồng lộng thổi những đám mây màu u ám bay ngang, cũng dễ khiến người ta thấy tâm trạng ảm đạm khó tả.

( (1): thơ của Nguyễn Du – trích Truyện Kiều)

Ngay trước nhà ông Huyện, xe rước đã tới, đồ đạc đều đã sắp xếp trên dưới xong xuôi, giờ chỉ còn đợi mọi người chia tay nhau là cả nhà Tử Chi đồng loạt lên xe để đi về nhà.

Ngày hôm đó, Vĩnh San cũng có mặt, ông Thượng cha Tử Chi không phải là một người ít quyền lực trong triều nên khi nghe Thái tử đề nghị ra tiễn cũng không ai thắc mắc.

Vĩnh San nhìn ông Thượng nói “Cả nhà ông đi đường thượng lộ, ta ở đây vài ngày nữa rồi mới trở lại Huế, khi về triều chúng ta lại gặp nhau. Vắng ông mấy ngày hẳn là cha ta như mất cánh tay phải.”

Ông Thượng cúi người khiêm tốn “Dạ, bẩm Thái tử quá lời, thần thẹn không dám nhận.”

Vĩnh San cười rồi nhìn sang Tử Chi đứng sau lưng cha, lúc này không dám ngẩng cao nhìn thẳng, ngài nói “Bà mệnh phụ (2) cùng…tiểu thơ cũng về Huế mạnh giỏi, khi có dịp, nhất định chúng ta sẽ gặp lại.”

( (2) mệnh phụ: danh xưng của phu nhân các quan lớn trong triều)

Nói đến đây, lòng Tử Chi bất chợt yếu mềm không tả nỗi, dâng trào một nỗi buồn miên man. Sau lần đi dạo biển hôm ấy, cả hai chỉ gặp nhau một lần nữa khi Vĩnh San bất ngờ đến thăm nhà ông Huyện, rồi cùng Tử Chi ra vườn đi dạo, xong rồi thì cũng đành từ biệt. Kỳ này Vĩnh San hứa hẹn một dịp khác, cô chẳng biết khi nào mới đến, chính là vì Bức tường Tử Cấm Thành kia quá xa vời để mong chờ đến chuyện tương phùng dù chỉ một khắc. Nghĩ vậy, không kiềm được lòng, mắt mới đỏ lên như chực ngấn lệ, khó khăn lắm mới thốt lên được mấy tiếng:

“Dạ,…con cũng mong được sớm ngày gặp lại Thái tử.”

Vĩnh San nhìn Tử Chi như muốn khóc, chỉ sợ không kiềm được để mà chạy đến ôm lấy người thương giờ đang mong manh như lá thu trước gió, nên ngài chớp mắt mấy cái xong vờ như nhắc nhở mọi người mấy lời nữa rồi quay sang chỗ khác.

“Bẩm ông, mình đi được chưa ạ?” – tên lái xe đứng bên cạnh lên tiếng.

Ông Thượng gật đầu “Ừ, nào, ta khởi hành về thôi.”

Tử Chi dạ một tiếng rồi xoay người theo cha cùng mọi người lên xe. Qua cửa kính, Tử Chi luyến tiếc quét mắt lần cuối, nhìn lần lượt từng người, rồi khi nhìn đến Vĩnh San, ngài cũng đang nhìn cô bằng đôi mắt đầy ân tình nhưng cũng buồn không kém, chợt nhớ về những lúc vui vẻ vừa qua, lòng lại thấy chút tủi thân, nén bớt tiếng thở dài, cô nắm chặt tay lại, quyết định không tiếc nuối mà nhìn ra ngoài một lần nữa, có như vậy mới không bật khóc khi lên đường.

Xe bắt đầu chạy, lăn bánh qua vài ngõ phố rồi khuất bóng vào một đường khác, không còn nhìn thấy đâu nữa.

Vĩnh San vẫn đứng im tại chỗ nhìn con phố vắng lặng, chỉ còn mỗi tiếng gió xào xạt trên lá cây, có chút hiu quạnh cô liêu, ngài nói thầm, như tự nhủ chính mình “Đừng lo, em, hãy cứ đợi ta.”

Buổi trưa hôm ấy, chả biết trời than oán điều chi mà đổ từng đợt mưa lũ, gió mây như cũng muốn thở dài. Trên đường từ cửa Tùng về Huế, Tử Chi nhìn bên ngoài không lúc nào thấy có nắng, kính xe nhạt nhòa nước mưa, hệt như tấm lòng đang của cô lúc này, ủ dột và héo úa.

Về đến Huế cũng đã được vài ngày, thế nhưng tâm trạng của Tử Chi vẫn chưa thể vui nổi. Cô thỉnh thoảng ra vườn đi dạo quanh hồ cá, hoặc vào phòng đọc sách rồi tự nhốt mình cả ngày, chẳng lên tiếng trò chuyện với ai. Lúc thường tiểu thơ Hồ gia đã thùy mị ít nói, nay lại càng trầm ngâm không vui, khiến ông bà Thượng thư lại càng thêm thắc mắc, lâu ngày sinh lo lắng, nhưng con gái lớn thường hay nén tâm tư không nói cùng ai, kể cả cha mẹ, nên cũng không thể hỏi được gì. Ngay cả có anh trai thì lại đi học xa ở tận Hà Nội thì lại là nam nhi, cũng khó mà tâm sự cùng. Còn Miên Thanh, dĩ nhiên ngày đêm kề cận Tử Chi nên ít nhiều cũng hiểu rõ sự tình, nhưng cũng chẳng khuyên can được gì, làm cho ông Thượng cùng vợ lại càng thêm nóng ruột.

Đến hôm nọ, bà gọi Tử Chi vào phòng nói:

“Tử Chi con, mợ Năm con bán bánh ngoài chợ An Cựu chắc con cũng biết, nay mợ thiếu người phụ bán, một mình lại làm không xuể, sáng mai con cùng Miên Thanh ra đó phụ mợ nghe con. Mợ tận miệng nhờ ta, ta không tiện từ chối.”

Lo sợ con gái trước nay là khuê nữ, không bước ra khỏi nhà thường, nay lại phải ra chợ đông đúc phụ người ta buôn bán nên không chịu. Không ngờ khi nghe mẹ nói vậy, Tử Chi liền vui vẻ đồng ý:

“Dạ, mẹ bảo sao thì con nghe vậy. Trước giờ mợ với nhà ta cũng đâu xa lạ gì. Giờ mợ ấy cần giúp, con cũng đâu thể không đồng ý. Chỉ sợ trước nay con không quen tính toán, chân tay vụng về, sẽ làm mợ phiền lòng.”

Mẹ Tử Chi thở phào, mãn nguyện cười “Có học mới có biết, mợ Năm cũng là người lanh lẹ, ra đó lại có Miên Thanh trợ giúp, con bé giỏi giang việc nhà, thế nào cũng sẽ trước sau lo liệu được cho con.”

Tử Chi dạ một tiếng rồi lui ra khỏi phòng, xin phép ngủ sớm để sáng còn ra chợ.

Hôm sau, Tử Chi cùng Miên Thanh lên đường đi ra khỏi nhà lúc trời còn chưa sáng hẳn. Trên đường vừa đi Miên Thanh vừa làm mặt khó hiểu “Em thật không hiểu tại sao mợ của tiểu thơ cần người lại phải nhờ cả hai chúng ta cùng đi? Chẳng phải chỉ cần gọi em với một người hầu nữa ở nhà là xong sao? Đâu cần phiền đến cô.”

Tử Chi cười “Cô ngốc của tôi ơi, cô còn chưa hiểu sao? Cha mẹ thấy ta mấy hôm nay ủ rũ, không buồn nói chuyện, nên nghĩ cách cho ta ra ngoài chỗ đông người qua lại, vừa giết thời gian, lại vừa thấy cảnh nhộn nhịp mà quên sầu. Nghe mẹ nói ta liền hiểu ý nên không nỡ từ chối.”

Miên Thanh gãi đầu cười hì hì “Quả nhiên chỉ có tiểu thơ là tinh ý.”

Tử Chi dịu dàng “Vả lại, mợ Năm giao tình với nhà ta lâu năm. Vì thế ta phần nghe lời mẹ, phần cũng vì quý mợ mà đồng ý.”

Tử Chi nhớ, khi còn nhỏ mẹ thường dẫn cô ghé chỗ mợ, lúc về còn được cho nhiều bánh gói lá chuối, thơm nức mũi, nên vẫn còn ấn tượng, rằng gian bán hàng của mợ Năm nói lớn không lớn, nhưng cũng không hẳn là nhỏ, chỉ tầm gần hai thước, trên đó bánh trải đều trên mâm, bánh bột lọc, bánh nậm đủ loại, trông khá bắt mắt.

Mười mấy năm, chỗ của mợ vẫn vậy, khi vừa đến, mợ vui mừng đón cả hai vào ghế trong ngồi, bảo khi nào khách đông rồi hãy ra phụ, còn lúc rảnh cứ ngồi đó mà uống trà trò chuyện.

Chợ đông người bán bánh nhưng có lẽ bánh của mợ là ngon nhất nên khách qua lại ghé mua rất nhiều, ba người có lúc làm không kịp trở tay. Lúc bận rộn như thế này Tử Chi cũng phải gật đầu rằng đây coi như là cách để quên đi nỗi buồn kéo dài mấy hôm nay, vì thực ra cô chẳng còn thời gian để nhớ đến Vĩnh San. Mệt nhọc cả ngày, đến tối cũng chỉ còn biết nằm ngủ sớm, thỉnh thoảng cũng có nhớ đến ngài ấy, nhưng cuối cùng cũng rồi lại thôi, dần dần cố nghĩ rằng người ta đã quên mình rồi mà tự nhủ lòng không nên mơ mộng nhiều nữa.

Bẵng đi cũng đã một tháng, ngày nào cũng cùng Miên Thanh ra chợ khiến Tử Chi xem như đây là nghề của mình, lâu ngày lòng cũng thấy phấn chấn ít nhiều. Cô trước sau cũng hết hy vọng liên lạc được với Vĩnh San, thôi thì, xem như chuyện đã như an bày, cũng không muốn đòi hỏi gì thêm cho nhẹ lòng.

Một buổi trưa nọ, trời khá nóng, mợ Năm vừa tranh thủ chạy đi mua thêm bột làm bánh, nên giờ chỉ còn mỗi Tử Chi và Miên Thanh coi hàng.

Cả hai đang cười nói thì một thanh niên đi lại gần, nghĩ là khách đến, Tử Chi lanh lảnh mời chào “Dạ, anh mua bánh gì ạ?”

Anh ta đeo kính cận, đội nón bêrê trên đầu, trông rất ra vẻ tri thức, anh cười hiền lắc đầu “Dạ, mong cô thứ lỗi, tôi không mua bánh, tôi chỉ muốn hỏi thăm.”

Tử Chi hơi chưng hửng, nhưng sau đó vẫn cười tươi “Dạ, không sao cả. Chẳng hay anh muốn hỏi thăm điều chi?”

Anh ta nói “Có phải cô đây là tiểu thơ con nhà ông Thượng bộ Học họ Hồ phải không ạ?”

Tử Chi nhìn Miên Thanh ngơ ngác rồi cũng gật đầu “Dạ phải, thưa anh, không biết anh tìm tôi có việc chi?”

Anh ta cười “Dạ, bẩm tiểu thơ, tôi là Huỳnh, tôi vâng mệnh của một người đến để đưa tận tay tiểu thơ một thứ.”

Nói rồi anh chìa tay ra một phong thư màu trắng được dán kín cẩn thận. Trên đó có đề đúng hai dòng:

“Nguyễn Phúc Vĩnh San
Gửi Hồ Tử Chi”


Nhìn thấy nét mực đen với nét chữ được viết cẩn thận, trong lòng Tử Chi dâng trào một nỗi niềm vui không tả nỗi, sự hạnh phúc hệt như ngày hôm đó, lúc ngài nắm tay cô chạy dài trên khắp bờ biển.

Vuốt phong thư trong sự hạnh phúc, cô xúc động nói “Là Thái tử, Thái tử gửi cho tôi, ngài vẫn còn nhớ đến tôi.” rồi nhìn anh Huỳnh “Vậy anh chắc hẳn là quan trong triều đình chăng? Nếu không thì chắc ngài ấy cũng không tin tưởng anh đến vậy, cũng không dễ gì ra vào Đại Nội thường xuyên.”

Anh Huỳnh cười nói “Không, tôi chỉ là một nhà báo, nhưng được ngài ấy đặc chuẩn nên tôi hay vào Nội.”

Tử Chi mắt vẫn chưa dừng mân mê phong thư, nói “Tôi cảm ơn anh Huỳnh nhiều lắm, phiền anh nói với ngài ấy rằng, tôi ngài nhớ giữ sức khỏe. Chỉ là bây giờ anh đến bất ngờ quá, tôi không kịp viết thư hay mang theo gì để nhờ anh nhắn gửi ngài ấy, nên…”

Vẫn chưa kịp nói hết câu thì nghe tiếng Miên Thanh báo hiệu mợ Năm đang về từ xa, cả hai không tiện đứng đây dong dài, anh Huỳnh cáo biệt rồi nói nhanh hẹn vài ngày sau anh lại đến vào khoảng giờ này, anh bảo rằng Tử Chi cứ về viết thư cho Vĩnh San, anh hứa chắc chắn sẽ đưa thư cho cô đến tận tay ngài. Nói rồi anh nhanh chóng đi mất.

Mợ Năm cũng vừa mới đến, Tử Chi vội nhét phong thư vào túi, trên mặt cố tỏ ra bình thường như chưa có chuyện gì, lòng ngày hôm đó chỉ mong hàng bán được dọn sớm để mau mau về đến nhà.

Tối đó, Tử Chi cũng xin đi ngủ sớm như thường lệ, nhưng lại không lên giường ngay mà lại chong đèn, lấy trong túi ra bức thư của Vĩnh San rồi đọc. Nhìn nét chữ ngài nhảy múa, mỗi con chữ là mỗi ân tình ngài gửi trong thư, mỗi câu thương nhớ là mỗi lần Tử Chi lâng lâng cảm xúc, vui sướng chẳng đâu sánh được.

Trong thư ngài bảo rằng lúc nào cũng nhớ thương Tử Chi, nhưng vì thân phận trước sau khác biệt mà lòng dù muốn cũng không thể liên lạc với cô bằng cách nào được. Ngài không thể viết một lá thư rồi đường hoàng nhờ người đưa tới cho tiểu thư họ Hồ với cái tên Vĩnh San, lại càng không thể gửi dưới tên của một người con trai khác, cũng không dễ dàng mà đưa tận tay một bức thư tình cho cha Tử Chi mỗi khi ông thiết triều, rồi nhờ ông trao lại cho con gái mình. Tiến thoái lưỡng nan, bức tường khuê các cứ trói buộc cả hai, suốt cả một tháng chẳng biết làm sao. Chỉ nhờ hôm nọ, anh Huỳnh, thân tín của ngài, tình cờ biết Tử Chi đang bán bánh ngoài chợ An Cựu, mới ngay lập tức viết ngay một lá thư dài rồi nhờ anh ta gửi giúp. Ngài nói trong thư:

“Lúc ta viết những dòng này cho em là lúc trời sập tối. Sáng hôm sau, khi ta đưa lá thư này cho tên Huỳnh, ta mong rằng anh ta sẽ nhanh chóng tìm đến em và đưa cho em những lời thương nhớ của ta…”

Đọc đi đọc lại chừng trên dưới mười lần, hay bao nhiêu, Tử Chi cũng chẳng biết nữa, chỉ biết là cô đã thuộc lòng bức thư, cảm giác như ba mươi ngày qua chờ đợi, tưởng chừng như vô vọng đó không phí hoài tâm sức. Vẫn là những tâm ý ngọt ngào đọng lại trong ký ức của cô về Vĩnh San, giờ qua từng nét chữ lại càng ân cần, trìu mến.

Không thể chờ thêm được nữa, nôn nóng muốn được tuông trào nỗi lòng cho thõa bao ngày kiềm nén, Tử Chi liền lấy giấy viết ra, kê đèn gần sát lại rồi bắt đầu nắn nót:

“Gửi ngài Vĩnh San,…”

Bên ngoài trời giờ đã khuya, trăng cũng đã lên cao, có lẽ ai trong nhà cũng đều đã ngủ, nhưng với lá thư mà mình đang viết, Tử Chi vẫn còn cảm thấy lòng ấm nồng hạnh phúc và không hề cô đơn.

-o0o-


Cứ cách vài hôm, anh Huỳnh lại ghé, may mắn thì lúc đó ở hàng bánh cũng chỉ có hai chủ tớ của Tử Chi, còn nếu có mợ Năm ở đó, thì Tử Chi lấy cớ lẻn ra ngoài một lát rồi nhanh chóng đưa thư trong túi cho anh Huỳnh, xong lại quay vào ngay chứ không dám đứng lâu, cốt cũng chỉ để tránh được mắt nhìn tò mò của người qua lại, nói rằng là thân con gái danh giá mà lại vụng trộm lén lút với trai tráng ngoài chợ.

Được nói chuyện với người thương qua từng phong thư nét chữ, Tử Chi trông vui vẻ và yêu đời hơn nhiều so với lúc trầm ngâm khi mới vừa từ cửa Tùng về. Ông bà Thượng thư ban đầu thấy con mình cực khổ, dậy sớm còn phải làm đến chiều mới về cũng sốt ruột, nhưng dần dà vì nghĩ Tử Chi vì được bước chân ra ngoài thường xuyên nên trở nên hoạt bát, không u sầu nữa, thế nên ông bà cũng không ngăn cản, chỉ thường xuyên nhắc nhở con gái giữ sức khỏe.

Dạo này Tử Chi cũng học mợ mình làm bánh bột lọc, ban đầu làm ra nếm thử không ngon mấy nên chỉ để người trong phủ ăn kiểu cây nhà lá vườn, nhưng tay nghề làm càng ngày càng tiến bộ, được chừng vài hôm thì Tử Chi quyết định đem mẻ bánh mới làm sáng mai đặt chung với bánh của mợ, thâm tâm thực không dám đua cao ganh thấp với ai, lại càng không dám múa rìu qua mắt thợ, chỉ muốn người ta nếm thử thấy ngon thì lòng cũng vui một chút.

Trên đường đi lên chợ, Miên Thanh luôn mồm khen ngơi không thôi “Bánh tiểu thơ làm vừa mềm vừa thơm, chắc chắn khách sẽ thích.”

Tử Chi cười, tay mân mê rổ bánh “Cũng nhờ em bày cho ta chuyện đặt cánh hoa vào trong lớp lá gói ngoài, ta liền ra vườn hái vài cành dành dành(3) đem vào, còn ướp hẳn vào trong lá chuối, nên giờ rổ bánh của ta có hương thơm dịu nhẹ thật thích.”

( (3): hoa dành dành là một loài hoa màu trắng, mọc dại vùng nhiệt đới)

Cô chợt nghĩ, nếu mấy hôm sau có gặp lại anh Huỳnh thì sẽ gửi anh vài gói bánh mình làm cho Vĩnh San, hẳn là ngày thích lắm, tưởng tượng đến đó, cô không kiềm được cười.

Tử Chi cùng Miên Thanh đang băng ngang qua một con phố, vì còn sớm nên đường vắng người qua lại, ai nấy cũng đều im lặng hối hả chuẩn bị cho một ngày mới.

Chợt từ phía bên kia của góc đường bị khuất, có tiếng chân dẫm bình bịch trên đường đang hướng về chỗ Tử Chi. Âm thanh mỗi lúc một lớn nhưng Tử Chi vẫn không để ý trước sau vì đang mải mê nghe Miên Thanh luyên thuyên nói chuyện, thì bỗng một thanh niên rẽ gấp vào chỗ hai người đang đi rồi va thẳng vào cả hai.

Tử Chi không kịp phản ứng, mắt trong tích tắt chỉ chỉ kịp mở to nhìn anh ta tiến lại gần mình rồi la lên hoảng sợ “Á! Một tiếng, rồi ngã sang một bên đường. Miên Thanh may mắn vẫn còn đứng vững nhưng cũng không kịp ôm lấy làm rổ bánh bị rơi xuống đất.

Người thanh niên kia ngã sóng soài, nhưng ngay lập tức ngồi dậy rồi định chạy tiếp. Bỗng nhận thấy vì mình mà làm người ta bị ngã, bánh trong rổ còn bị hất văng ra ngoài, anh ta mới vội đỡ Tử Chi dậy, miệng nói nhanh:

“Tôi xin lỗi cô, tôi không cố ý.”

Miên Thanh cũng chạy vừa đỡ Tử Chi dậy, vừa mắng “Anh kia, sao lại không cẩn thận như vậy, làm tiểu thơ của tôi bị ngã rồi, anh tính làm sao đây?”

Anh ta phân trần “Tôi thực lòng không cố ý mà.”

Tử Chi ngồi dậy, đầu còn xây xẩm nhưng vẫn nhìn thấy dung mạo người thanh niên kia, tóc hơi rối, gần như bị xổ bung ra ngoài, quần áo xốc xếch, mặt che một mảnh vải ngang mũi trông hơi kỳ dị.

Tử Chi thấy anh ta đang gấp nên nói “Tôi không sao đâu, anh cứ đi tiếp đi.”

Những tưởng anh sẽ khách sáo thêm một chút nữa, nào ngờ nghe vậy liền gật đầu cám ơn cụt ngủn rồi đứng dậy chạy đi thật. Miên Thanh nóng nảy kêu “Ơ kìa, anh…” nhưng vẫn chưa kịp nói hết câu thì anh ta đã khuất dáng sau một con hẻm gần sát chỗ của Tử Chi.

Tử Chi nắm tay Miên Thanh “Thôi, bỏ đi em, chắc anh ta đang chạy trốn ai đó, mau cùng ta nhặt bánh lên thôi.”

Miên Thanh dù vẫn còn muốn chạy theo anh ta để nói lý nhưng nghe Tử Chi nói vậy cũng đành kiềm lại, cúi xuống nhặt từng cái bánh cho vào rổ.

Cả hai vừa xong, định đứng dậy thì cũng từ phía góc đường bên kia, tiếng chân chạy lại dồn dập đến, lần này nghe rõ mồn một là cả một đoàn khá đông người.

Quả không sai, bọn họ vừa chạy tới đầu đường thì Tử Chi thấy trên dưới chừng chục tên, tất cả nhờ vào áo bọn chúng đang mặc mà đoán chắc đây là lính tráng của Đại Nội.

Một tên trong bọn chúng nhìn bặm trợn nhất, đứng đầu tất cả chửi bậy một tiếng rồi hổn hển nói “Tên Bửu Đảo ấy dám chạy khỏi tay ta. Để mà ta bắt được thì…”

Vậy là Tử Chi đoán quả không sai, cái tên “Bửu Đảo” mà bọn chúng đang truy tìm chắc chắn mười mươi là người thanh niên ban nãy. Bộ dạng anh ta xét ra không phải ốm yếu, lại có phần chắc nịch, nhưng khi song đấu cũng khó mà đọ lại được với mấy tên này.

Đứng trước bọn chúng, dù không chẳng ai làm gì hai người mà Miên Thanh người cũng run cả lên, thì thầm “Tiểu thơ ơi, chúng ta mau đi thôi, em sợ quá.”

Tử Chi như muốn bật cười, Miên Thanh này đúng thật là vẻ ngoài đanh đá nhưng bụng lại nhát như cầy sấy, cô trấn an “Không sao đâu em, bọn chúng không làm gì chúng ta đâu.”

Tên cầm đầu ra lệnh “Tụi mi, mau mau đi về hướng này, tìm hắn cho ta, tên nào tìm được ta thưởng một quan tiền.”

Nhìn thái độ của bọn chúng, rồi nghĩ đến cảnh người thanh niên ban nãy lỡ đâu không may mà bị cả bọn bắt đánh, lòng Tử Chi chợt dâng lên một niềm thương hại khó hiểu, sự hào hiệp đôi khi xuất hiện vào những lúc bất định như thế này. Cô đánh liều trong bụng rồi lên tiếng “Dạ, bẩm các anh,…”

Dù đang trong tình thế gấp rút, mặt tên nào tên nấy nóng nảy, nhưng khi nghe giọng con gái nhẹ nhàng chợt vang lên, bọn chúng cũng không quá dữ tợn, tên đứng đầu cả bọn dịu giọng dù vẫn nói chuyện cộc cằn “Sao, cô kia có việc chi?”

Tử Chi hỏi “Có phải các anh tìm người thanh niên mặc bộ đồ màu xanh, trên dưới xốc xếch phải không?”

Tên kia gật đầu “Phải, cô thấy hắn à?”

Tử Chi gật đầu “Phải, phải.” rồi chỉ tay về hướng ngược lại với chỗ hai người đứng “Ban nãy tôi thấy hắn chạy qua con phố bên kia, các anh mau mau đuổi theo kẻo không kịp.”

Nghe vậy tên kia vẫn giọng điệu thô lỗ “Vậy à? Cám ơn.” rồi không chút nghi ngờ, nhanh chóng ra lệnh cho bọn thuộc hạ chạy theo hướng Tử Chi chỉ mà biến mất hút sau đó.

Thấy bọn chúng đi rồi, Miên Thanh mới nhẹ người nói “Bẩm cô, ban nãy cô nói chuyện với bọn họ làm em sợ đến vã cả mồ hôi.”

Tử Chi sau khi chắc chắn không ai trong chúng còn trong tầm mắt, cô mới quay sang lệnh “Đi theo ta.”

Miên Thanh ngơ ngác “Bẩm, tiểu thơ muốn đi đâu vậy ạ?”

Tử Chi nói nhẹ như không “Tìm người ban nãy. Chắc anh ta vẫn còn trong hẻm, chưa đi ra được đâu.”

Miên Thanh mở miệng định ngăn cản nhưng nhìn vẻ mặt không chút để tâm của Tử Chi nên lại thôi. Cả hai bước vài bước là đến đầu hẻm. Đó là một con hẻm cụt, khá tối, chẳng có nhà cửa hay hàng quán gì trong đó. Đúng như Tử Chi đoán, anh chàng ban nãy chưa đi đâu mất cả, vẫn còn đứng dựa vào tường trong đó, nhìn từ xa cũng biết anh ta đang thở gấp, nghĩ chắc là vì nãy giờ lo sợ bị bắt.

Tử Chi tiến gần lại vài bước rồi nói “Anh là người tên Bửu Đảo mà bọn chúng đang tìm phải không?”

Anh ta gật đầu.

Tử Chi nói “Vậy thì anh không cần trốn nữa, bọn chúng đi cả rồi.”

Bửu Đảo liếc nhìn cô một thoáng rồi lãnh đạm nói “Ừ, ta biết rồi. Cảm ơn cô.”

Miên Thanh nghe vậy liền tức tối “Anh, sao anh dám…”

Tử Chi cũng lạnh lùng ra lệnh “Thôi, mặc anh ta, chúng ta đi thôi em, trễ rồi,” xong quay mặt lại, đi ra khỏi hẻm, kéo tay Miên Thanh theo.

Miên Thanh không nhịn được, dù chân bước theo Tử Chi nhưng đầu vẫn còn quay lại với Bửu Đảo, môi dẩu lên, mặt cong cớn nhìn anh ta.

Đi được vài bước, anh ta chợt lên tiếng, mắt vẫn không nhìn Tử Chi “Ta xin lỗi.”

Tử Chi dừng lại.

Anh ta nói tiếp “Ban nãy ta không cố ý va phải cô, là do ta sơ suất. Mong cô bỏ qua.”

Miên thanh được nước làm tới “Anh còn nói nữa? Bánh của chúng tôi làm cả đêm qua, định mang ra chợ bán, giờ lại vì anh mà bị rơi hết xuống đất, anh định làm sao đây?”

Anh ta nghe vậy, liền tròn mắt nhìn hai người, sau đó giọng chợt dịu đi trông thấy “Tôi…thật không biết bánh này các cô đem đi bán. Tôi sẽ đền, được chứ?”

Rồi Bửu Đảo đi lại gần, tay lấy túi tiền ra, nói “Cho tôi mua hết chỗ bánh này đi vậy.”

Miên Thanh định đưa tay lên lấy tiền thì Tử Chi lập tức cản, mặt ngước lên nói không khách khí “Chỗ bánh này chỉ phải bỏ đi vài cái, số còn lại vẫn còn dùng được, chúng tôi không bắt đền đâu. Bánh chúng tôi cốt chỉ để người ta ăn thử, không hề dám ép ai mua cả. Mong anh không phải lo.”

Bửu Đảo hạ giọng, nghe còn dịu dàng hơn cả ban nãy “Ấy. Tôi không phải bị ép mua. Tôi muốn mua bánh của cô, vì…tôi đang thèm bánh bột lọc.”

Nghe anh ta nói vậy, lại bớt thô lỗ phần nào, Tử Chi cũng động lòng, hỏi vặn “Anh muốn mua thật chứ?”

Mặt anh ta vẫn bịt kín, nhưng qua ánh mắt, hình như anh đang cười, nói “Thật, là thật mà.”

Tử Chi nghe xong cũng không muốn nghi ngờ gì nữa nói “Thôi được, anh đợi tôi một chút.” rồi liền vui vẻ gói một gói bánh rồi đưa cho anh ta, nói “Bánh của anh đây. Vì bị rơi xuống đất rồi, kể như không còn mới, tôi tính anh 3 xu thôi.”

Bửu Đảo tay nhận bánh rồi đưa tiền cho Tử Chi, nói “Xem như chúng ta hòa đi vậy. Cô mau đem bánh đi ra chợ đi, chắc cũng đã trễ rồi.”

Miên Thanh nói “Dạ, đúng rồi đó tiểu thơ ơi, mợ Năm chắc đang trông chúng ta lắm.”

Tử Chi ừ một tiếng rồi luống cuống đi ra. Được vài bước thì Bửu Đảo lại lên tiếng “Này!”

Miên Thanh tức tối, giọng điệu không thể mỉa mai hơn “Bẩm anh, chúng tôi sắp phải bị mắng rồi, lại chuyện gì nữa đây?”

Anh ta nói “Lá gói bánh của cô thơm thế, lại còn có cánh hoa kẹp trong này nữa, là hoa gì vậy?”

Tử Chi quay mặt lại cười “Là hoa dành dành đó, cám ơn anh vì đã khen.”

Nói xong liền nắm tay Miên Thanh chạy đi mất, để lại một mình Bửu Đảo đứng trong hẻm, vừa nhìn gói bánh rồi lại trông theo bóng Tử Chi đi khuất khỏi bức tường ngoài kia.


"Chương 4" bởi theboyofschool
( https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )

Trời đang chuẩn bị sang thu, phượng vĩ bên sông Hương cũng đã bắt đầu rụng lá. Mặt sông dạo này cũng như hòa làm một với bầu trời xanh biếc, điểm xuyến thêm mấy cành phượng đỏ rơi trên nước, màu sắc ẩn nổi hỗn loạn trong cái yên tĩnh của khung cảnh làm phần nào giảm bớt đi cái nóng bức trong mấy ngày cuối cùng của mùa hạ.

Cách xa sông Hương mấy đoạn là khu Gia Lĩnh, ngày xưa đã từng sầm uất vô kể, khắp nơi là nhà ở của quan lớn triều đình hoặc các vương tôn công tử nổi danh, nhưng dần dà tất cả cùng đều chuyển đi hết vì có một khu mới hơn do người Pháp xây, nên những ai ở lại đây chỉ là các bậc quý tộc hoặc người trong hoàng gia nhưng lại sa sút về kinh tế, đã hết thời vinh hoa. Đến nhà cửa xung quanh dù cao và rộng đi nữa thì cũng chỉ còn cái gọi là là tàn tích của một thuở vàng son, nhìn cũ kĩ và buồn tẻ.

Phủ Phụng Hóa công nằm trong trung tâm của Gia Lĩnh, là một gia trang to lớn xây theo kiểu kiến trúc Pháp. Những bức tường loang lổ rêu phong trên nền sơn vàng không che đi được sự xuống cấp phần nào của tòa nhà, dù nhìn vẫn còn rất đẹp và nguy nga.

Trong sân vườn, lá cây rơi đầy xuống đất, tiếng quét lá sột soạt vang dội cả một khoảnh sân tĩnh lặng. Diệp Tâm đang cầm chổi loay hoay dồn đám lá cây lại một góc thì tiếng mở cổng sắt cũ vang lên “két” một hồi dài, cô nhìn ra gọi với:

“Thưa, cậu đã về?”

Từ bên ngoài, Bửu Đảo đi vào trong, bước chân hơi loạng choạng, không kiềm được mà suýt ngã ngay tại chỗ.

Diệp Tâm hốt hoảng buông chổi, hối hả chạy lại “Cậu Phụng Hóa, cậu làm sao vậy? Đừng làm em sợ.”

Bửu Đảo mở khăn che mặt ra tiếng nói chèn tiếng thở “Ta…ta không sao, mau nhìn ra bên ngoài xem có ai khả nghi đi theo ta không?”

Diệp Tâm khẽ liếc ra ngoài cổng, đường vẫn vắng như tờ, thấy vậy liền bẩm “Dạ, không có ai hết ạ.”

Bửu Đảo thở phào nói “Ừ, vậy thì tốt. Mau…mau dìu ta vào trong.”

Diệp Tâm vội dạ vâng rồi đặt một tay của Bửu Đảo lên vai mình, xong cả hai cùng đi vào trong sảnh chính, chưa đến cửa đã cất giọng thảm thiết “Bà ơi, cô cả ơi, mọi người cứu cậu với.”

Đang ngồi trên chiếc ghế dài đặt gần cửa sổ, bà Hòa tần nghe tiếng réo thống thiết mà không kịp buông khung thêu trên tay, hối hả chạy ra cửa. Vừa thấy bộ dạng con trai mình đi không còn vững bước vào trong, bà mấp máy môi, nói không rõ lời “Con…con tôi, quần áo, đầu tóc nó, sao thế này?”

Vội vàng đặt Bửu Đảo ngồi xuống ghế, vừa xong là anh liền ngả người ra sau như kiệt sức đến nơi.

Từ trên cầu thang, Đại Hoa cũng hốt hoảng đi xuống, hỏi “Thưa ả, chồng con bị gì vậy?”

Bà Hòa tần sốt ruột “Ả cũng nào có biết, nó ban sáng còn xin đi ra ngoài thì giờ về thì trông như xác không hồn giống thế này.” rồi bà lại như sực nhớ ra gì đó, lên giọng nói “Hay là, hay là cũng lại là bọn…”

Bửu Đảo chen ngang, giọng khó chịu “Không có gì đâu, con xin ả đừng nói nữa.”

Ai nghe xong cũng đều cả kinh nên im bặt, không dám liều hó hé thêm tiếng nào. Dường như thấy mình quá lời, anh dịu giọng xuống “Thưa ả, hoàn toàn không phải như ả nghĩ, chỉ vì sáng chưa có gì bỏ bụng mà phải đi đường xa từ Đại Nội về đến đây nên đâm kiệt sức. Ả mau chuẩn bị gì cho con ăn đi, gì cũng được.”

Bà Hòa tần tuy vẫn còn nghi hoặc trong lòng nhưng vẫn quay sang bảo Diệp Tâm “Diệp Tâm, cậu hôm nay mệt, không ăn mấy món thường được, mi mau đi mua ít thịt tươi về rồi nấu cháo cho cậu.”

Xong lại quay sang nhìn Đại Hoa đứng gần đó “Còn con mau đưa nó ít tiền để nó đi chợ, xong rồi chịu khó đi đun nước nóng rồi pha ấm, chồng con vừa đi đường xa về, cần có nước rửa mặt cho tỉnh táo.”

Cả hai nghe xong, dù lòng vẫn muốn nán lại xem Bửu Đảo như thế nào nhưng cũng phải gật đầu tuân lệnh, vâng dạ đi mất.

Khi không còn ai ở đó, Bửu Đảo mới nói mẹ mình rót nước cho mình. Bà Hòa tần vừa rót ra là anh uống không kịp nhìn.Thấy con mình đã khát xong xuôi, bà Hòa tần mới quay sang nghiêm giọng “Ở đây còn mỗi ả với con, con không phải lo nữa. Nói thật cho ả nghe, có phải là bọn lính của ông Hoàng lại đuổi đánh con nữa phải không?”

Bửu Đảo ngồi im một chút rồi miễn cưỡng gật đầu.

Bà Hòa tần thấy vậy liền dữ dội như lửa cháy “Quân ác nhơn. Tại sao…tại sao bọn chúng dám…?”

Bửu Đảo quay sang năn nỉ “Con lạy ả, ả nói nhỏ tiếng giúp con với, vợ con mà nghe được, con còn biết giấu mặt ở đâu? Lần trước bị bọn chúng đánh là con chẳng dám về phủ một lần rồi, bây giờ may mắn không có thương tích mới dám về đây. Ả nói lớn để vợ con biết, thiếp con biết thì con còn mặt mũi nào mà sống trong phủ nữa, đường đường là Phụng Hóa công, là con Tiên đế mà lại bị bọn lính quèn đuổi đánh, thử hỏi còn gì nhục nhã hơn?”

Bà Hòa tần ấm ức đến chảy nước mắt, nói “Nhưng mà, kỳ này sao con thoát được bọn chúng? Bọn chúng có đuổi đến tận đây không?”

Bửu Đảo lắc đầu “Dạ không. Mà có thì hẳn không sao, con nghe lời ả, hễ ra đường là che kín mặt nên dù có người đi theo về đây cũng không biết thân phận con là Phụng Hóa công.”

Bà Hòa tần hỏi “Thế thì sao bọn lính kia biết con mà lại đuổi đánh?”

Bửu Đảo nhắm mắt, dựa đầu vào sau rồi hạ giọng chán nản nói “Ban sáng con vào Nội nhận lương tiền (1) cho phủ, lúc đi ngang bọn lính đang ngồi ở ngoài Nội thì một tên trong bọn chúng biết hôm nay là ngày phủ ta có lương, lại thấy túi con có đeo túi tiền nên biết con là ai, hắn kéo theo cả bọn định đánh, sau đó con cũng may mắn trốn được nhưng trên đường về lại gặp bọn chúng, thế nên mới phải chạy bán mạng về đến đây.”

( (1): theo lệ Hoàng gia triều Nguyễn thì mỗi gia đình trong Hoàng tộc được nhận một số lượng tiền mỗi tháng, ít hay nhiều tương ứng theo từng thứ bậc.)

Bà Hòa tần nghe con mình kể xong mà nước mắt lưng tròng, thấy tim đau như đang tự nhỏ từng giọt máu, lấy tay vuốt trán Bửu Đảo “Tội nghiệp cho con tôi, vì mấy đồng lương cho phủ mà phải cực khổ đủ điều, ả nghe con kể mà ả như đứt ruột con ơi. Hay mai mốt con đừng đi lấy lương tiền nữa, cứ như thế này ả không chịu nổi.”

Bửu Đảo cười lạnh một tiếng “Nhưng mà con không chịu cực lấy mấy đồng này thì phủ sống nhờ gì đây ả?” rồi trầm ngâm “Người hầu trên dưới cũng giảm gần hết, chỉ còn mỗi một mình Diệp Tâm. Hoàng mẫu (2) với ả dù là vợ vua nhưng từ ngày Tiên đế băng hà, bị đuổi ra khỏi cung, cũng có được hưởng của cải gì cho cam. Nhà của vợ, của thiếp con thì giàu nhưng thử hỏi con ngửa tay xin tiền nuôi thân, con sao chịu được? Để nuôi 7 miệng ăn trong phủ, con không còn cách nào nữa thưa ả.”

( (2): chính thất của Hoàng đế sẽ là mẹ của tất cả những đứa con trong cung, “Hoàng mẫu” là từ xưng hô của công chúa, hoàng tử với chính thất, hay còn gọi là “mẹ đích” )

Bà Hòa tần khó chịu quay mặt sang chỗ khác, giận dữ nói “Thì bất quá cả phủ cùng đi làm ruộng, ả con, vợ chồng, tôi tớ gì cũng phải ra làm hết, có phải hết cách đâu mà cứ hễ lấy được vài đồng là bị đánh?”

Bửu Đảo thở dài, chán nản mà nói “Ả ơi, đây có phải là lần đầu ta nói chuyện này đâu? Chỉ có mỗi việc đi vào Nội mỗi tháng một lần mà còn phải trốn tránh, nơm nớp sợ bị đánh, thử hỏi ả cả phủ ta ra ngoài làm ruộng làm vườn, bọn chúng mà biết được thì có để cho chúng ta yên hay không? Con thì không kể gì, nhưng đến vợ, thiếp của con trước giờ sống khuê các đã quen, giờ phải ra ngoài làm lụng, còn phải nhìn chồng mình bị đánh, con sao còn dám nhìn bên nhà vợ nữa? Đến lúc đó lại được không bằng mất.”

Bà Hòa tần giờ đẫm lệ, đầu cuối xuống rồi lấy khăn tự lau nước mắt “Nếu biết có cảnh như vậy, ngày xưa khi Tiên đế băng hà, ả tự cắt tay để đi theo ngài cho xong. Để khỏi phải ngày ngày nhìn tên hôn quân Thành Thái đó lên ngôi, hằng ngày cứ nhớ chuyện xưa ức hiếp phủ ta đủ đường, đến nỗi ả cùng Hoàng mẫu con thì không được phong làm Thái phi mà đường hoàng được phụng dưỡng, mãi mãi ở cái ngôi phi tần của Tiên đế ngày trước, giam lỏng cả đời ở đây, không vinh hoa, không phú quý. Thì thôi vậy cũng đã đành, chúng ta cũng chả dám nề hà, coi như không có phúc phần, nhưng đến cả con, dòng máu thiên tôn cao quý, lại bị cấm cửa không cho phép con vào hoàng cung tham dự các lễ tiết lớn, cố tình gạt con ra khỏi mọi thứ vinh dự. Đến mức bọn lính còn biết hắn không ưa con nên ngày ngày cứ thấy mặt là đuổi đánh. Thử hỏi con, ả phải sống làm sao đây?”

Bửu Đảo dù đau lòng nhưng cũng chỉ lãnh đạm cất tiếng “Nếu trách, cũng chỉ trách sao ngày xưa Tiên đế còn tại vị lại tống giam rồi giết chết ông của hắn, làm mẹ con hắn ta phải chịu sự quản thúc, sống trong cảnh thiếu thốn nhiều năm. Nên khi hắn lên ngôi, lòng tích oán đã sâu, giờ lại được trao quyền sinh sát, hắn hành hạ cả phủ ta để thỏa giận là chuyện thường. Yêu ai thì bốc lên trời, ghét ai thì dìm xuống đất, làm con người không tránh được chuyện giữ thù riêng. Nếu con là hắn, con cũng sẽ yêu hận rõ ràng, không hề buông tha những người làm con phải nhớ đến những ngày khốn đốn khi xưa.”

Bà Hòa tần nghe con nói vậy, phẫn uất nói “Nếu đã vậy, tại sao con không một lần nghĩ đến việc thay hắn nắm quyền sinh sát, con là dòng dõi đế vương, chẳng lẽ thấy bản thân chưa đủ cao quý mà ngậm đắng nuốt cay chịu dày vò bao phen của tên hôn quân đó? Con với ả và cả phủ này, chịu khổ chưa đủ hay sao?”

Bửu Đảo vẫn bình thản đáp “Không phải con chưa nói ả, rằng làm Hoàng đế không hề là điều đắc ý nhất trên thế gian, thưa ả.”

Bà Hòa tần cao giọng “Làm một Hoàng đế vẫn hơn là cứ mãi sống không ra sống như cảnh này. Phải khốn khổ từng ngày mà chờ cho qua kiếp làm người. Con chịu được, vậy con đành đoạn nhìn ả, vợ, thiếp và Hoàng mẫu của con sống trơ mắt nhìn con bị hiếp đáp hay sao? Con nếu không lên ngôi Hoàng đế thì chúng ta còn đường nào khác?”

Bửu Đảo cau mày nói “Nhưng chính là con không muốn tên Vĩnh San sẽ phải chịu điều mà con đã phải trải qua ngày xưa. Con căm hận cha hắn, con cũng không hề để tâm tới hắn, chỉ là con chỉ không muốn gieo điều bản thân không muốn cho một người khác. Ngày xưa người ta từng tước đoạt của con những gì, thì con vẫn không muốn người khác bị giày vò điều tương tự.”

Bà Hòa tần nhìn con, ánh mắt không kiêng nể, định đáp lời, nhưng cuối cùng cũng phải im lặng, hồi lâu cúi gầm mặt xuống, nói “Con mệt rồi, con đi nghỉ trước đi. Ả cũng vậy. Xem như ả già nua lẩm cẩm, làm con nghe những lời khó nghe rồi.”

Bửu Đảo thở dài lắc đầu, rồi đứng lên, nói “Vâng, thưa ả con đi nghỉ trước.” và đi thẳng một đường không thèm quay đầu lại.

Bà Hòa tần nhìn theo con trai, nắm chặt tay kiềm nén xúc động, uất nghẹn tự lau nước mắt, tiếng khóc nấc nghẹn như vang vọng giữa không gian tĩnh lặng, làm xung quanh thêm ảm đạm, u uất.

-o0o-


Ngày 3 tháng 9, năm Thành Thái thứ 18

Thành Thái đế, không biết thực hư nội tình triều đình rõ ràng ra sao nhưng đột ngột ban bố khắp thiên hạ rằng Hoàng đế vì lý do sức khỏe mà phải thoái vị, ngài cũng vừa ký lên tờ chiếu thoái vị do chính người Pháp lập, đồng thời nhường ngôi cho con mình là Thái tử Vĩnh San.

Ngày 5 tháng 9,

Thái tử Vĩnh San thay cha lên ngôi tại đại điện Thái Hòa, ngay phía trước của Tử Cấm Thành, tân Hoàng đế lấy niên hiệu là Duy Tân, mở ra một thời kỳ khác của Nam triều. Dĩ nhiên, chính trị phức tạp, lẫn lộn ngoại bang, dù là vua cũ hay vua mới, dù là triều Thành Thái hay Duy Tân đi chăng nữa, thì người Pháp vẫn như một phó vương kiềm cặp những hoạt động triều đình với cái tên “Chính quyền Bảo hộ” mà đứng đầu là một chức danh tên “Khâm sứ An Nam”, và điều này, có lẽ không mấy hợp hợp lòng tân đế.

Ngày thứ hai lên ngôi, trong Cần Chánh điện, Duy Tân đang ngồi dựa đầu vào hai tay đặt sau gáy, ngả người trên ghế, mắt nhắm nghiền, nhưng không ngủ. Ngôi điện vốn là nơi làm việc chính của vua trong Tử Cấm Thành nên không ai dám quấy rầy làm khung cảnh trở nên vắng lặng. Dù Duy Tân ngày xưa cũng đã từng nhiều lần bước chân vào đây với cương vị là một Thái tử, và kể từ ngày hôm qua, bản thân sẽ phải ở đây nhiều, nhưng ngài cũng chưa từng cảm thấy ngôi điện ngưng làm cho con người ta ngột ngạt và im ắng đến mức khó chịu.

Một thị vệ đi từ tiền điện vào, tiếng bước chân dù được cố tình giảm nhẹ nhưng cũng vang âm khắp nơi. Đứng trước nơi của Hoàng đế đang ngồi vài bước, hắn kính cẩn tâu:

“Bẩm Hoàng thượng, có ông Thượng bộ Học muốn vào cầu kiến.”

Duy Tân mở mắt, buông hai tay xuống bàn rồi lệnh “Cho ông ấy vào.”

Tên thị vệ dạ một tiếng tuân mệnh rồi lui ra.

Một lát sau, ông Thượng bước vào, quỳ xuống bái lễ “Thần Thượng thư bộ Học xin được thỉnh an Hoàng thượng.”

Duy Tân cười miễn lễ “Ông Thượng đứng lên đi.” rồi lệnh “Ông cứ ngồi ở ghế bên này, trẫm cho phép.”

Ông Thượng tạ ơn xong ngồi phía bên trái Duy Tân, nói “Dạ, bẩm Hoàng thượng, chẳng hay ban nãy Hoàng thượng triệu kiến thần là có ý gì cần dạy bảo?”

Duy Tân tay cầm bâng quơ một cây viết trên bàn, nhẹ nhàng nói “Ông Thượng đừng quá lời. Khi trẫm còn là Thái tử, ông là một trong những đại quan trong triều mà trẫm ngưỡng mộ nhất, lại còn là người một trong số những quan thân cận với cả Thành Thái đế và trẫm nhất. Thế nên, người mà trẫm tin tưởng để hỏi những chuyện liên quan đến triều đình, không ai ngoài ông. Nên phải nói rằng ông dạy bảo lại chính trẫm đây mới phải.”

Ông Thượng cúi đầu nói “Hoàng thượng làm thần thẹn không dám nhận. Chẳng hay Hoàng thượng có việc chi đang đau đầu, dù thần tài sức hèn mọn nhưng cũng xin được góp chút sức mọn cho Hoàng thượng.”

Duy Tân không nói gì, chỉ cười rồi đứng dậy, tay đưa ra sau lưng, mắt xa xăm nhìn ra phía bên kia của điện, nói “Đúng, Trẫm đang đau đầu. Ngày trẫm lên ngôi, trẫm thừa biết, quan quân trong triều sẽ có phần vì ngưỡng mộ vua cũ mà bất đồng với vua mới, đơn giản vì trẫm còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Phần vì…có những người theo phe Khâm sứ ra mặt mà không xem Hoàng đế ta ra thể thống gì. Vì thế, Trẫm không mong rằng trẫm sẽ thu phục được hết lòng của quan quân triều đình, nên trẫm triệu ông đến đây, xem ông như bậc tiền bối, cốt là chỉ muốn hỏi, theo ông thì trẫm có nên chuẩn bị cho riêng mình một lực lượng trong triều đình cho riêng bản thân trẫm hay không, một thế lực hậu thuẫn mà giúp trẫm ít nhất cũng không phải nể sợ bọn nịnh quan theo phe Pháp?”

Ông Thượng kính cẩn trả lời “Bẩm Hoàng thượng, thần cảm thấy Hoàng thượng thật anh minh khi nghĩ xa trông rộng. Nếu có được một thế lực như Hoàng thượng nói, thì việc điều hành triều đình cũng sẽ dễ dàng hơn nhiều. Chỉ là thần tự hỏi, Hoàng thượng có nghĩ về việc sẽ chiêu mộ ai hay chưa?”

Duy Tân chau mày “Thú thật là trẫm vẫn còn ngổn ngang trăm mối chuyện triều đình nên chưa nghĩ ra được. Vậy theo ông, ta nên làm thế nào đây? Một đội quân riêng của trẫm chăng?”

Ông Thượng tâu “Bẩm Hoàng thượng, dù là một đôi quân riêng thì cũng chưa chắc là sẽ tồn tại lâu dài cùng với Nam triều, bởi thần thấy, chính bản thân Hoàng thượng cũng cảm nhận được đạo vua tôi đang dần không còn nguyên vẹn trong triều đình. Thế nên thần thiết nghĩ, ông bà ngày xưa có câu ‘Một giọt máu đào, hơn ao nước lã’, là luôn luôn không sai.”

Duy Tân nheo mắt “Chẳng lẽ ý ông là…?”

Ông Thượng nói “Dạ, phải như vậy thưa Hoàng thượng. Việc kết nối tất cả những mối quan hệ của Hoàng gia luôn là một trong những cách kín kẽ nhất, nhưng lại hữu hiệu nhất. Xem trọng anh chị em trong chính những người họ hàng thân thích của mình sẽ là cách tốt nhất để Hoàng thượng chuẩn bị cho mình một hậu thuẫn mạnh cả về người lẫn của. Bởi theo như Hoàng thượng thấy, Hoàng tộc của Nam triều không ít người có… rất nhiều tài sản.”

Duy Tân ngẫm một chút rồi gật gù “Trẫm cũng đã nghe nói nhiều lần về việc các triều đình ngoại quốc thường không yên ổn bởi các thế lực đến từ chính nội bộ Hoàng tộc mà vẫn chưa từng để ý. Quả thực đúng là lão thần triều đình.” rồi đăm chiêu hỏi tiếp “Nhưng theo ông, bọn họ tiền bạc có thể lắp đầy cả sông Hương núi Ngự, chắc chắn ban cho châu báu thì cũng sẽ bằng thừa. Vậy thì trẫm sẽ phải thưởng cho họ thứ gì để bản thân họ thấy được tấm thịnh tình của trẫm mà về cùng một thuyền với trẫm đây?”

Ông Thượng vuốt râu cười nói “Thần nghĩ, con người không ai thoát được 4 chữ ‘vinh hoa, phú quý’, thế nên nếu đã có tiền muôn bạc vạn rồi thì người ta sẽ nghĩ tới ‘công danh’.”

Duy Tân nghe xong liền cười nhẹ nơi khóe miệng “Hay, hay lắm. Việc phong tước cho các vương tôn công tử của Hoàng gia sẽ càng làm cho họ hiểu được trẫm quan tâm họ, việc này không tốn nhiều công sức. Vậy việc này, trẫm giao hết quyền quyết định cho ông. Vài ngày sau đưa trẫm xem sớ để duyệt là được. À mà khoan đã…”

Ông Thượng hỏi “Dạ, Hoàng thượng có gì nữa cần sai bảo thần ạ?”

Duy Tân đăm chiêu “Trẫm chợt nghĩ đến phủ Phụng Hóa, ở đó có Phụng Hóa công cùng hai bà Hoàng quý phi và Hòa tần vợ Đồng Khánh đế. Trẫm định là cũng sẽ vừa phong tước cho hai bà. Chỉ là trong Hoàng gia ai cũng biết Thành Thái đế cha ta không thích ngài Phụng Hóa, bây giờ vừa lên ngôi trẫm lại vội vàng phong tước cho cả phủ, làm vậy liệu có là cách hay chăng?”

Hít một hơi sâu, Duy Tân nói tiếp “Hay là thế này, trẫm thấy ở phủ này, phong tước vị chỉ làm có lệ, bà Hoàng quý phi năm xưa đã là người đứng đầu nội đình (3), tục lệ Nam triều lại không có chuyện lập Hoàng quý phi làm Hoàng hậu trước khi mất, nên trẫm sẽ chỉ phong bà Hòa tần thăng lên một giai (4) nữa, lấy một phong hiệu khác, kèm theo đó là một ít lễ vật. Ông thấy thế nào?”

( (3) Nội đình: là khu ăn ở của Hoàng đế cùng phi tần trong Tử Cấm Thành triều Nguyễn.)

( (4) Giai: bậc – cụ thể là bậc trong thứ tự sách phong cung phi.)

Ông Thượng suy nghĩ một lát rồi tâu “Bẩm, theo thần thấy, thì việc phong tước vị như con dao hai lưỡi, hoặc là Hoàng thượng chiếu cố, ban ân điển trên dưới rõ ràng, thì sẽ làm quân thần đều vui, hoặc bằng không, nếu Hoàng thượng không làm cho chu toàn thì họ sẽ nghĩ Hoàng thượng không anh minh, cố tình hạ thấp họ, khi đó bao ý tốt ban đầu lại thành hiểm họa khôn lường.”

Duy Tân cười “Ông Thượng đã cả nghĩ quá rồi. Phụng Hóa công đã từ lâu an phận thủ thường, tính tình dễ chịu, trước sau lại không tính toán, ngài ấy cũng là chú của trẫm, trẫm không tin ngài ấy chỉ vì chuyện nhỏ mà lại có hiềm khích với trẫm. Trẫm cho rằng tất sẽ không sao. Nên lễ ở phủ Phụng Hóa làm chu toàn một chút là được, ông cứ theo như vậy mà làm.”

Ông Thượng nghe Hoàng đế nói vậy cũng không dám tâu gì thêm, chỉ nói đúng ba chữ “Thần tuân mệnh”.

Duy Tân chợt như nhớ ra điều gì, nói “Còn chuyện này nữa. Khâm sứ hắn ta gần xa đề nghị trẫm đi ra biển chơi vài ngày. Trẫm định bụng sẽ cho ông theo hầu, ông thấy như vậy được chứ?”

Ông Thượng nói, giọng có hơi nghi hoặc “Bẩm Hoàng thượng, thứ cho thần nói nhiều. Vì là người kinh qua mấy đời vương nên thần thấy mỗi khi một Hoàng đế lên ngôi thì công việc triều chính còn ngổn ngang trăm bề. Thần thì chỉ có nhiệm vụ tuân theo ý vua nên đi theo Hoàng thượng hầu dĩ nhiên là không dám cãi, chỉ e Hoàng thượng phải lo nhiều việc, nên chuyến đi ra biển chơi kỳ này…”

Duy Tân giơ tay lên, cắt ngang “Trẫm hiểu ý ông.” rồi nói, nghe có chút cay đắng “Chắc ông cũng nghe rằng chuyến đi này là ‘ngài’ Khâm sứ đề nghị trẫm đi, cốt chỉ để trẫm không chuyên lo việc nước mà giao quyền hành dần dần lại cho chúng cùng bọn nịnh quan. Trẫm không muốn rằng những ngày đầu bọn chúng sẽ cảnh giác trẫm, nên chuyến này, không đi không được.”

Ông Thượng cũng tỏ vẻ đồng ý “Bẩm, thần đã hiểu ý Hoàng thượng. Thần sẽ mau chóng phân phó công việc để có thể sớm ngày lên đường cùng Hoàng thượng.”

Duy Tân mỉm cười “Vậy thì tốt. Lần trước được trò chuyện cùng gia đình ông, trẫm cũng thấy vui. Lần này trẫm cho phép ông được dẫn cả nhà theo trẫm ra cửa Tùng một chuyến nữa. Đã lâu không gặp, trẫm cũng nhớ họ.”

Ông Thượng cúi người tạ ơn “Bẩm, thần thay mặt cho cả nhà tạ ơn sự sủng ái của thánh thượng.”

Vừa dứt lời thì tên thị vệ ban nãy đi vào, tâu: “Bẩm Hoàng thượng, có anh Huỳnh đến cầu kiến, đang đứng đợi ngoài điện.”

Duy Tân nói “Trẫm biết rồi. Gọi hắn ta vào.” Xong nói với ông Thượng “Chuyện ngày hôm nay trẫm nhờ cả vào ông sắp xếp. Giờ ông lui ra đi. Mấy hôm nữa trẫm sẽ nói ông khi nào ra cửa Tùng.”

Ông Thượng thư nói “Bẩm, thần tuân chỉ.” xong quỳ tạ bái biệt rồi đi ngay sau lưng tên thị vệ, cả hai cùng đi ra hướng tiền điện phía trước, trả lại không gian riêng tư cho Hoàng đế chuẩn bị cuộc triệu kiến tiếp theo.

-o0o-


Mấy ngày nay thấy trời nắng đẹp sau bao ngày mưa tầm tã, mây xám mịt mù, nên hôm trước nghe có bạn rủ lên Quảng Trị chơi một hôm, Bửu Đảo liền xin quá giang đi theo, sẵn tiện ghé mấy cánh đồng trà, biết mẹ ở nhà thích uống loại trà Bạch Tiên Hương nức tiếng, được trồng trên đồi, nên nay có dịp định hái trà tươi về cho mẹ. Chẳng ngờ trời như trêu ngươi, vừa đến Quảng thì mưa to như trút nước, chẳng đi đâu được, hôm nay là ngày anh phải từ Quảng về lại Huế thì lại không một giọt mưa, trời đôi khi lại râm mát dễ chịu, nên lòng nghĩ thôi thì đành ghé mua một túi trà ướp tẩm hương hoa khô, nghĩ mẹ cũng sẽ thích dù thực sự trước sao cũng không thể bằng trà tươi, nhưng cũng xem như là quà đi vậy.

Ngồi đằng sau xe, mở túi trà ra thử, hương thơm như trộn lẫn vào khắp không gian. Anh cố tình chọn loại ướp với hoa dành dành phơi khô vì kể từ ngày gặp cô nàng bán bánh dạo nọ, ngửi thấy hương hoa đơn sắc này có trên miếng lá gói bánh, anh lại gây ấn tượng mạnh, cứ in sâu mãi không thể quên. Biết cũng khó gặp lại nhau, nhưng cứ nhắc đến hình ảnh đó bằng những cách này thì cũng xem như là giữ gìn một kỷ niệm đẹp.
Xe đi cũng khá nhanh, lại khởi hành từ sáng sớm nên trời chưa đứng bóng là đã đến gần phủ Phụng Hóa. Cũng vẫn như thường lệ, anh lấy một mảnh vải che kín mặt rồi đi xuống xe, nhanh chóng vào nhà. Ngoài sân vắng lặng, cho rằng mọi người giờ cũng đang lo cơm trưa nên không thắc mắc nhiều, anh đi thẳng vào nhà rồi mở cửa đi vào.
Vừa đặt chân vào sảnh thì thấy bên trong không có ai, thường ngày mỗi sáng đều đặn vẫn thấy mẹ mình hay ngồi thêu ngay cửa sổ, giờ thiếu vắng nên cảm giác không quen, liền cất tiếng gọi:

“Diệp Tâm, Diệp Tâm đâu?”

Diệp Tâm đáp lời từ xa rồi chạy từ bếp lên, cúi đầu chào “Dạ, cậu đã về.”

Bửu Đảo hỏi “Ả của ta đâu? Đang nằm nghỉ trong phòng hay sao?”

Diệp Tâm làm mặt lo lắng “Dạ, bẩm cậu, sau khi người trong triều đình đến phủ chúng ta xong, bà vẫn ngồi ở ghế đó như bình thường, nhưng sau đó lại ra vườn đi dạo rồi không thấy đâu nữa.”

Bửu Đảo cả kinh, giọng hớt hải “Người triều đình? Bọn chúng dám cả gan tìm đến tận đây quấy phá hay sao?”

Diệp Tâm lắc đầu “Dạ, không thưa cậu, quân triều đình đến đây là để phong quan cho bà.”

Bửu Đảo lại càng kinh ngạc “Bọn chúng cả bao nhiêu năm nay có thèm đoái hoài gì đến chúng tam sao nay lại phong quan cho ả của ta chứ?” rồi chợt mặt giãn ra, cười “Chẳng lẽ triều đình đã phong cho ả Thái phi rồi à? Thế thì còn Hoàng mẫu của ta thì sao?”

Diệp Tâm cũng lại lắc đầu “Dạ, triều đình không đoái hoài gì đến bà Hoàng, chỉ phong tước cho bà, nhưng phong làm…Tam giai tần, lấy hiệu Nghi. Cũng không được vào Đại Nội mà ở, chỉ được tặng cho vài món trang sức gọi là lễ vật.”

Bửu Đảo vẫn chưa thể tin được điều vừa được nghe, lầm bầm trong miệng “Tên Hoàng đề Duy Tân đó, hắn ta sao dám…? Ả của ta đáng ra được phong làm Thái phi, được phụng dưỡng trong hoàng cung, cha của hắn tước đi quyền đó thì thôi cũng đặng. Nay chính hắn vừa mới lên ngôi lại cố tình thăng cho ả của ta lên 1 giai, chẳng khác nào xem ả như một phi tần đương triều mà trong tay không chút quyền lực? Sỉ nhục, đây quả là một sự sỉ nhục.”

Rồi trợn mắt lên lo sợ “Chẳng lẽ, ả của của ta vì nghĩ quẩn mà...Em có biết ả của ta đi đâu không?”

Diệp Tâm lắc đầu lo lắng nói “Dạ, bẩm cậu, bà chỉ nói là đi ra vườn rồi sau đó liền biến mất, em thì bận dưới bếp không biết bà đâu nữa. Cả ba cô giờ đều đang cùng bà Hoàng lên chùa làm cơm chay từ sớm, em không dám bỏ phủ mà đi một mình. Cậu mau đi tìm bà đi, em lo quá.”

Bửu Đảo vội gật đầu đồng ý rồi không suy nghĩ mà nhanh chóng rời khỏi phủ, chạy vô định về hướng bờ sông, vừa chạy vừa quan sát trước sau, chỉ mong thấy bà Hòa tần đang đi đâu đó trên đường.

Nắng càng lúc càng gắt, giờ lại đang là ban trưa nên xung quanh gần như không có ai, chỉ có vài lần nghe tiếng rao của mấy gánh hàng rong trên đường chứ chẳng mong thấy ai lảng vảng ngoài đường giờ này vì anh biết chắc người người đều đang trong nhà trốn nắng.

Bờ sông Hương dài như vô tận, tìm mãi mà không thấy người, nắng trưa làm người ta hoa mắt, Bửu Đảo ghé ngay vào bên đường, thở một chút rồi định đi tiếp, dù chân mỏi nhưng cũng phải tìm cho bằng được mẹ mình. Nghĩ đến cảnh xấu nhất có thể, anh quên mệt mà buộc chân đi tiếp.

Được một đoạn, thấy thấp thoáng đằng kia một người phụ nữ mặc áo dài chỉnh tề, tóc búi gọn gàng, mặc cho nắng trưa mà đứng ngay mép sông, lần này bản thân chắc không thể lầm, Bửu Đảo lòng mừng rỡ tiến gần lại cất giọng: “Thưa ả.”

Bà Hòa tần quay đầu lại, đứng quá lâu giữa trời nắng làm bà lấm tấm mồ hôi, nhưng gương mặt vẫn lạnh như tiền, lãnh đạm nói “Con đi về đi. Con không cần phải lo lắng cho ả nữa.”

Nhìn bước chân của mẹ mình chỉ còn đúng một bước nữa là sẽ rơi xuống dòng nước sâu bên dưới, tim Bửu Đảo đập liên hồi, anh nhẹ nhàng nói “Thưa ả, con không đi về một mình, ả với con cùng đi về.”

Bà Hòa tần vẫn điềm đạm nói “Sống mà như chết đi, ả không cam tâm. Bao nhiêu năm nhìn cảnh đắng cay, ả không còn chịu đựng nổi nữa.”

Bửu Đảo nhẹ nhàng tiến từng bước không ra tiếng động đến gần bà, miệng vẫn nói cho mẹ mình bình tĩnh “Con hiểu lòng ả, chỉ có con hiểu được lòng ả. Nào, thưa ả, chúng ta cùng đi về nhà, rồi sau đó sẽ nói chuyện tiếp.”

Bà Hòa tần không nói gì, từ từ quay đầu lại hướng sông, nhắm mắt lại, chân nhích lên một chút định đoạn tuyệt với tất cả. Chỉ sợ không còn kịp, Bửu Đảo nhanh chóng phóng lên một bước dài, tay ôm chặt lấy mẹ mình, run sợ nhìn xuống dưới. Nước sông Hương êm đềm là thế vậy mà giờ này lại đáng sợ hơn cả khi đối diện với tử thần.

Bà Hòa tần bất giác bị giữ lại, tay chân vẫn không chịu thua, tán loạn đẩy người về phía trước để nhất quyết quyên sinh. Bửu Đảo ôm chặt mẹ trong nước mắt, thống thiết nói “Ả, con xin ả, ả đừng như vậy, ả đi rồi con biết phải làm sao đây?”

Bà Hòa tần biết không thể làm như ý muốn, dần dần thôi cựa quậy, vẫn đứng ngay bên sòng sông mà ngước lên trời khóc nấc, tay đánh vào người Bửu Đảo bên dưới, nói trong nước mắt “Ả không còn muốn sống nữa con ơi. Ả không chịu được cảnh người hạ nhục con hay chính ả nữa. Hãy để cho ả đi trong nhẹ nhàng, đi để gặp lại Tiên vương.”

Bửu Đảo thống thiết cầu xin, tay vẫn ghì chặt lấy chân bà “Con xin lỗi ả, là lỗi nơi con. Tất cả chỉ là lỗi nơi con. Con sẽ làm vua, con sẽ lên làm vua ả ơi.”

Lời nói của con mình dù có làm cho bà Hòa tần hơi chút xao động, nhưng rốt cuộc vẫn lạnh lùng lên tiếng “Con đừng tự ép mình làm những thứ bản thân cho là không phải. Con đã nói đúng, làm Hoàng đế không phải là điều đắc ý nhất, bởi sống chết tự theo ý của mình mới là điều đắc ý nhất của nhân gian. Vì vậy, ả không muốn ép con phải làm Hoàng đế nữa thì con cũng hãy để cho ả được chết theo ý ả, đừng cản ả làm gì.”

Bửu Đảo ngước lên nhìn bà, ánh mắt kiên quyết chưa từng, nói “Không, con không làm Hoàng đề vì ả muốn mà con làm Hoàng đế chính là vì con muốn. Có được trở thành Hoàng đế, con mới không bao giờ phải thấy cảnh có lực mà không có sức nữa. Con sẽ không để ả phải chịu khổ hơn nữa. Vì thế, con xin ả đừng chết.”

Quyết tâm ban đầu của bà như bị lời Bửu Đảo nói ra làm cho mủi lòng rồi dần biến mất. Nhìn xuống thấy con mình đang phải cầu xin mình vì chính mạng sống của mình, bà như tỉnh dậy sau một cơn mê man, không thể nói được gì, trái tim người mẹ giờ đây như tự xấu hổ cho hành động của mình, bà cúi người xuống, vuốt đầu Bửu Đảo, dịu dàng nói “Ả xin lỗi, con chỉ vì ả mà phải khổ.”

Bửu Đảo dựa vào lòng mẹ mình mà nghẹn ngào, nỗi sợ hãi như vẫn còn trong lòng ngực, tay vẫn ôm mẹ mình chặt không buông, tự trách mình quá yếu mềm mà vô tình giam cầm những người xung quanh vào cuộc sống bi ai, không biết ngày nào thoát cảnh đau đớn khốn cùng.

Làm Hoàng đế, hiển nhiên không phải là chuyện dễ dàng, nhưng tất sẽ dễ dàng hơn chuyện phải chịu đựng thêm một lần trải qua cảm giác mất đi những người mình trân quý. Lời hứa đã tự miệng nói ra, thề nguyện tự phải làm được bằng mọi giá. Nếu ngày hôm nay như được sống đi chết lại, thì bản thân cũng sẽ tự nhủ rằng ngày mai phải sống với một con người hoàn toàn mới, một con người bắt đầu quyết tâm làm mọi chuyện như ý muốn chỉ với lòng hận thù và sự tàn nhẫn.

Nắng vẫn còn chói chang đó, nhưng ở đâu tự dưng chợt nổi gió lớn, làm dòng sông Hương dậy sóng, cả mặt nước dao động, sóng lớn cuồn cuộn xô bờ. Yên lặng lâu ngày, hôm nay trông như dự báo sắp phải có bão.

Ngày hôm qua vẫn còn trong xanh phẳng lặng, chưa hẳn ngày hôm nay không nổi phong ba.

Đời người, cũng là như thế…


"Chương 5" bởi theboyofschool
( https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )


Mấy ngày sau, lệnh Hoàng đế cũng đến nhà ông Thượng thư, báo rằng chuyến đi của Hoàng đến cửa Tùng kỳ này ngài đặc biệt ân chuẩn cho cả nhà của ông Thượng cùng được đi hầu vua, nên trên dưới người hầu hôm nay đều tất bật chuẩn bị hành lý cho chu đáo.

Riêng với Tử Chi, cô chẳng còn háo hức với tâm trạng đi là để du ngoạn cảnh biển như lần trước, nhưng lại vui vì một niềm vui khác, chính là vì bản thân sắp được gặp lại Hoàng đế sau một năm dài không gặp gỡ. Dù những bức thư vẫn được thường xuyên gởi trao, nhưng mặc cho văn chương có như mật ngọt đến đâu thì cũng không thể sánh được những lời ân tình được thủ thỉ bên tai. Nghĩ đến điều đó mà Tử Chi không nén được hồi hộp, lúc nào lòng cũng lâng lâng khó tả, vui vẻ lạ thường.

Thế nhưng muôn sự tại trời, nào phải vạn lần muốn là vạn lần được, trước một đêm gần sát ngày lên đường, ông Thượng gọi con gái mình vào phòng rồi nói:

“Kỳ trước cả nhà ta đều đi, khi về nhà cửa bề bộn do không có người chủ quản trước sau. Con giờ cũng là con gái lớn, anh của con thì là nam nhi, khó mà chu toàn chuyện trong ngoài, mẹ con cũng đã lớn tuổi, dẫu sao thì cha với mẹ đi đâu cũng có nhau, nên chuyến đến cửa Tùng kỳ này, ta định sẽ để con ở nhà, tập tành quản lý tề gia. Còn cha, mẹ, cùng anh con sẽ đi hầu Hoàng thượng. Con thấy sao?”

Trời đất giờ như quay cuồng ngay trước mắt, lòng kêu gào như sấm chớp, miệng như muốn nói lời từ chối, xin được đi cùng cha mẹ, nhưng nhìn ấy mắt kiên định của cha, cũng không dám cãi lời, Tử Chi im lặng một khắc rồi nhoẻn cười nói “Dạ, nếu cha đã dạy như vậy. Con cũng không dám cãi. Bây giờ cũng đã khuya, con xin phép được về phòng ngủ sớm, ngày mai còn đi ra chợ.”

Ông Thượng tay cầm tách trà, giọng dửng dưng như không “Bất đầu kể từ ngày mai con với Miên Thanh không cần phải ra chợ nữa, mợ Năm đã có người phụ việc mới, tất cả đã sắp xếp xong xuôi, con không phải lo. Ngày mai con cứ ở nhà là được.”

Trong vòng chỉ một vài khắc, hay có thể lâu hơn thế, mà những kỳ vọng và niềm vui nhỏ nhoi từng ngày của Tử Chi chợt lần lượt bay vụt mất, trong lòng giờ như một chiếc bình bị đánh vỡ, tan tành, ngổn ngang. Vẫn cố gắng kiềm lòng, Tử Chi thốt được mấy tiếng vâng dạ, rồi xin lui ra khỏi phòng.

Bà mệnh phụ bước vào, chưa ngồi xuống ghế đã trách “Tôi thật không hiểu được ông. Không cho con gái mình đi du ngoạn đã đành, lại còn cấm cửa nó không cho nó ra chợ. Chẳng phải ngày xưa thấy nó ngày ngày ra đó vui vẻ, ông là người hân hoan nhất hay sao, giờ bỗng dưng không nói không rằng bảo nó ở nhà. Nhìn nó buồn, tôi cũng xót.”

Ông Thượng trông vẫn ung dung, nhưng giọng hơi đanh lại “Bà thì lúc nào cũng nghĩ tôi khó khăn với con, mà có khi nào nghĩ tại sao tôi lại làm vậy chưa?” rồi ông buông tách trà xuống, kể lại “Mấy hôm trước, tình cờ đứng bên trong điện Cần Chánh, tôi nghe được Hoàng thượng dặn một tên nhà báo thân cận với mình rằng phải đưa tận tay một vật cho Tử Chi, tôi cố nhìn thì mới biết đó không khác gì một lá thư. Mà là thư nam nữ tuổi cặp kê không ngày ngày gặp mặt, con mình cũng chẳng phải quan triều đình, lại lén lút gửi thư cho nhau, thì cam đoan phải là thư tình. Lòng liền nghĩ, nếu thư không được gửi bằng cách bình thường, thì chỉ có thể là lợi dụng lúc con gái chúng ta ra ngoài mà trao đổi. Tôi sinh nghi nên liền sai một đứa trong nhà đi theo Tử Chi ra chợ, đứng theo dõi nó cả buổi trong mấy ngày trời thì đúng như tôi đoán, nó chạy ra khỏi chợ rồi nhận thư từ tên nhà báo nọ. Cả hai làm rất nhanh chóng, chứng tỏ đã quen với việc này đã lâu. Vì thế tôi mới không cho con mình đi chứ có phải tôi khó khăn gì cho cam?”

Bà mệnh phụ giờ mới vỡ lẽ, mặt không khỏi vui mừng “Nếu đúng như vậy thì Hoàng thượng đã phải lòng con gái chúng ta lâu rồi, hẳn là hôm gặp nhau ở cửa Tùng năm trước. Con mình thông minh, giỏi giang, lại công dung ngôn hạnh đầy đủ, phải làm vợ của Hoàng thượng mới là xứng. Rõ ràng đây quả là chuyện tốt, sao ông lại ngăn cản nó?”

Ông Thượng không đồng ý, nói “Con gái của Hồ gia là khuê danh đài các, là cành vàng lá ngọc, sao lại có thể tùy tiện để cho nó có thói hễ thích ai là cứ viết thư tình sau lưng cha mẹ? Nếu không cấm nó đi ra biển, gặp lại Hoàng thượng, tình ý lại càng sâu, khi về lại cứ ra chợ để viết thư tay rồi trao đổi lén lút, thử hỏi sau này khi biết ra, Hoàng thượng là người không thể tùy tiện mà nói đến, người ta sẽ dồn hết vào con gái mình, khi đó họ sẽ xem con gái mình ra thể thống gì nếu giả sử Hoàng thượng không nạp nó làm phi? Người đời cười chê nó từ đây đến lúc chết, thử hỏi sao nó sống nổi?”

Bà mệnh phụ nghe đến đây mặt tối sầm, hoảng sợ hỏi “Nếu vậy thì chúng ta phải làm sao đây? Cấm con mình thì còn được, nhưng Hoàng thượng là con trời, ông định làm sao?”

Ông Thượng bình tĩnh nói “Chính vì không cấm được Hoàng thượng nên tôi mới phải cấm Tử Chi. Nếu Hoàng thượng yêu thương con mình thật lòng thật dạ, sau chuyến đi này về, ngài sẽ phải suy nghĩ đến chuyện tương lai của cả hai. Dạo gần đây tôi nghe nói bà Thái phi mẹ ngài trong cung cứ thúc ép ngài lấy vợ nên ngài trước sau cũng phải chiều theo, chắc chắn Hoàng thượng sẽ sớm ngày định đoạt. Còn nếu Hoàng gia chọn rằng không có đám cưới, thì Hoàng thượng cũng sẽ không bao giờ có được Tử Chi.”

Nhìn thấy ánh mắt quyết liệt của chồng, lại bị lời nói của ông thu phục, nên bà mệnh phụ cũng đành xuôi theo, chỉ mong mọi chuyện đúng như dự tính, tránh đêm dài lắm mộng, khổ cả đôi bên.

Ngày cả nhà cùng lên đường ra cửa Tùng, Tử Chi xanh xao đứng ngoài cổng, tiễn cha mẹ với anh, mặt vẫn còn như ý muốn nài cha mình lần cuối để biết đâu sẽ được cha đổi ý, nhưng ông Thượng vẫn một mực quyết tâm, không đoái hoài đến con gái mình, lạnh lùng bảo Tử Chi vào nhà nghỉ ngơi rồi cùng mọi người xuất phát.

Cả ngày hôm đó, Tử Chi như xác không hồn, ngồi buồn rầu bên cửa sổ, Miên Thanh phải dỗ mãi mới ăn được vài đũa rồi cũng không nói năng gì thêm, chân chẳng buồn đi đâu, tay cũng không muốn nhúc nhích, miệng không thèm cười lấy một tiếng. Cuối cùng, Miên Thanh cũng đành chịu mà phải thôi nói chuyện pha trò cố mua vui cho Tử Chi, bất lực lắc đầu rồi rời khỏi phòng, để cô ở một mình như theo ý muốn.

Khi ông bà Thượng về đến nhà, lòng cũng phấn khỏi đôi chút, trong bữa cơm tối hôm đó Tử Chi cũng cố tình như vô ý hỏi lấy mấy câu về chuyện của Hoàng đế, nhưng trước sau vẫn là một cuộc bày trận không tới, chẳng làm qua mắt được ông Thượng, ông thẳng thừng gặt phăng chuyện đang nói rồi chuyển sang chủ đề khác. Tử Chi không hiểu làm sao mà mỗi tâm ý của mình đều bị cha mình nắm bắt không sót thứ gì, lòng hoảng sợ nên chỉ còn biết ngậm ngùi mà im lặng, tự nhủ xem như chỉ còn trông chờ vào Hoàng đế tìm ra cách để giúp cả hai, chứ cứ mãi giam lỏng bằng cách này, Tử Chi chắc sẽ sớm ngày tự làm cho mình héo hon.

Chẳng biết trong chuyến đến cửa Tùng ông Thượng đã nói gì với Hoàng đế, hay chính bản thân ngài tự mình biết mình sẽ phải làm gì với mối tình của chính mình, chỉ khoảng bốn, năm ngày sau khi trở về từ chuyến du ngoạn, một hôm, Miên Thanh hớt hải chạy vào phòng thông báo:

“Tiểu thơ ơi, mau mau, cô mau ra xem, người triều đình đến rồi.”

Tử Chi đang tựa đầu vào thành giường, chăn đắp đến chân, thản nhiên nói “Cha là thượng quan trong triều, chuyện người triều đình đến phủ ta còn gì là lạ? Ta đang không khỏe, em cứ bảo ông là ta không ra chào khách được.”

Miên Thanh mất kiên nhẫn lắc đầu liên tục “Dạ không cô ơi, người triều đình đến đúng là tìm ông, nhưng mà họ đến là vì tiểu thơ.”

Tử Chi chợt thẳng người ngồi dậy, tròn mắt hỏi “Em nói sao? Người triều đình đến là vì ta, ý là gì?”

Miên Thanh nói gấp “Bẩm tiều thơ, em cũng không nghe rõ, vừa nghe họ đến là em chạy vào báo cô ngay. Nhưng em nghe loáng thoáng được rằng họ đến là vì xin ảnh của cô, không biết để làm gì, cô mau mau ra xem.”

Theo lệ triều đình, trước khi nạp phi cho Hoàng đế, quan Khâm sai thường được cử đến nhà của người sắp được nhập cung mà xin một tấm ảnh, cốt là để cho các bà mẹ của Hoàng đề xem qua rồi mới quyết định có vừa ý hay không. Hôm nay người ta đến xin ảnh của Tử Chi, chẳng lẽ…

Tử Chi vội xuống giường, chỉnh tóc tai chỉnh tề rồi nói “Mau, họ đang ở nhà khách phải không, em với ta cùng đi xem.”

Dù tai nghe là vậy nhưng lòng vẫn không tin là sự thật. Tuy lúc trước mơ mộng nhiều về tương lai của cả hai, nhưng một đám cưới giữa Tử Chi và Hoàng đế là điều mà cô gần như chưa nghĩ đến, bây giờ, cuối cùng chẳng lẽ cũng đã trở thành sự thật?

Rời khỏi phòng mấy bước là đến hành lang bên tả, đứng đây có thể thấy được toàn bộ nhà khách ở chính giữa. Cả hai dựa người vào cột, Miên Thanh đứng bên cạnh, nép phía sau thở mạnh, hơi thở phả vào lưng Tử Chi khá khó chịu, nhưng vẫn không để tâm tới mà vẫn chăm chú nhìn đoàn người đứng trong nhà khách cùng cha mẹ trò chuyện.

Bọn họ ngồi với ông Thượng, không thấy bà mệnh phụ đâu. Một chốc sau, bà đi ra, trên tay bê một cái khay có phủ một tấm lụa đỏ, sau đó hai bên cúi đầu tạ lễ nhau rồi ngồi trà nước một chút. Không lâu sau cả hai làm lễ cáo biệt rồi đoàn người cùng lọng che rời khỏi phủ.

Tử Chi đứng đây nhìn không sót một khoảnh khắc, vừa nhìn vừa đoán xem hai bên đang bàn nhau chuyện gì, lòng muôn ngàn câu hỏi nhưng khuê nữ Hồ gia không cho phép bản thân tự ý tham gia những cuộc nói chuyện của cha mẹ cùng quan quân triều đình mà không được gọi, nên chỉ còn biết đứng đây mà suy đoán.

Sau khi tiễn khách xong xuôi, bà mệnh phụ đi nhanh đến gian phòng Tử Chi để thông báo tin vui, đúng như cô đoán, quan Khâm sai được lệnh tử Hoàng thượng trong Đại Nội đến đây để lấy ảnh của tiểu thơ con ông Thượng, để mang đến cho hai bà Hoàng thái hậu và Hoàng thái phi, mẹ của Hoàng thượng xem mặt, rồi sẽ chọn ngày lành mời ông bà Thượng vào cung nếu họ vừa ý.

Tin vui cứ dồn dập mà đến, một tuần sau hôm đó, ông Thượng và bà mệnh phụ được truyền vào trong Đại Nội gặp mặt hai bà Hoàng thái hậu và Hoàng thái phi như bước đầu của tục lệ cưới hỏi triều đình.

Hai ngày sau, kiệu vàng rước từ Nội ra đến nhà Tử Chi, ban phủ Hồ gia một cặp bông tai vàng dáng hoa đăng, kèm thêm vài món trang sức nữa đặt trong khay phủ lụa đỏ, xem như là sính lễ hỏi cưới tiểu thơ Hồ gia cho Hoàng đế đương triều.

Năm ngày sau, có lệnh truyền từ hoàng cung, Khâm sai đại thần đến nhà ban chỉ, con gái ông Thượng thư bộ Học là Hồ Tử Chi được mời vào Nội gặp mặt hai bà Hoàng thái hậu và Hoàng thái phi, xem như là bước cuối cùng, nhưng cũng là bước quan trọng nhất để quyết định chọn ngày làm lễ rước dâu. Đã đến đây thì xem như cũng đã gần mười phần chắc chắn hoàng gia quyết định chọn con gái Hồ gia con dâu, lại là người đầu tiên Hoàng đế chọn, không tránh khỏi sẽ được cưới hỏi theo đúng lễ nghi của một chính thất, khi nhập cung lên ngôi Hoàng quý phi, đứng đầu tam cung lục viện, làm mẫu nghi thiên hạ. Vì nghe tin gần xa mà lễ vật người người xa gần tặng không đếm xuể, khách đến thăm dập dìu sớm tối đông như trẩy hội.

Đến đêm trước ngày vào hoàng cung, quần áo đã chuẩn bị xong xuôi, trang sức trâm vàng đều đâu ra đó, chỉ nằm trên bàn đợi được cài lên tóc chủ nhân để xuất hành lên đường, Tử Chi nghe người ta nói lão nhân trong hoàng cung dù sống nơi khang trang, diễm lệ lại không thường hay xông hương liệu quý như đàn hương, hổ phách cho tẩm điện mà chỉ dùng hương hoa cau, hoa huệ, thế mà trong điện hương lưu không dứt, bước vào lại càng cảm nhận thêm phần thanh tịnh. Nghe vậy Tử Chi chợt nghĩ, nếu tẩm hương hoa lên tóc thì chắc hẳn các lão cung nhân lại càng thích thú. Bởi thế, từ lúc trời vừa tối đến giờ, chẳng cần biết thực hư ra sao, cứ không có gì làm là cô lại lấy cây lược thoa đầy tinh dầu hoa huệ trắng rồi ngồi nhẹ tẩm lên tóc mình. Cứ chải đên đâu là nghe thơm ngan ngát, nhưng lại trong veo đậu ngay đầu mũi, dễ khiến người ngửi thấy mê say khó tả. Đến khi xong chải hết tóc thì cũng đã khuya, nhìn lên cao, trăng lên gần đến đỉnh, nên không dám thức qua giờ, Tử Chi thổi tắt đèn, rồi lên giường, lòng kiềm nén hồi hộp mà nhắm mắt cố ngủ.

Hôm đó là rằm mười sáu, ngày tốt trong năm, bầu trời không mưa, cũng không nhiều mây, tất cả đều vành vạnh, cảnh khuya đẹp đến ngỡ ngàng, yên ả trôi qua.

Sáng ngày mười bảy, mọi người trong phủ đều như kiến mất đàn, nháo nhào lên để chuẩn bị cho tiểu thơ trong nhà lên đường vào Đại Nội. Trang điểm xong, y phục đều chỉnh tề, trên hai tai là đôi bông mà hoàng gia ban tặng, bà mệnh phụ vừa đứng cạnh bên vừa dặn dò kỹ thêm vài lần nữa về phép tắc trong cung, Tử Chi ngắm vào gương nhìn mình lần cuối, chỉnh lại chiếc áo lụa trắng mặc trên người, rồi nắm tay mẹ cùng bước ra ngoài cổng, xe kéo đã sẵn sàng chờ lệnh. Ông Thượng hôm nay lên triều sớm nên không đi cùng Tử Chi được, tất cả chuyện hôm nay cũng chỉ là tự thân do cô lo liệu. Cô chào mẹ mình lần cuối trước khi bà dặn dò thêm vài câu, rồi bước lên xe ngựa, kéo rèm lại và xe bắt đầu lăn bánh.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Nhìn lên thấy từng đám mây trắng xuôi ngược lững lờ làm người ta cũng vui vẻ, dễ chịu hẳn ra sau mấy ngày nóng oi ả.

Ngồi trong xe, Tử Chi lòng hơi tiếc nuối, vì lệnh rằng hai Thái hậu và Thái phi truyền chỉ ai thì người dó mới được bước chân vào hoàng cung, nên Miên Thanh hôm nay cũng phải ở nhà, nếu không có lẽ đoạn từ Hồ gia đến đây cũng sẽ dễ dàng hơn một chút, bởi đi hai người bầu bạn thì dẫu sao cũng tốt hơn là một mình một ngựa xe, tâm sự chẳng biết phải tỏ với ai, cứ im lặng rồi chồng chất, làm nỗi lo sợ cứ càng lúc càng nhiều.

Xe đi chưa đến nửa canh giờ là đã vào đến Đại Nội, nhanh hơn là Tử Chi nghĩ. Bên ngoài, lão phu xe ra lệnh cho ngựa dừng lại, ngựa hí vang một cái rồi dừng hẳn. Nghe tiếng phu xe thông báo rằng đã đến nơi, tâm trạng lại càng hỗn loạn, chẳng biết đâu mới là cảm xúc của bản thân, là quá vui nên tim đập liên hồi hay vì lo lắng mà bụng như tự thả trăm ngàn mối tơ, đến cả tứ chi cũng không thèm nghe lời sai khiến, cứ mặc cho Tử Chi đang hồi hộp đến chết đi sống lại mà vẫn chân nhanh nhẹn đi ra khỏi xe.

Vừa đặt chân xuống, mắt lướt nhìn quanh, khung cảnh như lộng lẫy và to lớn choáng ngợp, mọi thứ cung kính nghiêm trang, lòng như thêm sợ, miệng định hỏi thăm nhưng vẫn không dám.

“Bẩm cô, đây là cung Diên Thọ - nơi ở của Thái hậu. Cô đứng đây chờ một lát sẽ có người đưa cô vào trong chánh điện.” – lão đánh xe nói.

Tử Chi không nói gì, chỉ cười gật đầu, sẵn tay đưa vài hào cho lão ta. Lão lật đật cúi đầu cảm tạ rồi quất ngựa đi ra khỏi cổng cung.

Rất nhanh sau đó, chắc là nghe tiếng xe ngựa đến trước cổng, đằng xa thấy có một người phụ nữ đang đi tới, Tử Chi hết vội vàng đứng thẳng, hai tay đặt trước bụng đường hoàng, trước đó tranh thủ chỉnh lại tà áo trước sau cho thêm phần chỉnh tề. Nhìn người đang tới đoán chắc cũng ngoài lục tuần, cô ta trang phục bình dị, nghĩ đây là nữ quan trong cung nên khi cô ta cúi người chào thì Tử Chi không nói gì mà chỉ gật đầu hành lễ.

Bà đi đến gần rồi nhẹ nhàng cất giọng “Chào tiểu thơ. Chẳng hay cô đây có phải là tiểu thơ họ Hồ, thứ nữ của ông Thượng bộ Học phải không?”

Tử Chi cúi nhẹ đầu thưa phải.

Bà cười nói “Tiểu thơ đến thật sớm, hai đức Thái hậu và Thái phi vừa mới tụng kinh xong. Mời tiểu thơ theo tôi đi vào trong, hai ngài mấy nay trông gặp cô nhiều lắm.”

Tử Chi chỉ cười mỉm đáp lại. Chẳng biết lời bà nói có thật hay không nhưng trong lòng nàng cũng thấy phần nào nhẹ hơn một chút.

Tử Chi dịu dàng hỏi “Dạ thưa, lần đầu gặp mặt, tôi không biết phải xưng hô với cô đây bằng tên chi?”

Bà đáp “Bẩm tiểu thơ, tôi là người hầu bên cạnh đức Thiên Thái hậu, tên là Doan nên tiểu thơ cứ gọi là cô Doan cho thuận miệng.” rồi mở cánh tay về hướng sau tấm trấn phong mà nói “Hai đức Thái hậu – Thái phi hẳn vẫn còn nghỉ ngơi một chút, cô đi theo tôi, chúng ta vào nhà Tả trà bên hông chánh điện ngồi đợi hai Ngài một lát, sau đó khi nghe lệnh tôi sẽ dẫn cô vào cầu thỉnh an.”

Tử Chi khiêm tốn lên tiếng “Dạ, tôi nhờ cả vào cô Doan.”

Cô Doan cười một tiếng rồi cô đi trước, Tử Chi nối gót theo sau, đi vòng qua bức bình phong để vào đến khuôn viên bên trong của cung. Có người đi cạnh lòng như bớt đi chút lo lắng, nhưng thâm tâm Tử Chi vẫn như thầm trách Hoàng đế sao không cùng mình vào trong đó mà khấu đầu bái lễ hai Ngài Thái hậu – Thái phi, có như vậy mới hết run sợ hoàn toàn, ngài ấy lại bỏ mình đi một mình như cảnh này đây. Nghĩ đến đó, đột nhiên cô tự thấy buồn cười vì chỉ mấy ngày trước thôi còn nức nở vì không được gặp người ta, giờ lại sắp được làm vợ người ta, sớm tối kề cận thì lại đâm ra giận dỗi vô cớ, quả là được voi đòi tiên. Sau suy nghĩ đó cảm thấy như tự mình trấn áp đi tâm trạng hồi hộp vì phải đối diện với hai người phụ nữ đứng đầu Nam triều, giờ đây bình tĩnh hơn, Tử Chi lại nghĩ đến Hoàng đế, nhưng không phải trách móc mà là để tự mình tiếp thêm sức mạnh.

Ngước nhìn lên trời, thấy đàn chim bay ngang, đó là điềm lành, Tử Chi thầm cười trong dạ, mong mọi chuyện hôm nay sẽ suông sẻ như ý.

Tất cả, giờ chỉ còn là những ngày hạnh phúc phía trước.

-o0o-


Trời đến trưa, buổi họp các quan đại thần vừa kết thúc tại Đông Các điện, ai nấy khi bước ra về cũng đều bơ phờ mệt mỏi sau cuộc họp quá dài này. Chung quy cũng chỉ tại mấy chính sách của tên Khâm sứ An Nam kia vừa đưa ra mà làm Hoàng đế phải triệu cả hội đồng Phụ chính đến sớm rồi ngồi bàn luận đến gần trưa. Lúc này, các quan đã về hết, chỉ còn mỗi Hoàng đế vẫn còn đang ngồi trong điện, tay xoa xoa thái dương, mắt nhắm nghiền, ngồi ngả ra sau ghế.

Nắng trưa hắt vào phòng họp qua mấy khung cửa sổ làm không khí nóng lên trông thấy nhưng Hoàng thượng cũng chẳng buồn ngồi né ra chỗ khác để tránh nắng. Cái bực bội của trời nóng này thì có so vào đâu so với nỗi bực bội của ngài dành cho mấy cái tờ yêu sách của bọn Pháp quốc kia? Cả một buổi sáng quần quật với mấy ông Phụ chính đại thần mà chẳng được tích sự gì, ngài thở dài rồi lắc đầu.

Thị nữ thấy cuộc họp đã kết thúc liền đi vào hầu Hoàng thượng. Cô ta đặt cái tách trà xuống bàn rồi nói :

“Bẩm Hoàng thượng, trà sâm ướp lạnh của Hoàng thái phi sai con đem qua, dặn dò Hoàng thượng họp xong rồi cũng nên uống một chút cho đỡ mệt.”

Ngài ừ rồi cầm tách trà mà uống một hơi, ít nhất thì cái mát của trà cũng làm ngài dễ chịu đôi chút. Đặt tách xuống, ngài đang định về Càn Thành điện nằm nghỉ một lát thì một tên thị vệ chạy vào tâu:

“Dạ bẩm Hoàng thượng, có anh Huỳnh của báo Đông Dương xin cầu kiến.”

Anh Huỳnh đến thật là đúng lúc, ngài cũng đang muốn gặp hắn nên đồng ý “Cho anh ta vào.”

Tên thị vệ kính cẩn “Dạ, tuân lệnh Hoàng thượng.” rồi chạy ra ngoài.

Một chốc sau, tên Huỳnh bước vào, quần áo chỉnh tề quỳ bài tạ rồi đứng lên.

“Miễn lễ, anh ngồi đi.” - ngài vừa nói vừa nhấp một ngụm trà.

Anh ta tạ ơn rồi ngồi chiếc ghế gần sát Hoàng đế.

Hoàng đế nhìn ra phía ngoài một chút rồi hạ giọng “Sao? Anh có tin tức gì mới cần bẩm tấu à?”

Anh Huỳnh gấp gáp nói “Bẩm Hoàng thượng, đúng vậy. Vừa ban sáng đến tòa soạn thì thần vừa nhận được một tin hết sức quan trọng liên quan đến…việc lập hội chống đối mẫu quốc tại nước ngoài.”

Hoàng đế ngồi thẳng, nhìn chăm chú “Đầu đuôi ra sao, mau cho trẫm nghe.”

Anh Huỳnh đáp “Thưa Hoàng thượng, một ký giả từ Bình Định đưa tin về tòa soạn rằng, ở Nhật Bản, một nhóm gồm các thành phần yêu nước mà đứng đầu là một người tên Phan Bội Châu đang ngày đêm lên kế hoạch khởi nghĩa để lật đổ Pháp quốc, tống bọn Chính quyền Bảo hộ ra khỏi Nam triều để giành quyền kiểm soát chính trị về tay triều đình. Hoàng thượng, đây chắc hẳn là một cơ hội lớn, chúng ta không thể bỏ sót.”

Hoàng đế thận trọng suy nghĩ một lát rồi nhẹ lắc đầu nói “Trẫm cảm thấy không mấy khả quan. Anh cũng thấy từ ngày trẫm lên ngôi đến nay, bọn Pháp kiềm cặp trẫm dường như mọi lúc chỉ bởi vì bọn chúng dè chừng, không muốn trẫm trở nên giống như Thành Thái đế ngày trước. Vì thế, liên lạc với những người trong hội khởi nghĩa trong nước đã khó, nay lại là người đang ở Nhật Bản, trẫm có mơ mới gặp được họ.”

Anh Huỳnh cao giọng đáp lời “Bẩm, nhưng điều quan trọng là hiện tại đang có một vài thành viên của hội tại Việt Nam, dù Hoàng thượng trước nay bị bọn chúng kiểm soát nhất cử nhất động, nhưng thần thì không. Nếu thần hiện tại bắt được liên lạc với những thành viên đó, chắc chắn sẽ là cơ hội tốt. Vả lại, những người này là những tri thức có tiếng, lại sinh sống nước ngoài, khả năng kinh tế cực kỳ mạnh, thần nghĩ những hoạt động của họ sẽ không dễ bị phát hiện, nếu chúng ta tham gia với tư cách hội viên, chắc chắn sẽ góp sức cho hội ngày càng mạnh, vì thế mà càng có cơ hội giúp Hoàng thượng thực hiện được ước mong lật đổ Pháp quốc của chính ngài bấy lâu nay.”

Nghe anh Huỳnh thuyết phục một lát Hoàng đế cũng cảm thấy có lý, chỉ là nếu mọi chuyện chợt đến một cách quá bất ngờ và suôn sẻ, thì đó biết đâu lại là điều chẳng lành. Thôi thì, không còn cơ hội để suy nghĩ, một khắc chần chừ có khi dẫn đến những điều không muốn, đành quyết định vậy.

Hoàng đế quay lại, chống hai tay lên bàn nghiêm túc nói “Thôi được, trẫm thuận ý theo anh. Anh phải quay về tòa soạn ngay lập tức. Nhiệm vụ của anh là tìm cách bưng bít thông tin đó không cho chúng lọt đến tai bọn nội gián của Toàn quyền Đông Dương. Thông tin không rõ ràng hẳn là giờ này chưa được lan truyền rộng rãi đâu. Anh phải mua chuộc tên phóng viên có thông tin này cho bằng được để hắn im miệng và giao việc viết bài cho anh. Nếu cần, Hoàng gia sẽ chi trả cho hắn đầy đủ. Hiểu chưa?”

Anh Huỳnh quả quyết “Dạ được, cứ giao cho thần.”

Hoàng đế hạ giọng, nói nhanh “Còn nữa, sau khi giành được quyền viết bài rồi, anh hãy mau mau đến ngay nơi phát ra thông tin, tìm cách liên lạc được với một trong các thành viên của hội bằng mọi giá. Và khi mà họ đã chịu tin anh rồi thì anh biết làm gì tiếp theo chứ ?”

Anh Huỳnh nghiêm giọng đáp “Dạ thưa Hoàng thượng, thần hiểu. Xin tuân mệnh.”
“Tốt lắm.” Ngài gật đầu “Thôi anh mau đi đi. Trẫm đợi tin tốt từ anh.”

Anh Huỳnh bái biệt rồi tức tốc ra khỏi điện. Nhìn theo anh mà lòng Hoàng đế chỉ cầu mong cho mọi việc như ý. Chính ngài cũng thấy, bản thân đã phải khổ sở như thế nào khi cứ bị bọn Khâm sứ kè kè bên cạnh, ngay cả bọn quan trong triều cũng đang ngả theo phe Pháp mà bất tuân lệnh Hoàng đế. Tình hình chính trị không rối ren, quyền lực Hoàng đề ngày càng như sông cạn mùa hạ, chỉ vơi chứ không đầy. Vì thế, chắc anh Huỳnh đã nói đúng, hội yêu nước này, có lẽ là cứu cánh cuối cùng của ngài.

Đang mông lung suy nghĩ thì tên thị vệ ban nãy chạy vào:

“Dạ bẩm Hoàng thượng…”

Ngài cắt ngang “Có chuyện gì, ai cầu kiến trẫm nữa hay sao?”

“Dạ không thưa Hoàng thượng. Vốn mấy hôm trước Hoàng thượng có dặn bọn thần rằng hôm nay là ngày tiểu thơ Hồ Tử Chi, con gái của ông Thượng bộ Học vào cung để cầu thỉnh an hai đức Thái hậu – Thái phi, khi nào tiểu thơ đến cung Diên Thọ thì báo với Hoàng thượng một tiếng.”

Từ sáng đến giờ quần quật với mấy tên người Pháp mà Hoàng đế quên mất chuyện hệ trọng này. Vừa sáng ra là ngài đã họp cùng các quan nên bọn thị vệ quan không dám vào báo tin này cũng phải. Ngài hỏi “Vậy à? Thế bây giờ cô ấy đã ra khỏi Đại Nội chưa?”
Tên thị vệ hồi đáp “Dạ bẩm, chỉ vừa mới ra khỏi cung Diên Thọ thôi ạ.”

Ngài gật đầu, nói cho có lệ “Ừ, trẫm biết rồi.” rồi lại nhìn ra hướng cửa phía ngoài điện như đang suy nghĩ.

Thấy Hoàng đế im lặng đã lâu mà vẫn chưa lên tiếng sai bảo, tên thị vệ cười rồi nhỏ nhẹ lên tiếng “Dạ, thưa Hoàng thượng, tiểu thơ bây giờ chắc cũng chưa ra đến cổng Hòa Bình, hay là thần…”

Hoàng đế lắc đầu, dửng dưng “Không, không cần đâu. Cứ để cô ấy về. Trẫm…không muốn gặp.”

Tên thị vệ tròn mắt nhìn Hoàng đế, nhưng sau đó cũng sợ thất thố mà giấu vẻ kinh ngạc, nói hai tiếng “Dạ rõ.” rồi nhanh chóng lui ra, để Hoàng đế một mình đứng trầm ngâm trong điện.


"Chương 6" bởi theboyofschool
( https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )


Đêm đã muộn, trăng vắt vẻo ngang trời, yên tĩnh cô liêu, Diệp Tâm sau khi xong xuôi việc trong phủ mới đi vào buồng nghỉ gần bếp, tắm rửa xong xuôi, bày gối ra rồi nằm ngay xuống tấm chiếu trải dưới đất, nhắm nghiền mắt. Lòng chợt sực nhớ đến việc còn chưa làm xong nên lồm cồm ngồi dậy, tay lấy từ trong túi ra một chiếc khăn nhỏ, màu tím thẫm nhìn tầm thường.

Ban chiều, cô hai – thiếp của cậu Bửu Đảo, chẳng may làm rơi lọ hương mà nhà mẹ tặng, nghe đâu phải mua từ tận Xiêm La, vô cùng quý hiếm. Nàng ta lỡ tay vương vài giọt trên sàn, lại thấy có Diệp Tâm ở cạnh liền sai đi lau sạch. Nhìn thấy thứ hương liệu quý đó, đời lại chưa từng được dùng thử nên lòng thấy tiếc, bèn lấy khăn tay từ trong túi ra thấm hết vào trong, sau đó giữ kỹ đến giờ không dám mang đi giặt.

Diệp Tâm giờ mới có lúc rảnh, cô cầm khăn lên, để gần mũi ngửi thử, quả là thơm thật, là hương của loài hoa tự nhiên, không nồng nhưng lại thấy được sự tinh tế, đầy công phu. Mỗi lúc nhìn trộm thường thấy cô hai cứ thường thoa lên người trước khi ra ngoài, đi ngang lại tỏa ra một thứ hương thơm khác lúc ban đầu, cậu Bửu Đảo cũng thích nên cứ khen mãi, lòng Diệp Tâm lại càng thấy thứ hương này kỳ diệu, nên định học lõm, sẵn tiện có hương ở đây, dù hương đã thấm vào khăn nhưng nếu đặt lên người thì hẳn là cũng có tác dụng tương tự, nghĩ vậy nên cứ thuận tay đưa lên cổ, lướt khăn đi khắp vòng quanh, cười tủm tỉm, tự quả quyết là mình giờ cũng như cô hai rằng có trên người mùi hương vô cùng quý phái.

Xong rồi, Diệp Tâm lại cất khăn vào túi, định ngả người xuống ngủ, thì chợt nghe có tiếng mở cửa ngoài trước, lúc ấy mới nhớ rằng tối nay cậu Bửu Đảo chưa về, cô liền đứng dậy rồi ra khỏi phòng chạy thẳng ra cửa trước.

Ra đến đó mới thấy, Bửu Đảo, chân tay loạng choạng, đi không vững, phải dựa vào bờ tường mà đi, Diệp Tâm vội chạy lại đỡ:

“Cậu Bửu Đảo, cậu sao vậy?”

Bửu Đảo chưa kịp trả lời, nấc lên một cái, hơi thở phả hơi rượu ra xung quanh, nồng nặc khó chịu. Diệp Tâm lắc đầu nói “Cậu say rượu rồi phải không? Mau đi vào trong, phòng cậu lại trên lầu cao, hay cậu mau đi vào phòng em tạm vậy.”

Bửu Đảo cũng không nói gì, chỉ gật gù, chẳng biết đây là phản xạ trong vô thức hay do thực sự đồng ý, Diệp Tâm cũng đành dìu anh ta đi vào buồng của mình, phải thật nhẹ nhàng vì không muốn đánh thức cả phủ dậy.

Đặt nằm xuống chiếu, để chân tay Bửu Đảo lại ngay ngắn xong xuôi, Diệp Tâm vội đi ra bếp vắt chút nước chanh cho anh giải rượu. Làm gấp gáp, trời lại tối nên nước chanh Diệp Tâm pha hơi chua quá độ, vừa uống vào một ngụm Bửu Đảo đã như muốn sặc, tay đẩy ra, mặt nhăn nhó, nhưng nhờ vậy anh cũng tỉnh táo phần nào, lưng dựa vào tường, miệng thều thào “Nước…chua quá. Không uống được.”

Diệp Tâm vội đáp “Vậy để em đi pha thêm đường, cậu đợi em nhé.”

Bửu Đảo lắc đầu nói “Không, không cần. Cho nước, ta khát.”

Diệp Tâm vâng một tiếng rồi gấp gáp chạy ra ngoài bếp, rót một cốc nước to, lại cầm thêm một khăn vải thấm nước ấm mang ngay vào buồng. Bửu Đảo uống hết nước, đặt ngay bên cạnh mình, được một lát sau chắc cũng đã đỡ say hơn, nhưng chắc uống quá nhiều rượu nên chưa tỉnh táo hẳn.

Diệp Tâm lấy khăn ấm lau quanh mặt, anh không mở mắt lên nổi nhưng cũng nhướn mi nhìn nàng người hầu, rướn người lên lấy hơi, nói ba tiếng “Em thơm quá.”

Diệp Tâm đỏ bừng mặt, hơi rụt người lại nói “Dạ, cậu quá khen, em…”

Bửu Đảo nói không ra hơi, nhưng vẫn hỏi “Là hương hoa dành dành, phải không?”

Diệp Tâm chớp mắt vài cái, nhớ lại đã từng tình cờ nghe Bửu Đảo khen cô hai rằng “Hương em thoa lên người, là hương hoa dành dành, thơm lắm, ta rất thích.”, giờ lòng không biết phải làm sao, Diệp Tâm e thẹn gật đầu “Dạ, thưa cậu, chính là hoa dành dành.”

Bửu Đảo không nói gì thêm, chỉ nhắm mắt, hơi đưa người lại gần Diệp Tâm, hít một hơi, làm ra mặt dễ chịu. Diệp Tâm cũng không cản, nhẹ nhích lại gần hơn, dịu dàng hỏi “Cậu, thích hương này lắm sao? Em không nhớ trước giờ từng nghe cậu nói qua.”

Bửu Đảo vẫn nhắm mắt, trả lời đơn giản “Trước không thích, giờ lại có.”

Nhìn thấy một giọt mồ hôi chảy gần khóe miệng của Bửu Đảo, Diệp Tâm nhẹ nhàng lấy tay trần định lau, chẳng ngờ Bửu Đảo đưa tay mình lên, nắm chặt lấy. Diệp Tâm bất ngờ bị động thủ, rụt nhẹ tay lại, miệng nói “Dạ thưa, cậu…”

Bửu Đảo vẫn không để tâm, dần đưa mặt vào cổ Diệp Tâm, nhẹ chạm da bằng mũi. Chiếc hôn khô khan, nhưng tê dại khắp người, tay chân Diệp Tâm như yếu đuối không còn chút sức lực. Bửu Đảo nhẹ nhào người về trước, cô cũng ngả ra sau, không phản kháng, lòng cũng không muốn phảng khán. Mắt giờ chỉ còn nhìn thấy khung cảnh đèn dầu lập lòe trong buồng, tối sáng bất định. Chợt nghĩ đến tình ý dành cho người ta bao năm giấu kín, kiềm nén, giờ như lửa bén rơm, càng như muốn thúc cho tất cả bùng cháy không thể dập tắt, Diệp Tâm cứ nằm im, mặc cho Bửu Đảo như đang từng cơn dâng trào dục vọng, vùng vẫy khắp nơi. Tay chân buông lỏng, đầu óc như quay cuồng, quên cả trần gian, giờ chỉ còn như gió, như mây, nhẹ nhàng, bay bổng lên tận trời đêm.

-o0o-


Cũng qua ba tháng kể từ ngày đầu tiên Hoàng đế nhận được tin mật đầu tiên về hội yêu nước tại Nhật Bản, trong chín mươi ngày qua, anh Huỳnh là người liên lạc chính giữa hai bên, trao đổi qua lại rất nhiều, nên anh ra vào cung thường xuyên còn hơn trước. Những người đứng đầu hội khi nghe Hoàng đế Nam triều là người chống Pháp, họ phấn khởi vô cùng, nhiệt tình cùng phía anh Huỳnh và Duy Tân đế bàn luận trước sau, thêm nữa hai bên đều có khả năng kinh tế, lại toàn là người trí thức, lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng, thế nên tin vui cứ dồn dập kéo đến không ngớt. Anh Huỳnh tí nữa sẽ vào chầu, báo cáo tin mới nhất, Hoàng đế cũng ngồi đợi tại Cần Chánh điện, hai tay đan lại nhau, chống lên chống trán và ngồi im lặng.

Thị vệ từ từ tiến vào, nghe tiếng bước chân của hắn nên hắn chưa kịp cất tiếng tâu thì Hoàng đế đã hỏi trước “Anh Huỳnh tới rồi, phải không?”

Tên thị vệ bất ngờ nhưng cũng cười kính cẩn nói “Bẩm, đúng vậy thưa Hoàng thượng. Vậy con gọi anh ta vào cầu kiến Hoàng thượng luôn phải không ạ?”

Hoàng đế gật đầu “Ừ, truyền anh ta vào.”

Một lát sau anh Huỳnh vào tới, hành lễ xong xuôi, liền nói ngay việc chính “Bẩm Hoàng thượng, bên phía Việt Nam quang phục hội vừa báo tin khẩn, tất cả đã chuẩn bị xong xuôi, ông Hữu Khánh sẽ ra cửa Tùng vào ngày 12 tới đây. Kỳ này, Hoàng thượng nên đi ra gặp trực tiếp ông ấy.”

Hoàng đế vẫn nhắm mắt, tay vẫn còn chống trên bàn, hỏi “Ông ta muốn gặp trẫm sao?”

Anh Huỳnh vâng một tiếng “Bởi ông ấy có nhắn rằng gặp trong Huế sẽ không tiện, lại có vật muốn đưa tận tay Hoàng thượng từ hai lãnh tụ của hội nên mong Hoàng thượng sẽ sắp xếp.”

Hoàng đế đồng ý “Ừ, trẫm biết rồi, chuyện này không khó.”

Anh Huỳnh mặt vẫn còn đang hứng khởi, chợt nhìn thái độ của Hoàng đế, cảm thấy hơi hụt hẫng, sau đó cũng lên tiếng bái biệt, Hoàng đế cũng không giữ anh lại, chỉ bảo “Ừ, anh về cẩn thận.”

Anh Huỳnh cũng không nói gì, quay đầu đi ra phía cửa được vài bước thì không kiềm lòng được, cúi người xuống hỏi “Bẩm Hoàng thượng…”

Hoàng đế nhẹ giật mình, chớp mắt nhìn lên hỏi “Sao? Anh còn việc gì cần tâu à?”

Anh Huỳnh ngập ngừng một chút rồi nói “Dạ, bẩm Hoàng thượng, không phải vậy. Thứ cho thần nhiều lời, chẳng hay hôm nay Hoàng thượng có việc gì không vui chăng? Những lần trước khi nhận được tin tức thì phía hội, sau bao khó khăn thì mọi chuyện cũng đã gần đi đến hồi kết mà Hoàng thượng mong chờ, Hoàng thượng mỗi lần nghe tin đều rất vui mừng, nhưng dường như dạo gần đây,…”

Hoàng đế dửng dưng “Thấy trẫm không còn có vẻ hào hứng nữa, phải không?”

Anh Huỳnh cười nói “Dạ, cũng không hẳn là vậy, chỉ là thần nghĩ Hoàng thượng chắc phải có lý do mới cảm thấy sầu não, không biết, thần có được diễm phúc được nghe hay không thôi.”

Hoàng đế đặt tay xuống bàn, mắt nhìn thẳng anh Huỳnh, hạ giọng hỏi “Được. Cũng coi như anh là người bằng hữu thân cận nhất của trẫm. Mà đã là bằng hữu, thì đều phải nói thật. Vậy, trẫm hỏi anh, anh có tin tưởng hoàn toàn vào việc kỳ khởi nghĩa này sẽ đại thành công hay không?”

Anh Huỳnh bị hỏi bất ngờ, nhưng cũng nhanh chóng trả lời, giọng hơi đanh lại “Dạ, nếu đã không kỳ vọng gì vào việc thành công, thì thần nghĩ cả thần và Hoàng thượng đều không dám dấn thân vào ngay từ đầu.”

Hoàng đế nhẹ nhàng nói “Anh bảo ‘kỳ vọng’, có nghĩa là vẫn chưa tin hoàn toàn. Cả trẫm và anh đều tự biết rõ trong lòng mình, kết cuộc của kỳ khởi nghĩa này, cũng vẫn chỉ là nửa phần chắc chắn, nửa phần không.”

Anh Huỳnh hít một hơi sâu, giọng nghi hoặc “Bẩm, vậy, nghe lời nói của Hoàng thượng, có chăng là thần đoán nhầm, hay đúng thực là Hoàng thượng như đang có ý rút lui?”

Hoàng đế cười nửa miệng, lắc đầu nói “Trẫm không hồ đồ, và trẫm cũng không bao giờ có ý đầu hàng. Trẫm chỉ nghĩ đến một ngày nếu mọi chuyện có xảy ra theo nửa phần không may mắn đó, thì số phận của trẫm…chắc cũng không khác gì một tên nô lệ.”

Anh Huỳnh giọng như cao lên, nói “Vậy, Hoàng thượng đang sợ chính mình sẽ đánh mất ngai vàng hay sao?”

Hoàng đế không tức giận, giọng vẫn bình thản “Trẫm làm một nô lệ cũng chẳng sao, vì đó là điều mà trẫm chấp nhận. Nhưng, cái mà trẫm lo là…”

Xong ngài đứng dậy, vòng qua bàn, tay cầm lên một bức thư, giơ lên cho anh Huỳnh xem, hỏi “Anh có biết đây là thư của ai không?”

Dù không hiểu thâm ý của Hoàng đế nhưng nhìn kỹ xấp thư, nhìn lại quá quen thuộc, anh vẫn trả lời “Dạ, thần đoán không lầm thì đó là thư của tiểu thơ Tử Chi gửi cho Hoàng thượng?”

Hoàng đế gật đầu, quay ra nhìn bên ngoài cửa sổ, nghiến răng nói “Anh biết không, em ấy mấy hôm trước viết cho trẫm rất nhiều. Em ấy kể, em không thể chờ được ngày cùng trẫm se duyên, cũng không thể chờ được lúc cùng trẫm chính thức thành vợ chồng, em ấy bảo, em sẽ là một dâu thảo, sớm chiều chăm sóc cho hai đức ngài…Rõ ràng, em ấy, đang rất hạnh phúc.”

Anh Huỳnh cười, nói “Tiểu thơ luôn luôn ngây thơ và yêu đời như vậy, thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế cười giễu một cái “Đúng, Tử Chi luôn luôn như vậy, luôn mơ mộng một cuộc đời hạnh phúc bên cạnh trẫm. Còn trẫm, anh đoán thử xem, rốt cuộc sau này trẫm sẽ là ai? Một tên phế đế, cuộc đời bị giam cầm, không hơn, không kém. Vậy trẫm thử hỏi anh, cả đời bên cạnh trẫm, em ấy còn có hạnh phúc không?”

Anh Huỳnh không cười nữa, mặt nghiêm nói “Nhưng Hoàng thượng, đó là chỉ khi tất cả đều bị thất bại. Xin Hoàng thượng đừng quá bi quan, rõ ràng hội đã được chuẩn bị rất kỹ và…”

Hoàng đế cắt ngang lời anh nói “Vậy, nếu thất bại, thì số phận của Tử Chi, sẽ như thế nào? Anh nghĩ em ấy có thoát được con đường làm vợ của một phế đế, bị tù hãm cả tuổi xuân hay không?”

Anh Huỳnh nhẹ giọng an ủi “Ai cũng có thể thấy rõ ràng cô ấy yêu Hoàng thượng say đắm, và thuần khiết. Một khi cô ấy đã quyết định, thì dù Hoàng thượng có ra sao đi nữa, cô ấy vẫn sẽ không bao giờ hối hận.”

Hoàng đế chau mày “Nhưng trẫm thì hối hận. Trẫm hối hận vì ngay từ đầu, đáng lẽ ra chính trẫm phải là người kết thúc mọi chuyện mới phải.”

Anh Huỳnh cả kinh “Dạ, thứ cho thần phải nói thẳng, nhưng mà bây giờ, tất cả hôn sự của Hoàng thượng chỉ còn mỗi một cuộc đại hôn nữa là…”

Hoàng đế lãnh đạm nói “Chính vì tất cả vẫn chưa là kết thúc, nên trẫm mới phải là người kết thúc, ngay bây giờ.”

Anh Huỳnh cố thuyết phục “Nhưng thưa Hoàng thượng, nếu như có một kết thúc như Hoàng thượng nói, thần nghĩ tiểu thơ…cô ấy…làm sao cô ấy chịu nổi khi nghe tin dữ?”
Hoàng đế nhắm mắt, nói nhẹ nhàng “Còn hơn là em ấy chết già bên cạnh một phế đế như trẫm.”

Anh Huỳnh còn chưa kịp nói thêm gì thì Hoàng đế liền đuổi khách “Trẫm đã mệt rồi, và trẫm cũng đã có quyết định của bản thân. Anh về đi, nhớ cẩn thận. Nếu có tin tức gì mới thì báo trẫm hay.”

Anh Huỳnh nghe lệnh, cũng không dám kháng chỉ, anh chỉ lẳng lặng cáo từ rồi lui khỏi Cần Chánh điện. Để lại một mình Hoàng đế với nỗi lòng đau đớn, tịch mịch và mông lung, vô bờ vô bến.

-o0o-


Thu đến làm vàng úa cả cành lá cây trước nhà, trời hôm nay biến sắc, chỉ mới giữa trưa mà mây đen nhiều vô kể, nhìn thấy cảnh, lòng cũng không vui. Như thói quen mỗi ngày, Tử Chi ngồi bên cạnh cửa sổ, nghe tiếng gà trưa đâu đó vọng vào, tay nhẹ lật từng trang sách đọc cho bớt rảnh rỗi. Xung quanh hơi nóng, nhưng cô cũng không muốn nằm, chẳng biết tại sao.

Sáng nay ông Thượng được triệu vào Nội khá sớm, nghe đâu là việc gấp của Hoàng đế, đến giờ vẫn chưa về. Chợt nghe tiếng xe ngựa vang lên, nghĩ là ông về, Tử Chi liền buông sách mà chạy ra ngoài đón cha.

Vẫn chưa kịp hỏi thăm, ông vừa mở cửa bước vào trong sân là thấy Tử Chi, ông bảo “Tử Chi, vào trong phòng ta.”

Chẳng biết sao cha lại gấp như vậy, Tử Chi không nói gì mà chỉ nghe theo. Trên đường gặp bà mệnh phụ đang định gọi vào ăn cơm, ông cũng bắt đi vào phòng. Thấy có vẻ nghiêm trọng, nghĩ là chuyện lớn, Tử Chi hồi hộp nhìn mẹ rồi nối gót cha đi vào phòng.

Cả ba vừa bước vào, ông Thượng đóng cửa lại, tay run run buông then cài xuống, từ từ quay lại hướng Tử Chi cùng bà mệnh phụ, mắt vẫn không nhìn hai người, chân mày chau lại, mặt đăm chiêu. Bà mệnh phụ thấy lạ, cất tiếng hỏi trước:

“Vừa về đến nhà đã gọi tôi và con vào đây, chẳng lẽ Hoàng thượng có tin gì về chuyện đại hôn của con mình sao?”

Ông Thượng chớp chớp mắt, nhìn bà rồi gật đầu “Ừ. Là chuyện của con gái mình.”

Nghe đến đó, Tử Chi thấy lồng ngực đập hơi nhanh, thấy thái độ của cha, nghĩ là chuyện không tốt, nhưng không muốn thất thố, chỉ đứng đợi mẹ hỏi. Bà mệnh phụ sốt ruột hối thúc “Thế thì đó là chuyện gì, sao ông cứ nói như không nói.”

Ông Thượng cũng không vội, mặt càng đăm chiêu hơn, hít một hơi sâu, cố gắng kiềm nén giọng nói như muốn khóc của mình, chậm rãi nói “Hoàng thượng gọi tôi vào để nói rằng,…muốn từ hôn với con gái chúng ta, Tử Chi.”

Như có thứ gì đó vô hình trào dâng lên từ đáy lòng, chạy đến cuống họng, rồi bóp nghẹt của đầu óc, mắt Tử Chi như không còn thấy gì trước mặt nữa, chỉ mở to như một phản xạ, đôi tai như không muốn tin vào điều nó vừa nghe, tất cả giác quan như muốn thét lên rằng những thứ cha mình vừa nói là dối trá.

Bà mệnh phụ điếng người, lấy tay che miệng, cản không cho bản thân phải thốt lên vì quá bất ngờ, bà hỏi, đôi môi như không chạm đến được nhau, chỉ ngập ngừng ú ớ “Ông…từ hôn…không…không thể nào.”

Ông Thượng vành mắt cũng gần như đỏ hoe, cố lấy hết tất cả can đảm của bản thân, giọng như bóp nghẹn, nói “Hoàng thượng không nói rõ lý do, chỉ nói tôi cố an ủi Tử Chi, đừng để nó buồn tội nghiệp.”

Tử Chi nghe trong tim như có tiếng vỡ nát thành từng mảnh, mọi thứ xung quanh hệt như có một cơn bão vừa đi qua, cảm thấy trống trơn, tan tác. Cơn sóng bên trong cứ dâng trào, không kiểm soát rồi hai dòng lệ cứ tuông trào như mưa bay, ướt đẫm đau thương. Lòng giờ chỉ gào thét hai chữ “Tại sao?”, đến cả lý trí như vẫn còn đâu đó không muốn tin, vẫn dùng chân mà chạy ngay đến Đại Nội rồi hỏi, chỉ là, bây giờ chợt như quá quá mệt mỏi, không còn chút sức lực để làm, chỉ còn muốn đứng mãi tại chỗ rồi tan biến thành hư không.

Ông Thượng nắm tay con gái, cố gắng để mình cứng rắn nhất có thể, nói “Thôi. Không sao đâu. Hoàng thượng chắc cũng có điều khó nói. Con cũng gởi trả Hoàng thượng đôi bông tai cùng mấy món trang sức nọ, cha đi trả người ta. Mình mà cứ giữ, thì…không tiện lắm.”

Lời ông nói ra, có lẽ lại như ghim vào trong đáy lòng cho Tử Chi thêm đau khổ, tủi thân. Gương mặt hiện tại có lẽ đang đau khổ khó coi lắm, mấp máy môi, Tử Chi chỉ nhẹ gật đầu rồi bật ra được vài tiếng “Con…không khỏe. Con đi vào phòng một chút.”

Bà mệnh phụ định nắm tay con mình lại, nhưng khi thấy ông Thượng lắc đầu cản, bà cũng đành mặc con mình đi từng bước một, cố giữ người cho vững, từ từ ra khỏi đó mà lẳng lặng, không nói thêm lời nào.

Gió thu buồn tẻ, se se, đưa vài đám mây đến, nhưng không còn trôi lững lờ vô tư bất định như những ngày ở cửa Tùng hôm đó, mà lại chầm chậm, màu xám đen, rồi một giọt, hai giọt, lát sau trời cũng đổ mưa sau bao ngày đầy nắng. Giông tố như kéo đến từng đợt, trời cũng nổi vài trận cuồng phong, tiếng sét băng ngang dọc từng hồi, cảm giác như cùng tiếng lòng gào thét dữ dội.

Mưa to đến đâu, vần vũ một trận rồi cũng tan.

Tử Chi lúc này mới ngước mắt nhìn quanh căn phòng, tay vẫn còn gác lên giường, cả thân ngồi lên nền đất lạnh, có lẽ giờ đây trời cũng đã tối. Kể từ lúc đi như một cái xác vào đây, cô không biết mình đang ngồi ở đâu, chỉ là thấy một thứ có thể tựa vào rồi quỳ xuống đó mà khóc. Cô gác đầu lên tay, thấy hơi ướt, tấm vải nệm đang đẫm nước mắt, bụng không thấy đói, chỉ thấy mệt.

Có tiếng mở cửa, Miên Thanh nhẹ nhàng bước vào, tay bưng mâm cơm, không nói gì, chỉ đặt nhẹ lên bàn, rồi quỳ trên sàn cạnh Tử Chi, nắm cánh tay cô mà nghẹn ngào gọi hai tiếng “Tiểu thơ.”

Tử Chi cất giọng vô cảm xúc “Em cứ để đó đi, nếu đói, ta sẽ ăn.”

Miên Thanh giờ cũng khóc, tay lau nước mắt chậm rãi nói “Tiểu thơ, em xin cô đừng buồn, cô mà cứ như thế này, ông bà sẽ không sống nổi.”

Tử Chi cố nuốt đắng cay, nói “Ta không biết lòng ta bây giờ đang buồn, hay là đang thất vọng. Thất vọng vì những mơ mộng của cả tuổi xuân, giờ lại bị người mà ta tin tưởng đập nát, tan tành, vỡ vụn. Người ta hứa điều gì thì cũng tin là thật, bảo bên nhau trọn đời thì cũng tin là thật, bảo không bao giờ muốn rời xa, thì cũng ngu muội tin là thật…Chung quy lại, cũng là ta mãi mãi thơ ngây rồi.”

Rồi Tử Chi bật cười nhẹ, như tự giễu bản thân “‘Vĩnh San tôi đây chưa bao giờ thất hứa’. Quả thật là lời nói gió bay, thế mà bao nhiêu năm qua ta lại cứ bám víu vào đó để mà tự an ủi bản thân. Vậy là…ngài ấy cũng đâu có làm gì sai, chỉ có mỗi một mình ta là ngu ngốc vì tin người ta cả đời rồi, phải không em?”

Lời nói tuông ra khi dòng lệ cạn khô trên khóe mắt. Tử Chi, có lẽ không còn sức để khóc nữa, chỉ còn mỗi một khoảng trống, đen tối và vô tận đến nhói đau.

Miên Thanh buồn bã lắc đầu nói “Em không tin là Hoàng thượng lừa dối tiểu thơ. Xét cho cùng, người thương tiểu thơ nhất, là Hoàng thượng.”

Tử Chi cười lạnh “Người yêu thương nhất…Có lẽ ngài ấy vẫn còn đang yêu thương một thứ gì đó lớn hơn cả ta, vì đến cuối cùng, ta cũng chỉ là một cô bé mơ mộng trên bãi biển dạo nọ, vẫn không phải là người mà ngài sẽ ấy chọn.”

Miên Thanh hạ giọng, hỏi “Tiểu thơ không định hỏi Hoàng thượng lý do sao?”

Tử Chi nhẹ lắc đầu “Nếu người muốn nói cho ta biết lý do, thì người đã không im lặng mà khước từ. Ta không muốn gặp, cũng không có lý do để gặp. Nhìn thấy nhau rồi, cuối cùng có lẽ cũng chỉ có một mình ta là đau khổ, bẽ bàng. Ta tự thấy mình đã đáng thương lắm rồi, không cần phải được người ta vì nhìn thấy bộ dạng này mà thương hại, mà nói lời xin lỗi.”

Miên Thanh vừa nói “Tiểu thơ, nhưng mà…” thì Tử Chi liền nhắm mắt, chán nản nói “Thôi, em cứ để cơm ở đó, khi nào ta dùng xong sẽ gọi. Em cũng nghỉ ngơi sớm đi, đừng để vì ta mà thức khuya.”

Miên Thanh hiểu rằng Tử Chi muốn ở một mình, không nói gì thêm, chỉ vuốt nhẹ tay của Tử Chi rồi đi ra bàn, rót ra một tách trà để sẵn, bày chén đũa ra rồi nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng, để lại cho mọi thứ vây quanh đây giờ chỉ còn là bóng tối, sự cô đơn và nỗi đau không khi nào dứt.


"Chương 7" bởi theboyofschool
( https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )



Bửu Đảo ngồi trong phòng, ngã người ra sau ghế, lần lượt vuốt từng cánh hoa cầm trên tay với mắt nhắm lại như đang ngủ. Được một lúc thì một gia nhân chạy vào thưa “Bẩm cậu, có người tự xưng là Lê Lương đang ở dưới cổng, tỏ ý muốn gặp.”

Bửu Đảo nghe vậy liền tỉnh dậy ngay, chớp mắt vài cái cho tỉnh rồi đồng ý “Ừ, cho hắn vào.”

Thoáng sau, từ phía hành lanh bên ngoài, một giọng lanh lảnh cất lên “Dinh thự rộng lớn thế này, sau này mi để lại cho ta ở tạm có được không ‘cậu’ Bửu?”

Bửu Đảo thần sắc vẫn không lay chuyển, một tia chán ghét lóe lên nói “Mi có tin tức gì thì mau báo nhanh, ta không muốn dây dưa.”

Tên Lê Lương vừa đi vào phòng đã ngồi chễm chệ trên bàn chỗ Bửu Đảo đang ngồi, cười khoái trá “Khách đến nhà không trà thì nước, hà cớ gì mi lại đuổi ta đi sớm như vậy, ta còn chưa được uống một chung trà cùng ‘cậu’ Bửu cơ mà.”

Bửu Đảo hít một hơi thật sâu kiềm nén, rồi lệnh “Người hầu đâu?”

Tên gia nhân ban nãy chạy nhanh vào, cúi người nói “Dạ bẩm, cậu cần thêm gì ạ?”

“Đem vào cho ta một bình Tuyết cổ thụ.” Bửu Đảo chán nản nói.

Lê Lương cười khoái trá “‘Tuyết cổ thụ’? Chẳng phải là một trong ‘Thập trứ danh trà’ hay sao? Cậu Phụng Hóa quả là mến khách. Có vẻ như không giống cái cuộc sống bần hàn của ‘cậu’ ngày trước lắm?”

Bửu Đảo cố xem những gì hắn nói như gió thoảng bên tai, chỉ lạnh lùng nói “Trà cũng đã pha, người cũng đã tới. Công việc của mi là nói cho ta biết tất cả những chuyện của tên Hoàng đế kia, đừng nhiều lời.”

Lê Lương vuốt hàm nói “Tiền trao cháo múc, Lê Lương này tuy miệng mồm xảo trá nhưng rất uy tín. Nếu mi đã đưa tiền cho ta nhiều đến như vậy, thì dù mi có muốn biết trên đầu Duy Tân có bao nhiêu sợi tóc, ta cũng sẽ tìm ra.” Rồi chợt quay sang nói nhỏ như thủ thỉ “Nhưng mà nói gì thì nói, mi đừng tưởng ta không biết tiền của mi đưa cho ta hôm nọ là ở đâu ra nhé.”

Bửu Đảo nín thở, liếc nhìn lên hắn, răng nghiến vào nhau, nhướn mày đáp “Tiền của nhà vợ ta, dù không muốn nhưng ta cũng phải mượn, nếu mi đã biết thì hãy liệu hồn mà im miệng, không chút liên quan đến mi.”

Lê Lương vẫn chưa chịu buông tha, vỗ tay bôm bốp “Vậy là tin tức của ta không hề sai.” rồi chỉ tay ra ngoài cửa nói “Không ngờ có một ngày ngài Phụng Hóa công sĩ diện ngất trời này lại phải ngửa tay ra xin tiền vợ cả của mình để mua thông tin từ một tên nhà báo bị đuổi như ta. Quả là người tính không bằng trời tính.” nói xong hắn lắc đầu tấm tắc “Chả trách sao nhà vợ mi thương con gái mình nhiều năm chịu khổ, đổ tiền cho mi sửa sang lại cái chỗ khỉ ho cò gáy này, có tiền thuê thêm gia nhân, lại có trà ngon mà uống. Mi hẳn đã phải tu mấy kiếp đấy ‘cậu’ Bửu ạ.”

Nói rồi hắn tự bật cười như điên loạn, vừa lúc đó gia nhân bưng trà vào, đặt ngay ngắn lên bàn rồi cẩn thận rót cho mỗi người một tách, xong lui ra phía ngoài.

Bửu Đảo không đụng một ngón tay đến tách trà, gương mặt càng lúc càng khó coi, nhìn đăm đăm vào Lê Lương vừa khoái chí uống trà, vừa hít hà khen lấy khen để.

Thấy hắn vừa uống xong, đặt tách trên bàn, Bửu Đảo nói, giọng mất kiên nhẫn “Trà cũng đã uống xong, bây giờ mi đã có thể báo tin được chưa?”

Lê Lương làm vẻ mặt miễn cưỡng “Thôi được, thôi được. Ta vào chuyện chính như ý của mi vậy.” gương mặt hắn lúc nói chuyện nghiêm túc nhìn gian xảo cực kỳ, ánh mắt sắc bén và nhỏ tí làm hắn càng trở nên có vẻ điêu ngoa “Quả là ta có tin mật mới đến đây. Mi có biết lý do tại sao Thành Thái đế lại thoái vị, nhường ngôi cho Duy Tân hay không?”

Bửu Đảo dửng dưng nói “Không, tên Hoàng đế đó thì có liên quan gì đến chuyện đại sự của ta?”

Lê Lương vẫn hết sức bình tĩnh, giọng điệu như hát “Tất là có chuyện liên đới đến hắn ta mới phải đến đây, mi nghĩ ta rỗi việc đến độ đi một quãng hơn mười dặm chỉ để cùng mi thưởng trà thôi sao?” rồi hắn nói, rõ từng câu từng lời “Để ta nói cho mi biết, Thành Thái đế chính là bị ÉP phải thoái vị chứ không phải là vì bất kỳ lý do nào mà mi nghe từ của triều đình đã ban bố dân chúng. Những kẻ mà đã bắt hắn thoái vị không ai khác là Chính quyền Bảo hộ, vậy thì theo mi, lý do để hắn bị buộc phải từ bỏ ngai vàng chính là gì?”

Bửu Đảo mắt vẫn nhìn chăm chăm vào Lê Lương, lòng cũng thấy bản thân đã từng tự hỏi tại sao Thành Thái lại đột ngột thoái vị, nhưng cũng chưa từng để tâm, hôm nay được dịp nhắc lại, dù bất ngờ nhưng vẫn phỏng đoán vài phần, nghi hoặc hỏi “Là vì hắn dám chống lại bọn Pháp?”

Lê Lương như bấn loạn hét toáng lên một tiếng “Chính xác.” rồi nói tiếp “Là vì hắn dám thầm lặng lập cả một đội quân sau lưng bọn chúng. Và cuối cùng, như tất cả chúng ta đều thấy, chuyện mà hắn làm tưởng như không ai có thể bị qua mắt đó lại có thể bị phát hiện, để kết cục là, dù mi có làm vua của Nam triều nhưng dưới cái gọi là Chính quyền Bảo hộ, mi cũng sẽ không khi nào có thể tự do mà quyết định tương lai của ngôi báu mình đang ngồi, bảo thoái vị thì mi cũng phải ngoan ngoãn mà nghe theo.”

Hắn ghé sát tai của Bửu Đảo, vờ như sợ ai nghe thấy điều hắn sắp nói “Và tên Duy Tân kia cũng như vậy.”

Bửu Đảo nheo mắt “Ý mi là công việc của chúng ta bây giờ phải là nghĩ ra kế để bọn Pháp lật đổ tên Duy Tân đế sao?”

Lê Lương cười sằng sặc “Nghĩ ra kế gì à?” rồi bỗng mặt co lại nhăn nhó “Mi tưởng rằng ta vô dụng đến như vậy sao? Như đã nói, ta đã phải chuẩn bị kỹ rồi mới đến gặp mi.”

Hắn ngưng một chút rồi quay đầu lại, ngân nga “Duy Tân đế cùng cha của hắn, tức là tên phế đế kia, không hề hợp ý nhau, ngay từ lúc nhỏ đã như vậy. Nhưng, hắn cùng cha của hắn đều giống nhau ở một điểm: đó là căm thù bọn Pháp đến thấu xương. Vậy thì, mi có thể đoán được xem kết cục của bọn chúng có giống nhau hay không?”

Bửu Đảo cau mày lại, lườm tên Lê Lương, hỏi “Ý của mi, nếu ta đoán chẳng lầm, đó chính là tên Duy Tân cũng đang ủ mưu lập một quân đội để chống lại Chính quyền Bảo hộ.”

Lê Lương tặc lưỡi, lắc ngón tay trỏ chìa ra chế giễu “Không không ‘cậu Phụng Hóa công’ ạ. Hắn ta liều lĩnh và thông minh hơn cha hắn nhiều. Âm mưu của hắn chính là cùng với những kẻ muốn tổ chức khởi nghĩa tại nước ngoài, liên kết nhau rồi cùng nhau làm nên một trận đánh tan bọn Pháp.” rồi hắn chặn họng ngay Bửu Đảo trước khi anh kịp lên tiếng “Và mi đừng hỏi vì sao ta lại biết và có thể quả quyết như vậy, đó là bởi vì ngay từ ngày đầu tiên mi tìm đến ta và cố gắng mua chuộc mọi thông tin từ ta về tên Duy Tân kia, ta đã nói cho mi rồi, rằng chỉ vì hắn muốn giữ bí mật thông tin này không bị tràn lan ra ngoài mà sai người bỏ tiền mua chuộc chủ toà soạn, đá ta ra khỏi đó và dành quyền viết bài cho tên Huỳnh thân cận với hắn, làm ta trở thành một kẻ thất nghiệp không còn đường lui.”

Bửu Đảo cười lạnh “Thế ư? Vậy mà ta lại không nhớ, thật tiếc cho mi.” rồi ngay lập tức quay lại chuyện ban nãy, vừa ung dung cầm tách trà của mình lên vừa hỏi “Lê Lương này, gặp được tên Khâm sứ tại An Nam, có là bất khả thi không?”

Tên Lê Lương như không còn chịu nổi, hắn cười sặc sụa, nói không kịp lấy hơi “Mi…định gặp Khâm sứ An Nam sao? Mi định lập công với người Pháp à? Ôi thôi đừng ‘cậu’ Bửu ơi, ta chết mất. Ta nào có ngờ người bạn học cũ của ta lại là một tên hám danh như vậy.”

Bửu Đảo không để tâm, hớp một ngụm trà, nhẹ nhàng nói “Một khoản tiền ngang ngửa với khoản ta đưa cho mi ngày hôm đó, đã đủ chưa?”

Lúc này Lê Lương liền thay đổi sắc mặt, không còn cười như điên loạn nữa mà làm một khuôn mặt cung kính, hai bàn tay xoa nhẹ với nhau tỏ ý ngại ngùng, thấp kém, giọng nói giờ đây nhỏ nhẹ tôn sùng “Ồ ồ, dạ bẩm cậu Bửu Đảo, kẻ bề tôi này tha thiết được cậu sai bảo, đến chuyện lăn lộn vào hoàng cung cực khổ vì cậu mà moi tìm từng tin tức nhỏ nhặt đem về cho cậu thì tôi còn làm được, huống chi là..là gặp được ông Khâm sứ. Dạ bẩm, chuyện sẽ dễ như trở bàn tay thôi ạ.”

Bửu Đảo nhoẻn một nụ cười “Từ đây đến lúc mi tìm cách cho ta gặp được tên Khâm sứ, ta muốn mi phải tìm theo thông tin về việc tên Duy Tân và bọn người đồng lõa với hắn đã tiến triển cuộc khởi nghĩa đến đâu rồi, có như vậy thì thông tin của ta đưa cho tên Khâm sứ mới đáng giá. Mi hiểu chứ?”

Lê Lương cười hì hì “Dạ, lời cậu nói như vàng như ngọc, tôi nào có dám không tỏ. Nhưng tôi chỉ thắc mắc là…chẳng hay cậu…”

Bửu Đảo nhắm mắt, chống tay lên thái dương mệt mỏi nói “Tiền ta sẽ gọi người mang đến cho mi sau. Nếu mi còn hỏi nữa, ta tuyệt sẽ không chi một đồng nào cả. Xong liếc mắt ra cửa nói “Còn bây giờ, mi về đi.”

Lê Lương vờ hốt hoảng rụt hai tay lại, co người bước lùi, nói “Dạ, bẩm cậu, tôi sẽ ra khỏi đây ngay để cho cậu nghỉ ngơi, không dám phiền cậu nữa. Mà tiện thể, tôi có phần phúc nào được uống thêm một ngụm trà nữa được không ạ, nó quả thực là…”

Bửu Đảo chán ghét tận cùng, gằn giọng “Đi mau lên trước khi ta đổi ý.”

Lê Lương làm tiếng khóc nấc, vội vội vàng vàng bước nhanh ra khỏi phòng, vừa đi vừa nói “Dạ, thưa cậu, tôi không dám cãi, tôi sẽ đi ngay đây ạ.”

Thấy hắn ta đi rồi, đợi đến khi im tĩnh hẳn, Bửu Đảo mới thở dài một cái mệt mỏi, cầm bông hoa lên để sát mũi ngửi. Hương dành dành thơm ngát, đầu óc cũng bớt phần nào căng thẳng, cảm thấy dễ chịu đi nhiều.

Nhớ lại bộ mặt của tên Lê Lương đó, Bửu Đảo như muốn dẫm nát hắn ra vì căm ghét bộ mặt của hắn, nhưng vì chuyện lớn, anh không thể không nhờ vả hắn, lại còn phải chi tiền cho hắn. Hắn là một tên nhà báo lâu năm, lại dám lăn xả bất chấp để đi lấy tin, cộng thêm bản chất đê tiện sẵn có, mọi chuyện trên thế gian chỉ cần hắn muốn biết thì sẽ trước sau tìm ra được chân tướng thậm chí bằng những cách đồi bại nhất. Một tên ti tiện như vậy lại có thể khống chế được bản thân mình, Bửu Đảo thầm nghĩ, hắn trước sau cũng sẽ có ngày bị mình làm cho sống dở chết dở, chỉ là bây giờ chưa phải lúc.

Đang nhắm mắt suy nghĩ thì một gia nô chạy vào nói “Bẩm cậu, cô tư không biết làm sao lại đau bụng nhiều, mười phần khó chịu. Cậu đi xuống xem như thế nào ạ.”

Bửu Đảo hoảng hốt hỏi “Hai bà đâu? Hai bà đã biết chưa?”

Tên kia trình “Dạ bẩm, bà Hoàng thì đi chùa cùng cô cả, cô hai, cô ba, còn bà Hòa tần thì đang ở dưới buồng cô tư ạ.”

Bửu Đảo đứng dậy vòng qua bàn, nhăn mặt nói “Diệp Tâm hôm qua vẫn còn khỏe, sao hôm nay lại…?”

Tên kia thưa gấp “Dạ, bẩm cậu, ban sáng con có thấy bà Hòa tần sai cô tư xuống bếp nấu cơm dù cô tư nói rằng hôm nay hơi đau nhức người, nên con nghĩ…”

Bửu Đảo đưa tay ra “Thôi, mi không cần nói nữa, ta hiểu rồi. Mi mau đi mời thầy lang về đây, ta sẽ xuống xem tình hình của Diệp Tâm.”

Tên kia vâng dạ rồi cả hai cùng rời khỏi phòng, nhanh chóng đi xuống phía dưới nhà.

Phòng của Diệp Tâm, theo lệnh của bà Hòa tần, vẫn phải ở ngay chỗ cũ dù nay đã được cái danh gọi là “cô tư” trong nhà. Bửu Đảo không khuyên được mẹ mình, nên lệnh cho người đến sửa sang lại phòng một chút cho đỡ tồi tàn, còn bê cả một chiếc giường vào trong phòng, không để Diệp Tâm phải nằm chiếu đất nữa, dù vậy nhưng xung quanh tất vẫn còn những nét tối tăm, cũ kỹ.

Vừa bước đến đầu gian bếp đã nghe tiếng Diệp Tâm phía bên trong rên rỉ đau đớn, đi vào trong thì thấy sắc mặt Diệp Tâm còn khó coi hơn, đổ mồ hôi rất nhiều vì cố gắng kiềm nén cơn đau. Một hai người hầu cứ nháo nhào đi thay khăn để lau mồ hôi, còn bà Hòa tần ngồi ở ghế cao bên cạnh, tay vẫn cầm quạt, mặt lạnh không một tia thương cảm. Bửu Đảo nhìn thấy cảnh tượng của Diệp Tâm như vậy, có chút không cam tâm, liền đi lại gần nắm tay nàng ta mà trấn an “Diệp Tâm, đừng lo, ta đã sai người đi tìm thầy lang về rồi. Em cố chịu đựng.”

Diệp Tâm dù hết sức cắn răng nhưng vẫn cố nói vài lời “Ngài xuống thăm em là đã tốt lắm rồi.”

Bà Hòa tần dửng dưng lên tiếng “Nó là phận người ở, mà đã là con ở trong phủ thì đâu ra cái chuyện chủ phải đi mời thầy lang về chăm sóc cho nó? Cưng chiều như vậy, ả không bằng lòng.”

Bửu Đảo thở dài rồi buông tay Diệp Tâm, quay sang mẹ mình nói “Thưa ả, ả ra ngoài trước con có chuyện cần tâu.”

Bà Hòa tần liếc nhìn con trai rồi nhìn qua Diệp Tâm đang quằn quại trên giường, tỏ vẻ như không quan tâm, bà đứng dậy, rồi theo Bửu Đảo ra ngoài sảnh.

Vừa đến gần cửa, anh quay người lại, giọng kiềm nén “Thưa ả, con không biết ả không vừa Diệp Tâm ở điểm nào mà bây giờ lại hành hạ em ấy như vậy. Lúc trước người trong phủ bị đuổi hết, con thì không một xu trong túi, cũng là Diệp Tâm trung thành ở lại với chúng ta, tính tình hiền hòa, luôn nghe lời của ả không dám làm sai. Bây giờ lại là vì con mà cô ấy có thai, đáng ra phải được sống sung sướng có kẻ hầu người hạ thì ả lại bắt cô ấy làm việc như một gia nhân, đến mức phải bị động thai như vậy. Con xin ả hãy tha cho cô ấy đi có được không?”

Bà Hòa tần nói, giọng có hơi pha chút dữ tợn “Nó đã là con hầu trong nhà thì vẫn phải là con hầu, cho đến khi ả cầm trầu cau đi hỏi cưới thì mới có quyền được gọi là “cô tư”. Nhà này trước nay không có lệ con hầu cứ hễ hoan lạc với trai tráng trong nhà rồi tự nâng mình lên làm thiếp.”

Bửu Đảo kiên nhẫn giải trình “Con đã thưa với ả ngày hôm đó rồi, là vì con…” anh hạ thấp giọng nói tiếp “…con đi mượn tiền nhà vợ, cảm thấy mất thể diện mà tối đó qua chén nên say rượu đi về, lại đang ở chung phòng với Diệp Tâm nên mới động tình. Giờ cô ấy đang mang bầu, mấy ngày trước ả thừa lúc con ra ngoài, mới sai người trong nhà đào đất lên, bắt cô ấy nằm úp bụng xuống rồi đánh để tra hỏi. Bây giờ lại bắt Diệp Tâm đi làm việc như một con ở trong nhà. Nhìn vậy cách nào con cũng không chịu được.”

Bà Hòa tần liếc nhìn chỗ khác nói dửng dưng “Nó xuất thân là người hầu rửa chân cho ta khi ả còn ở trong cung thì bây giờ thân phận nó vẫn là như vậy. Hoàng mẫu con cùng ả bắt nó ra tra khảo chỉ là để bảo đảm huyết mạch của nhà này không bị lai tạp. Con không cảm ơn ả thì chớ, sao lại trách cứ ả?”

Bửu Đảo như muốn phát điên nhưng vẫn cố chịu đựng “Thế thì dùng nhục hình tra khảo chỉ để làm gì trong khi người ta không có tội, thưa ả? Chẳng phải con đã khẳng định đó là con của con rồi hay sao?”

Bà Hòa tần cũng không chịu thua, giọng càng lúc càng đanh lại “Nếu đúng là con của con thì ả sẽ nói cho con biết, con hầu Diệp Tâm đó không phải là dạng con gái hiền lành đâu mà trong lòng đầy mưu mô xảo trá. Nếu ả đã quyết rằng nó vẫn là một con hầu thì nhất định nó sẽ không bao giờ được ả hay Hoàng mẫu con chấp nhận.”

Nói rồi bà quay mặt lại đi thẳng lên lầu trên, không nhìn lại một lần. Bửu Đảo nhìn theo bóng mẹ mình mà cũng đành lắc đầu chán nản, tự nói với lòng xem như hết cách.

-o0o-


Điện Càn Thành vốn là nơi sinh hoạt chính của Hoàng đế, bất khả xâm phạm, ngoại trừ tần phi trong nội đình cùng người hầu của điện thì không ai được bước chân vào, nhưng từ thời của Duy Tân đế, ngài hay dễ tính phá bỏ vài quy tắc, nên đôi khi cũng có những buổi họp cùng một số cận thần ở đây thay vì điện Cần Chánh ở ngay đầu cửa Tử Cấm Thành.

Nắng thu dịu nhẹ, gió lay cành ngô đồng thổi vào gian bên trong điện cũng mát. Hoàng đế ngồi ngự trên sập (1) giữa điện, đang ngập ngừng, nửa như muốn hỏi, nửa như không “Trẫm truyền ông đến đây, không phải là vì chuyện tiền triều, mà là chuyện trong nhà, trẫm nghĩ chắc ông không phiền.”

( (1) sập: loại đồ cụ như giường thấp, có trong nhà của các gia đình quý tộc, dùng để ngồi, dưới có lót đệm)

Ông Thượng ngồi trên kỷ (2) nhỏ bên cạnh, cung kính đáp lời, dù trong giọng nói không khó nhận ra được sự cứng nhắc “Bẩm Hoàng thượng, thân là quan triều đình được Hoàng thượng hạ chỉ đến hầu chuyện là vinh dự của thần.”

( (2) kỷ: ghế tựa)

Hoàng đế hít lấy hơi, nói “Tiểu thơ…của Hồ gia, vẫn khỏe chứ?”

Ông Thượng cười nhạt “Dạ đa tạ Hoàng thượng đã hao tốn tâm trí mà quan tâm đến con gái của thần. Con gái thần có lẽ còn lâu lắm mới có thể khỏe được như lời Hoàng thượng hỏi.”

Hoàng đế mím chặt môi, rồi lại nói tiếp “Trẫm thật lòng muốn tiểu thơ luôn mạnh khỏe. Mong ông Thượng gởi lời thăm của trẫm đến tiểu thơ.”

Ông Thượng cúi đầu bái lễ “Dạ bẩm Hoàng thượng, không phải vì thần không muốn giúp, mà là vì con gái của thần tâm tính bướng bỉnh, mỗi khi có chuyện buồn là tự nhốt mình trong phòng. Vừa qua lại phải chịu đựng một cơn chấn động không thể đoán được nên nó ngày càng tiều tụy, đêm nào cũng thấy nó chong đèn mà đọc thư của nó với…người hứa hôn cũ rồi tự khóc một mình, rồi thỉnh thoảng lại cứ hy vọng rằng người đó vẫn còn xem trọng nó như ngày xưa. Thần làm cha nhưng bất lực, không thể làm gì hơn là giươn mắt lên nhìn con mình phải chịu khổ.”

Hoàng đế nghe thấy bốn chữ “người hứa hôn cũ” mà dường như không thể chịu nổi, nhắm mắt như một cách ngăn cho nỗi đau tăng thêm. Ngài lấy hết bình tĩnh mà nhẹ nhàng khuyên nhủ “Trẫm không có gì để nói với ông Thượng, chỉ tự trẫm thấy, việc trẫm làm là vì trẫm thương cả nhà ông Thượng, chứ khi phải bỏ hứa hôn với người trẫm thương yêu một năm qua, người đau lòng đầu tiên chính là trẫm. Trẫm chỉ mong một ngày ông cùng cả nhà sẽ hiểu cho trẫm mà không còn trách Vĩnh San này.”

Ông Thượng nghe vậy liền quỳ xuống nói “Dạ bẩm Hoàng thượng, thần không dám. Cả nhà thần chỉ còn biết mong cho con gái của thần sớm ngày vượt qua được thời kỳ khó khăn này mà không còn tự hy vọng hão huyền nữa.”

Hoàng đế dựa tay vào gối xếp (3), chống lên trán, lắc đầu nói “Trẫm cũng đã hết cách. Thôi trẫm mong ông Thượng cùng cả nhà chăm sóc cho tiểu thơ cho tốt. Ông lui ra ngoài đi, trẫm có việc.”

( (3) gối xếp: loại gối đặt lên sập, dùng để tựa tay hay tựa lưng khi ngồi)

Ông Thượng cũng không muốn nấn ná, nghe vậy liền cáo lui, mặt vẫn lãnh đạm như lúc bước vào điện.

Hoàng đế ngồi đó, khổ sở, cứ ám ảnh về lời nói của ông Thượng ban nãy. Tử Chi vì ngài mà đau khổ, mà tiều tụy, mà tự nhốt mình, tự tìm kỷ niệm bằng những phong thư cũ,…Tất cả đều như quá sức chịu đựng của ngài, nỗi đau dằn xé tâm can lúc trước giờ lại như tăng lên gấp bội. Những lời mà ông Thượng cố ý nói ban nãy, ngài đều hiểu, tất cả đều như kim châm muối xát, để từng nỗi thất vọng và đau khổ của cả Hồ gia phải như đang vô tình trút lên đầu ngài không thương tiếc, bắt ngài chịu cái mà họ đã phải chịu, thậm chí còn hơn thế hằng trăm lần.

Vẫn còn đang lẩn quẩn với suy tư, một thị vệ chạy vào báo “Bẩm Hoàng thượng, xe vừa mới đến Tử Cấm Thành, đang đợi Hoàng thượng bên ngoài.”

Hoàng đế ừ một tiếng rồi khoác áo, gọi một vài tên hầu theo rồi đi nhanh ra xe.

Đường đi từ Huế ra cửa Tùng cũng không mấy xa, chỉ mất ba giờ đồng hồ là đã đến. Ngoài đó có một hành cung tên Long Hi, chỉ dành cho Hoàng đế và Hoàng quý phi ở, phi tần cũng không được đến đây. Những lần trước Hoàng đế khi ra cửa Tùng đều nghỉ ngơi hẳn ở hành cung một đêm rồi hôm sau mới ra biển thăm thú. Nhưng lần này, khi nghe thị vệ lên tiếng hỏi thì ngài lắc đầu:

“Không, đến thẳng biển cho trẫm. Trẫm sẽ về hành cung sau.”

Tên thị vệ cười nói “Vậy Hoàng thượng sẽ ra đình Hải Phong hay là…”

Hoàng đế ngắt lời, lắc đầu nói “Không, cứ chở trẫm ra bờ biển, các ngươi cứ đứng ở bên ngoài đợi là được.”

Lệnh Hoàng đế đưa ra dù ai cũng lấy làm lạ nhưng cũng không ai dám phản đối. Vừa đến bãi biển, thị vệ đứng ra xe chuẩn bị hầu Hoàng đế, một tên lên tiếng “Bẩm Hoàng thượng, hay để thần đi theo Hoàng thượng.”

Ngài vừa bước ra khỏi xe nói “Không cần, trẫm sẽ ở đó đến tối. Các ngươi cứ thay phiên nhau đứng canh gác là được, không cần đi theo trẫm.”

Tên kia làm mặt lo lắng tâu “Bẩm, thứ cho thần nhiều lời, Hoàng thượng ra biển chuyến này để làm gì ạ? Nếu ra đây để nghỉ ngơi thì hay để thần mang ghế dù ra cho Hoàng thượng ngự lãm cảnh biển, như thế sẽ tiện hơn.”

Hoàng đế phất tay nói “Trẫm đã bảo không cần, các ngươi cũng không phải theo hầu, cứ đứng đây là được. Các ngươi cứ biết trẫm ra biển để tìm ‘ngọc’ là được rồi.”

Mấy tên kia nghe xong lại càng thấy khó hiểu, nhưng không dám kháng thánh ý, đành tuân lệnh đứng tại chỗ.

Hoàng đế đi một mình ra biển, cảm thấy như thoát khỏi được phiền phức, liền đi thật xa khỏi tầm mắt của mấy thị vệ. Đi một lát, thấy cũng vừa đủ xa, ngài dừng chân, hít thở một chút gió biển.

Nơi đây vẫn như ngày đầu tiên ngài đặt chân đến, hoang sơ nhưng hữu tình. Sóng đánh từng đợt, gió lùa theo nhịp, cứ mỗi lần chân thấy hơi khó đi vì dẫm lên mấy vỏ sò bên dưới, Hoàng đế lại nhớ về lời của một người từng bảo, nước mắt của Hằng Nga rơi xuống dương gian và hóa thành ngọc, ngài tự cười, rồi cúi người xuống, nhặt vài chiếc vỏ lên. Ban nãy ngài nói với bọn thị vệ rằng ngài đi tìm “ngọc” hẳn là bọn chúng hoang mang lắm, nhưng chúng đâu biết, ngài nào có nói dối, những thứ trên tay ngài bây giờ chẳng phải là “ngọc” đối với người con gái mà ngài thương yêu sao?

Đúng là không muốn thì cũng phải nhớ, nhìn cảnh xưa khó lòng không nao nao hồi tưởng tình cũ, khung cảnh thì có thể một ngày nào đó thay đổi ít nhiều nhưng kỷ niệm thì khó có mà quên được. Cũng là biển, cũng là gió và nắng, cũng là trên bờ cát trắng này, và cũng là những chiếc vỏ sò bé nhỏ, tất cả vẫn y hệt như vậy, đều là từng mảnh ghép trong ký ức xinh đẹp và vui tươi của Hoàng đế cùng Tử Chi năm ấy.

Ngắm biển từ lúc mặt trời chưa lặn đến khi đã tối, Hoàng đế vẫn cứ trầm ngâm ngồi ngay tại một bãi đá, không nói năng, cũng không có dấu hiệu gì gọi là chán. Biển đêm dữ tợn cuốn vào đất liền làm xung quanh không chỉ thêm phần cô đơn mà còn pha chút ma mị, liêu trai. Ánh sáng duy nhất là từ ngọn hải đăng đằng kia, xoay từng đợt chớp nháy trên mặt nước.

Nghe tiếng bước chân sau lưng, Hoàng đế bất giác quay lại, thấy một người mặc áo khoác dài, che kín cổ, gần như cả mặt, đội nón bêrê dần dần tiến lại gần ngài, trên tay cầm một chiếc đèn leo lét rọi đường. Như biết trước, Hoàng đế tiến lại gần, người kia cũng không nói gì mà chỉ âm thầm đến trước mặt ngài rồi cúi đầu chào:

“Thần xin bái kiến Duy Tân đế.”

Hoàng đế hỏi “Ông là ngài Phạm Hữu Khánh?”

Người kia gật đầu thưa “Bẩm, chính là thần, thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế gật đầu “Tốt, cuối cùng cũng được gặp ông sau những lần chỉ trao đổi nhau qua anh Huỳnh. Dù rất muốn cùng bàn chuyện sâu rộng nhưng tình cảnh không cho phép, ngay cả bản thân trẫm cũng đã phải lén lút bọn Khâm sứ An Nam để ra được đến đây để bọn chúng khỏi theo dõi, quả thực hẹn ông trong tình cảnh như thế này cũng làm khó cho ông rồi.”

Ông Hữu Khánh đáp “Bẩm, thần không ngại nguy khó chứ đừng nói đến việc phải ra biển giữa đêm như thế này.” nói rồi ông lấy trong túi ra một mẩu thư nói “Đây là thông tin mật của hội muốn gửi đến Hoàng thượng, là do hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên chính tay viết cho Hoàng thượng. Trong đó có cả ngày giờ và địa điểm cũng như kế hoạch của cuộc…đại sự. Chỉ vì sợ anh Huỳnh thường xuyên lui tới chỗ của thần mà bị bọn Pháp để ý nên mới hẹn chính Hoàng thượng ra cửa Tùng chứ không phải là Huế. Mong rằng sự cẩn thận của chúng thần sẽ qua mặt được bọn chúng, sau này mọi chuyện sẽ thuận buồm xuôi gió.”

Hoàng đế nhận lấy thư, cất vào túi áo rồi nói “Trẫm hiểu. Trẫm cũng mong sau chuyện này, tất cả chúng ta sẽ đại thành công.”

Cả hai sau đó cũng không dám trò chuyện lâu, chỉ là Hoàng đế hỏi thăm vài chuyện của hội rồi cẩn thận nói lời bái biệt, sau đó mỗi người đi một hướng, chỉ chờ đợi cho mọi chuyện sẽ bắt đầu và kết thúc như ý.


"Chương 8" bởi theboyofschool
( https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )



Sáng hôm sau, lúc còn chưa bình minh, theo lệnh của Hoàng đế, xe nhanh chóng lăn bánh để về Huế thật sớm, lòng ngài thật không muốn để hai bà Hoàng thái hậu và Hoàng thái phi biết chuyện của chuyến đi hôm nay, tránh bị hỏi thăm trước sau làm ngài cũng khó xử.

Đường về không gần, nhưng xe cố chạy hết tốc lực có thể nên khi đến Đại Nội là trời vừa sáng hẳn, không muộn là mấy, Hoàng đế thở nhẹ, định bụng sau khi nghỉ ngơi một chút sẽ đi thăm hai Hoàng mẫu, không ngờ chỉ mới vừa bước đến sân trước của Càn Thành điện thì một tên thị vệ mặt hớt hải chạy lại báo:

“Bẩm Hoàng thượng, Thái phi lệnh bà đang ngồi đang điện đợi Hoàng thượng về.”

Hoàng đế cả kinh, tròn mắt hỏi “Ả của trẫm đã đến lâu chưa? Các ngươi vạn nhất không được để ả biết chuyện trẫm đi đến cửa Tùng.”

Tên kia cúi người “Dạ, chúng thần tuyệt không dám nói năng bậy bạ. Chỉ nói Hoàng thượng đột ngột rời Đại Nội, không biết đã xa giá đến đâu.”

Hoàng đế gật đầu, cố gắng giữ mặt bình tĩnh rồi bước vào trong điện.

Bà Thái phi nghiêm trang ngồi ở sập chính giữa điện, gác tay lên gối xếp, dù biết chắc rằng đã nhìn thấy Hoàng đế về từ xa nhưng bà vẫn tỏ vẻ không quan tâm, im lặng nhìn vào một góc. Hoàng đế đến ngay trước mặt mẹ mình, chân quỳ xuống hành lễ, nói:

“Dạ thưa, Vĩnh San đã về, con xin thỉnh an ả.”

Bà Thái phi vẫn không thèm nhìn mặt Hoàng đế, nói nhẹ nhàng: “Hoàng đế đi đường xa, ả đến đây thăm ông Hoàng sớm như vầy, đã là làm khó ông Hoàng rồi.”

Lời Thái phi dù dịu dàng nhưng đầy hàm ý dễ làm người nghe kinh sợ, cung nữ thị vệ đứng gần đó đều lấm lét đưa mắt nhìn nhau. Hoàng đế vẫn bình tĩnh, lên tiếng với mọi người xung quanh “Bên ngoài sân của điện đang thiếu người quét dọn, các ngươi mau lui ra phụ giúp, tránh làm Hoàng thái phi phật ý.”

Cung nữ thị vệ nghe thế liền hiểu ý nên kéo nhau ra ngoài hết thảy, không dám trái lời, chỉ mỗi một tên thị vệ thân cận với Hoàng đế là bị ngài giữ lại. Hoàng đế nhìn mẹ mình, cất giọng ân cần “Con định sau khi về sẽ sang cung thăm ả, không ngờ ả lại sang đây trước. Dạo này chứng đau lưng của ả tái phát, ả nên nghỉ ngơi nhiều mới phải.”

Bà Thái phi nói dửng dưng “Nếu ông Hoàng thương ả thì đã đem cho ả một con dâu để chăm sóc, ông Hoàng không cần phải thăm hỏi ả hằng ngày.”

Hoàng đế gượng cười nói “Nhưng cốt là con chỉ muốn…”

Bà Thái phi ngắt lời, giọng như chứa phẫn uất “Ông Hoàng còn muốn gì nữa? Kể từ ngày lên ngôi đến nay, chuyện trong ngoài đại sự ả không nắm rõ, nhưng chuyện trong nhà là việc ả có quyền quyết định. Vậy mà con nào có để cho ả quyết, ông Hoàng cứ thích làm theo ý của mình. Chuyện từ hôn với con gái Hồ gia…”

Tim Hoàng đế như nhói lên một nhịp.

“…là chuyện do con gặp gỡ, rồi cũng do con bảo rằng vì thấy ả hối thúc con nạp phi nên quyết định sẽ đưa cô ta lên làm Hoàng quý phi. Hai bên đã gần như chỉ còn đợi ngày diễn ra đại hôn, ả cũng rất vừa ý con gái ông Thượng, vậy mà ông Hoàng không nói không rằng nói tiếng từ hôn. Ả đưa cho ông Hoàng danh sách bao nhiêu cô con của các viên quan trên dưới, ông Hoàng cũng không thèm nhìn qua. Đến ngay cả chuyện hôm qua ông Hoàng đi đâu ra khỏi Đại Nội, ông Hoàng cũng chẳng thèm báo với ả hay với Hoàng mẫu của ông Hoàng một tiếng, đợi đến sáng hôm nay mới về. Vậy ả thử hỏi con, lệ thỉnh an hằng ngày, mỗi lần chúc thỉnh an ả thì con có thực lòng muốn ả an tâm hay không?”

Trước bao lời nặng nhẹ của mẹ, Hoàng đế cũng đành chịu đựng, không dám cãi. Bất quá cũng chỉ là những tâm tư bực dọc mà bà Thái phi không hiểu hoặc Hoàng đế không muốn nói cho bà hiểu để ôm thêm lo lắng, về vận nước, về tâm tư khó nói được của chuyện giữa ngài và Tử Chi, nên ngài im lặng, đợi cho mẹ mình tuông trào hết uất ức rồi mới lên tiếng.

Hoàng đế nói, giọng vẫn trầm tĩnh “Dạ thưa, ả dạy đều đúng. Vĩnh San đúng thực là không quan tâm nhiều đến ả. Mong ả tha tội cho Vĩnh San.”

Bà Thái phi nghiêm mặt “Hoàng đế xin ả tha lỗi là vì thấy bản thân đã có lỗi, hay vì nghĩ nói một câu sẽ xoa giận được ả?”

Hoàng đế cả kinh “Dạ bẩm, con không có ý đó thưa ả.”

Bà Thái phi nói “Dù ông Hoàng có ý hay không có ý, ả cũng sẽ tự mình quyết định chuyện hoàng gia.” rồi chỉ vào một quyển sổ trên bàn “Đây là danh sách các cô gái có quyền được tiến cung mà ả đã chọn, ngày mai ả sẽ sang đây, khi đó ả muốn ông Hoàng phải chọn được người. Nội đình không thể thiếu người nắm quyền quá lâu, ông Hoàng hãy mau tự quyết định ngôi Hoàng quý phi, hoặc là ả sẽ quyết.”

Hoàng đế thở dài nói “Chuyện này nên để cho con quyết định, thưa ả.”

Bà Thái phi lạnh lùng nói “Cho đến khi con đưa cho ả một lý do xác đáng, ả vẫn sẽ tiến hành nạp phi như ý định ban đầu. Nội đình của ta không chờ hơn được nữa.”

Rồi không kịp cho Hoàng đế nói thêm điều gì, bà quay sang tên thị vệ đứng cạnh, hỏi “Hôm qua Hoàng thượng đã đi đâu? Nếu ngươi không nói thật, ta sẽ cho người cắt lưỡi.”

Tên kia bị hỏi tới, rùng mình trả lời “Bẩm Hoàng thái phi, hôm qua Hoàng thượng…bảo là Hoàng thượng đi tìm ‘ngọc’.”

Bà Thái phi cười giễu “Đi tìm ‘ngọc’?” rồi nhìn sang Hoàng đế “Con bỏ cả triều đình để đi tìm ‘ngọc’ của con trong khi con muốn ả yên tâm về con mà không nhúng tay vào bất kỳ chuyện gì sao?”

Hoàng đế hạ giọng “Con…quả thực hôm qua con đi tìm ‘ngọc’, thưa ả.”

Bà Thái phi chau mày nhìn ngài “Con phát điên rồi. Con xem thường triều đình này đến mức đó thì ta cũng…”

Như một ý niệm chợt lóe lên trong đầu, Hoàng đế nhìn mẹ mình cương quyết nói “Thưa ả, ả chưa hiểu hết ý con, con đi tìm ‘ngọc’ là thật, thưa ả. Chẳng phải ả muốn con nạp phi hay sao? Hôm qua chính thực là con đã đi tìm một người để phụng dưỡng ả.”

Bà Thái phi không hiểu con mình nói gì nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ “Con nói vậy có nghĩa là con đang ám chỉ…” rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hơi vui mừng, nói “Chẳng lẽ con đang nói đến cô Mai Thu Ngọc, con gái ông Phụ Đạo Mai Khắc Đôn, thầy dạy chữ Nho của con?”

Hoàng đế gật đầu, miễn cưỡng cười “Dạ bẩm, phải như vậy ả à. Một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy, Vĩnh San cũng muốn đền đáp ơn nghĩa thầy học. Chỉ sợ ả không bằng lòng nên chưa dám tâu, giờ vừa có dịp nên mới nói cho ả nghe, mong ả không buồn lòng.”

Bà Thái phi giờ mới dãn mặt ra, cười nói “Nếu ông Hoàng nói sớm thì ả đã không phải lo lắng.” rồi bà gật đầu hài lòng “Mai Thu Ngọc tuy dung mạo không bằng con gái ông Thượng, nhưng về đức hạnh thì cũng thuộc dạng nết na, hay chữ, việc nhà giỏi giang. Vả lại, từ ngày xưa đã thầm thương con mà không nói, giờ được con chọn làm Hoàng quý phi, chắc chắn nó sẽ rất vui mừng.”

Hoàng đế hạ mi xuống, nói xuôi theo “Dạ, con cũng nghĩ vậy, thưa ả. Chuyện nạp phi từ đây cứ để cho con quyết, ả cứ nghỉ ngơi ở cung cho khỏe hẳn là được.”

-o0o-


Tin tức nhanh chóng lan khắp, anh Huỳnh chỉ mới vừa chạy vào Đại Nội để hỏi tình hình về cuộc gặp mặt của Hoàng đế tại cửa Tùng, là đã nghe tin ngài sắp nạp phi.
Chưa kịp nghe Hoàng đế lệnh miễn lễ anh đã gấp gáp hỏi:

“Bẩm Hoàng thượng, chuyện thần vừa nghe có phải là tin vịt bọn cung nữ thái giám truyền miệng nhau hay là thần nghe không rõ rằng Hoàng thượng đi ra cửa Tùng là để tìm một người vợ tên Ngọc?”

Hoàng đế cắt lời “Không, anh không nghe lầm. Trẫm sắp nạp phi là đúng. Cô ta tên Thu Ngọc.”

Anh Huỳnh kiềm nén “Nhưng thưa Hoàng thượng, còn Tử Chi, cô ấy sẽ như thế nào khi nghe tin này? Hoàng thượng chưa từng nghĩ cô ấy sẽ chịu không nổi sao?”

Hoàng đế lãnh đạm nói “Chỉ còn mỗi cách này mới làm cho Tử Chi không còn mơ mộng gì về chuyện của trẫm và cô ấy nữa. Tử Chi…xứng đáng để có một người tốt hơn trẫm, chứ không phải cả đời mong chờ một kẻ như trẫm.”

Ngừng một lát rồi ngài cười nhạt, nói tiếp “Nhờ trẫm buộc miệng nói với bọn thị vệ về lời của Tử Chi từng kể với trẫm mà có người được nạp phi. Quả thật là trớ trêu! Nhưng trẫm tuyệt không còn cách nào, không phải Thu Ngọc thì ả của trẫm cũng sẽ quyết định một người khác. Nên thà là Thu Ngọc, trẫm sẽ nói với cô ta biết rằng cô ta có được ngày hôm nay là vì Tử Chi, không phải vì trẫm yêu thương cô ta.”

Anh Huỳnh nhìn Hoàng đế mà chỉ có thể lắc đầu như không còn gì để nói, thôi thì tất cả cũng chỉ là duyên phận, ai cũng có một lý do riêng không thể lý giải, lòng chỉ thêm tội nghiệp cho Tử Chi, nghĩ bụng nếu cô mà nghe được tin, chắc cũng phải đau đớn lắm.

Cũng không phải mất nhiều thời gian thì mọi chuyện mới đến tai nhà của Hồ phủ, bà mệnh phụ nghe tin đầu tiên từ chồng mình, vì thương con gái quá độ mà khóc một trận bi ai, dù cố gắng giấu giếm không cho Tử Chi biết nhưng Miên Thanh nghe lỏm được tin, liền nói với tiểu thơ của mình, làm bị ông Thượng quở trách. Tử Chi cũng nước mắt ngắn dài chạy ra can ngăn cha mình thôi rầy la Miên Thanh, bảo rằng có lẽ cả hai có duyên như không nợ, từ nay sẽ thôi suy nghĩ về chuyện của mình và Hoàng đế nữa, mọi người đừng quan tâm, lo lắng mà chuốc thêm u sầu.

Bẵng đó thì ngày đại hôn giữa Hoàng đế và con gái ông Phụ đạo được diễn ra. Tất cả, theo lệnh của Hoàng đế, rằng vận nước đang gặp khó khăn nên không tiện tổ chức rình rang, chỉ làm theo đúng lễ nghi cha ông lập ra, tránh tốn kém. Ngày hôm đó, Tử Chi cũng đành tự nhốt mình vào phòng mà khóc với Miên Thanh, không để cho cha mẹ nhìn thấy, chỉ nghĩ đến chuyện Hoàng đế đang mặc bào phục mà tiến hành lễ đại hôn với người khác, lòng cô chẳng khác nào tự xé thành ngàn mảnh.

Có lẽ bây giờ nỗi buồn đã dần chuyển sang sự giận dữ, Tử Chi giận Hoàng đế đến thấu cả tâm can, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác mà tự xoa dịu chính mình. Cô gạt phăng hết tất cả những gì thuộc về Hoàng đế trong quá khứ, về hình ảnh những lúc chạy dài trên bờ biển hay ngày đầu gặp gỡ đã cảm thấy mến nhau ra sao, Tử Chi như tự nhủ lòng tự xóa sạch hết tất cả, vì không còn hy vọng gì thì cũng xem như những kỷ niệm giờ đây như vô nghĩa, trống không. Duy chỉ còn giữ lại hết tất cả những bức thư ngày xưa từng viết trao cho nhau, không hiểu vì sao, Tử Chi lại không đốt sạch như một cách thể hiện lòng giận dữ, khi khi cô cầm chúng trên tay mà định cho vào lửa, tất cả như níu kéo, tay chẳng muốn rời, mắt cũng không dám nhìn chúng gào thét trong lửa đỏ rồi hóa thành than tro, nên cô cũng thôi không dám đốt chúng lần nào nữa, đành cất vào sâu trong tủ áo để khỏi phải nhìn thấy mà nhớ thương.

Dần dà, tất cả cũng trôi qua hệt như một chiếc lá rơi trên sông Hương, lúc đầu thì như tiếc nuối nên vẫn còn chưa muốn rời cành, đến lúc một cơn gió thu bay ngang thì cũng đành buông lơi mà trôi theo dòng nước, nước cuốn đến góc bể chân trời nào thì cũng mặc nhiên mà xuôi theo dù cho sóng ghềnh hay bão tố.

Tử Chi cũng vậy, chưa hẳn là đã quên được hình ảnh của Hoàng đế nhưng cũng đã dần quen với cảm giác mối tình đầu được hồi đáp bằng những ngọt ngào lẫn đớn đau, đành tự nhủ lòng thôi mơ tưởng nhiều hay cứ mãi nuôi tâm giận dữ, cứ hãy xem như tất cả chỉ là một cơn mộng mị vô chừng rồi sẽ có ngày tỉnh giấc và mọi chuyện kết thúc, không còn đau thương hay dằn xé.

Nghĩ được vậy, cô ra khỏi nhà nhiều hơn, đi một vòng quanh con đường gần nhà, xem như một cách giải khuây, cốt cũng để cho ngày bớt rảnh rỗi mà thêm dài. Một hôm nọ, Tử Chi xin mẹ thay người hầu để đi ra chợ, mua một ít rau về nấu canh, lúc đó vì anh của Tử Chi đã ra ngoài Hà Nội học, Miên Thanh lại đang bận phải xem lại sổ sách tiền lương trong nhà nên cô phải đi một mình.

Vừa gần đến nhà, cũng chỉ còn mấy bước nữa là tới bỗng thấy ngay trước cổng có một chiếc xe đậu trước nhà, thoáng nhìn cũng là biết là xe của quân Pháp, lòng hơi bối rối tự hỏi có chuyện gì mà chúng đến đây, nhưng cũng kiềm lòng mà chậm rãi đi tới, chưa kịp nhấc chân thì thấy hai, ba tên người ngoại quốc mặc đồ lính tráng kéo ông Thượng ra khỏi nhà, hai tay bị bắt chéo ở sau lưng.

Tinh thần Tử Chi hoảng loạn, buông cả rổ rau rồi chạy vội đến. Vì từ xưa được học tiếng Pháp nên cô la lớn, cốt là để cho bọn chúng hiểu “Các người, có chuyện gì, sao lại bắt cha của tôi đi?”

Ông Thượng thấy con gái mình chạy đến, mặt ông vẫn rất ung dung, điềm tĩnh nói “Con mau vào nhà đi, đừng lo cho cha.”

Tử Chi nhìn cha rồi quay vào trong, thấy bọn lính triều đình đứng bao vây gần như chặn hết cả cổng, gậy giáo đan ngang ngăn không cho mọi người chạy theo ông Thượng. Bà mệnh phụ và Miên Thanh cùng mấy người hầu đứng ôm nhau khóc than, lần lượt quỳ xuống xin bọn Pháp tha cho ông Thượng.

Một tên bặm trợn nhất trong đám áp giải ông Thượng đứng ra bên ngoài, nói thô lỗ “Cha cô đã phạm tội che giấu và hiệp trợ những kẻ chống đối Chính quyền Bảo hộ nên chúng tôi bắt đi. Cô mau vào nhà, đừng cản chúng tôi.”

Tử Chi vừa mở miệng nói tiếng phân bua thì tên kia hoàn toàn không thèm không đếm xỉa gì đến cô nữa mà liền quay sang quát lớn “Mau, đem ông ta lên xe đến chỗ của Khâm sứ.”

Tử Chi đánh liều, liền lấy tay níu áo bọn chúng lại mà van xin “Đừng, xin các ông đừng bắt cha của tôi.”

Chúng đang sẵn đà bước đi, liền không nể nang mà thuận tay gạt Tử Chi sang một bên làm cô không đứng vững mà bị té xuống đất, tay chống ra sau đau điếng hết cả người. Tất cả lính Pháp đều lạnh lùng giải ông Thượng lên xe rồi ra hiệu cho mấy tên lính hoàng cung trong nhà. Ngay khi bọn chúng nhận được lệnh, liền bỏ giáo xuống mà nhanh chóng xếp hàng chạy ngay ra một chiếc xe đằng sau rồi leo lên. Mọi thứ diễn ra như một cơn vũ bão, mọi người không ai kịp trở tay, Tử Chi như vẫn còn chưa hoàn hồn, ngồi ngay tại chỗ trên nền đất, mắt mở to nhìn hai chiếc xa lăn bánh tung khói bọi mịt mù phía sau, miệng còn lấp bấp “Đừng, xin các người…”

Miên Thanh cùng bà mệnh phụ vội chạy ra như muốn đuổi theo trong vô vọng nhưng cũng đành chịu nhìn phía sau chiếc xe càng lúc càng xa khuất. Bà khụy xuống, nước mắt ròng ròng, rồi cả ba ôm nhau khóc nức nở, không biết chuyện gì đã xảy ra, lại càng không biết kêu trời hay đất mới có thể giúp được tình cảnh này.

Tối hôm đó, cả nhà không ai muốn ngủ, bà mệnh phụ sai người đi tìm đến tận phủ của Khâm sứ An Nam tại Huế để dò la tin tức nhưng cũng không biết được thêm điều gì, lòng lại càng sốt ruột. Tai họa giáng xuống quá nhanh khiến không khí càng thêm nặng nề, Tử Chi cùng mẹ ngồi tại nhà khách từ sớm đến chiều tối rồi đến tận khuya, nghĩ rằng chỉ cần một người có thể đem tin tức dù tốt hay xấu của ông Thượng đến đây thì cũng đều quý như nhau, ít nhất thì cũng dễ chịu hơn, không cần phải cứ như ngồi trên đống lửa như bây giờ.

Tử Chi cùng mẹ đang ngồi trầm ngâm thì Miên Thanh hối hả chạy vào, nói nhanh “Bẩm tiểu thơ, anh Huỳnh theo lệnh của Hoàng thượng đế phủ chúng ta.”

Tử Chi vui mừng nói “Em mau gọi anh ấy vào.”

Cô quay sang bà mệnh phụ “Thưa mẹ, anh Huỳnh là người quen của con lúc trước, lại là người thân cận với Hoàng thượng, chắc chắn đến đây không phải là để an ủi đơn thuần mà theo lệnh Hoàng thượng đem tin tức của cha đến báo cho cả phủ chúng ta biết.”

Bà mệnh phụ cũng gật đầu, mặt vẫn đầy lo lắng nói “Mẹ cũng mong như vậy, Hoàng thượng chắc cũng nghe tin của cha con mà rủ lòng thương.”

Lát sau anh Huỳnh nhanh chóng theo Miên Thanh mà đi vào nhà khách, bên ngoài đang mưa lất phất nên áo anh nhìn hơi ướt. Anh gỡ nón bêrê trên đầu xuống rồi gật đầu “Chào bà mệnh phụ cùng tiểu thơ. Tôi là Huỳnh, hôm nay thuận lệnh của Hoàng thượng đến để đưa tin cho hai người về chuyện của ông Thượng thư”.

Tử Chi mời anh ngồi xuống rồi hỏi “Cũng may là có anh đến đây, nếu không mẹ con chúng tôi không biết phải làm sao. Hoàng thượng đã nhắn gửi anh những gì, còn cha tôi sống chết như thế nào, mong anh nói rõ.”

Anh Huỳnh chậm rãi nói “Ông Thượng hiện đại bị bắt giam ở tòa Khâm để điều tra, nhưng theo Hoàng thượng biết thì vẫn chưa bị hành hình hay tra khảo, nên bà cùng tiểu thơ yên tâm.”

Tử Chi chau mày “Chuyện cha tôi bị bắt thì cả phủ cũng đều rõ, nếu ông có bị dụng hình thì chúng tôi cũng chỉ còn nước cầu trời phật chứ chẳng biết làm gì hơn, chỉ là tôi thật không thể hiểu rốt cuộc là có chuyện gì mà bọn người Pháp lại bắt cha tôi, trong khi ông không hề có ý chống đối Chính quyền Bảo hộ như bọn chúng kết tội?”

Anh Huỳnh nói “Chính vì biết tiểu thơ cùng bà mệnh phụ có tâm trạng hoang mang như vậy nên tôi mới được Hoàng thượng phái đến đây để trình tâu đầu đuôi sự việc.”

Anh ngừng một chút rồi trầm giọng “Hoàng thượng bảo nhờ tôi nhắn với cả phủ ông Thượng rằng, chung quy lại, tất cả đều là lỗi nơi ngài. Trước sau cũng vì ngài mà làm cho gia đình ông Thượng bị liên lụy, làm bà mệnh phụ cùng tiểu thơ phải khổ sở. Tôi đến đây không phải là lập lại lời Hoàng thượng nói, mà làm theo lời ngài ấy chỉ bảo: hãy cho nhà tiểu thơ biết hết sự thật’.”

Tử Chi chau mày không hiểu, hỏi “Chính xác là Hoàng thượng muốn cho chúng tôi biết những gì?”

Anh Huỳnh hít một hơi sâu rồi bắt đầu kể, kể rất nhiều về những ngày Hoàng đế bị kìm kẹp bởi Chính quyền Bảo hộ, về những kế hoạch được lập cùng anh Huỳnh để làm một cuộc chống trả lại quân Pháp, rồi về Việt Nam quang phục hội mà Hoàng đế cùng anh đã trực tiếp trao đổi với nhau để quyết ngày bùng dậy khởi nghĩa.

Tử Chi nghe đến đâu, lòng bất ngờ đến đó, pha chút xấu hổ. Trước nay cô cứ tự nhận bản thân là người hứa hôn của Hoàng đế, lòng luôn nghĩ đã thấu hiểu người mình thương mến rất rõ, vậy mà giờ đây khi được thuật lại những tâm tư mà Hoàng đế giấu kín thì mới thấy thì ra bản thân chưa bao giờ quan tâm đến ngài đúng mực, chưa một lần hỏi về những hoài bão của ngài hay hỏi rằng “Hoàng thượng còn có ước mơ gì cho Nam triều hay không?”

Anh Huỳnh vừa nói đến việc đại diện của bên Việt Nam quang phục hội có đưa cho Hoàng đế mảnh giấy và hẹn nhau 1 giờ sáng ngày 3 này sẽ nổ lên khởi nghĩa thì bà mệnh phụ lên tiếng:

“Nếu đúng như lời anh kể, thì ngày 3 chẳng phải là cách đây đã đúng một tuần rồi hay sao? Nếu có biến, chắc chắn chồng tôi đã phải biết. Vả lại, ông người trung thành với triều đình, sao lại có thể để bị kết tội là mưu phản?”

Anh Huỳnh thưa “Dạ, bẩm bà. Đúng theo kế hoạch thì sẽ là vậy. Nhưng mọi chuyện sau đó lại không như ý định, thực ra trước hôm đó, một thành viên của tổ chức khởi nghĩa đã làm lộ thông tin, làm những kẻ đứng bên phe Pháp đã báo tin cho Khâm sứ An Nam. Cuối cùng, khởi nghĩa vẫn chưa kịp nổ ra đã bị dập tắt vì quân khởi nghĩa bị bao vây và bị giải về, trong số những người bị bắt hôm vừa rồi, thì có cả…Hoàng thượng.”

Tử Chi và mẹ lấy tay che miệng, tâm trạng hoảng hốt cực độ, Tử Chi hỏi “Vậy thì tất cả họ và Hoàng thượng sẽ ra sao?”

Anh run người đáp “Tất cả những người có mặt trong đêm đó đều phải vào nhà lao chờ xét xử, chỉ có Hoàng thượng là người đứng đầu Nam triều nên được thả ra.”

Tử Chi hoang mang “Nhưng nói như vậy, thì cha tôi sao lại bị bắt? Chẳng lẽ chỉ vì ông là người thân cận với đức Duy Tân mà quân tòa Khâm bắt cha tôi à?”

Anh nói “Bẩm tiểu thơ, ông Thượng đúng ra không hề liên can gì hết cuộc khởi nghĩa này. Thậm chí khi tất cả bị bại lộ, ông Thượng chính là người được giao nhiệm vụ thảo bản án xử Hoàng thượng cùng đám người khởi nghĩa. Nhưng trong đám người bị bắt hôm đó lại có người quen biết với ông Thượng. Ông ta dù ngồi trong ngục nhưng vì lo cho tương lai Hoàng thượng mà viết thư trên một mẩu giấy quyến hút thuốc, bí mật trao người chuyển đi, trong thư nhận lãnh hết mọi trách nhiệm về những việc đã xảy ra đều thuộc về ông cùng những người khác. Tuy nhiên, dù làm kín kẽ thế nào cũng không qua được bọn tay sai tên Khâm sứ nên vì mẩu giấy này mà ông Thượng bị quy chụp tội đồng lõa quân khởi nghĩa, vì thế mới có cớ sự như hôm nay.”

Tử Chi bàng hoàng hỏi gấp “Nếu vậy thì xem như số phận của cha tôi đều như cá trên thớt, chỉ chờ ngày bị xét xử. Thật không có cách nào để cứu cha tôi hay sao?”

Anh cười nhẹ nói “Biết rằng nghe xong bà và cô sẽ lo lắng nên ngài tức tốc truyền tin cho hai người biết, rằng ngài ngày mai sẽ đến gặp ông Khâm để nói chuyện, giải cứu cho ông Thượng, nên bà và cô yên tâm. Ngài bảo, gia đình ngồi ở nhà chờ tin, đừng quá lo lắng mà sinh bệnh. Ông Thượng chắc sẽ về sớm thôi.”

Bà mệnh phụ trầm giọng mông lung, nước mắt lưng tròng “Hoàng thượng thương nhà tôi thì ngài nói vậy, chứ bọn Pháp trước giờ bắt được tên nào là chẳng tha tên đó, chồng tôi lại là quan lớn, giờ bị quy tội này, ai chắc được bọn nó không giết sạch để nhổ tận gốc, sống chết mặc bây?”

Tử Chi quay sang dỗ mẹ “Đức Duy Tân đã bảo là cứu là sẽ cứu được, ngài thương gia đình ta, thương cha, thương mẹ không kể xiết mới đêm khuya gấp rút cho người tới báo tin, lại còn không màng khó mà đến gặp ông Khâm để cứu cha. Con nghĩ mai hoặc mốt cha sẽ về thôi. Vả lại, cha là quan lớn triều đình, bọn chúng chắc cũng không dám nói đánh là đánh, nói giết là giết, nên con xin mẹ đừng quá lo.”

Rồi cô nhìn anh Huỳnh mà nói “Xin dám hỏi anh, Hoàng thượng còn lời nào căn dặn nữa hay không?”

Anh nhẹ lắc đầu “Dạ bẩm cô, vì đêm khuya gấp vội, lại lén lút tránh sự chú ý của tay sai ông Khâm nên ngài chỉ kịp nói nhanh gọn bấy nhiêu. Tôi cũng không dám hỏi thêm.”

Tử Chi gật đầu “Tôi hiểu, thưa anh, không chi cả. Như vậy là Hoàng thượng đã quan tâm quá nhiều cho gia đình chúng tôi rồi. Nhờ vậy mà tôi và mẹ bớt lo. Anh có gặp lại Hoàng thượng thì chuyển lời cảm ơn của tôi đến ngài.”

“Dạ bẩm cô, chắc chắn rồi” Anh cười rồi nhìn đồng hồ nói “Giờ đã gần nửa đêm, nếu bà và cô không còn nhắn gởi gì nữa thì tôi xin phép được ra về.”

Bà mệnh phụ quẹt nước mắt, khách sáo nói “Ấy chết, anh đội mưa đi đường đến báo tin mà nãy giờ khách đến nhà mà chúng tôi cũng chẳng khoản đãi trà bánh. Hay là thế này, chúng tôi từ trưa đến giờ cũng chưa có bỏ bụng thứ chi, anh nán lại một chút dùng cơm với nhà tôi để có sức mà về Nội.”

Anh Huỳnh cười “Dạ, được bà mệnh phụ mời thì tôi nào dám từ chối, nhưng chắc tôi phải về để ngày mai còn phải vào Nội sớm. Nếu có thông tin gì khác thì Hoàng thượng sẽ lệnh tôi đi đến đây báo tin ngay nên bà mệnh phụ và cô cứ ở nhà mà đợi tin.”

Bà nghe thế cũng gật đầu “Vậy chúng tôi xin phiền anh.”

Anh cười rồi đứng dậy. Thấy anh đội nón lên đầu định ra về, bà mệnh phụ vẫn chưa kịp xoay người gọi người hầu ra tiễn khách thì Tử Chi bảo “Thưa mẹ, không cần đâu, bọn chúng chắc đang nằm nghỉ dưới bếp. Để con đưa anh ra ngoài cửa cũng được.”

Bà nghe xong cũng gật đầu đồng ý rồi nhìn cả hai bước ra hiên nhà khách. Bên ngoài trời còn mưa lất phất, gió bất giác thổi nhiều làm đêm lại càng tịch mịch, Tử Chi cùng anh Huỳnh chạy vội ra cổng để không bị ướt. Tử Chi có đề nghị anh chờ một lát để cô mang ô ra, đi đường về cho đỡ phải ướt nhưng anh lắc đầu “Dạ bẩm cô, bên ngoài có xe của Hoàng đế đứng đợi nên cô không phải lo cho tôi.”

Khi đến dưới mái hiên của cổng lớn trước nhà, Huỳnh vừa nói tiếng cáo biệt thì Tử Chi nói “Anh Huỳnh, đợi đã.”

Anh quay người lại ngạc nhiên hỏi “Dạ bẩm, tiểu thơ còn điều chi muốn dặn dò?”

Tử Chi không trả lời ngay, đầu khẽ xoay người lại nhìn bóng mẹ mình đang ngồi trên ghế trong nhà khách, rồi quay lại nhìn anh Huỳnh ngập ngừng “Chẳng hay, hôm nay khi anh nhận tin từ Hoàng thượng, ngoài tin tức của cha tôi, thì ngài….ngài có nhắn gởi gì thêm không? Ngài…có nhắc gì đến tôi không?”

Nói xong những lời này, tay chân Tử Chi cứng đờ, tim cô đánh nhịp liên hồi như thể đợi chờ một cái gật đầu.

Huỳnh như hiểu ý, anh nói “Bẩm cô, vì tình thế gấp rút, ngài không nói nhiều, chỉ kịp nói với tôi những điều ban nãy rồi gọi người chở tôi đến đây ngay. Tiểu thơ cũng biết, Hoàng thượng không phải là người hay tâm sự, tất cả buồn vui sướng khổ, ngài đều giấu trong lòng, cứ tự mình mà chịu đựng. Nhưng dù không nói ra, thân là kẻ kề cận ngài từ sớm, tâm sự của ngài tôi cũng hiểu phần nào, rằng miệng thì im lặng mà trong lòng trước sau vẫn nhớ đến cô, vẫn quan tâm đến tiểu thơ nhiều không kể. Cớ sự ngày hôm nay ngài nhận hết lỗi nơi ngài, tôi nghĩ, phần nhiều là vì nó làm cho tiểu thơ đang yên đang lành lại phải bị cắm ngay mảnh sành, ngài áy náy không nguôi.”

Tử Chi nghe xong, lòng nhẹ được phần nào, nghẹn giọng nói “Cảm ơn anh, tôi cũng biết Hoàng thượng thương gia đình tôi nhiều, chỉ là…”

Huỳnh an ủi “Bẩm cô, tôi hiểu. Ngài ấy và tiểu thơ đều có tâm sự của riêng mình không nói được với ai. Tiểu thơ xin thứ cho tôi nhiều lời, đến nước này rồi, cô chắc giờ cũng hiểu vì sao ngày xưa chuyện của cô cùng ngài ấy lại vô duyên vô cớ không thành, dù rằng lễ vật đã đem tận nhà, con dâu đã được gặp mặt mẹ chồng, chỉ chờ ngày lên xe hoa mà rước vô Nội rồi chứ?”

Tử Chi ngẩn người ra một lát, rồi trân mắt nhìn anh Huỳnh, giọng lấp bấp “Chẳng lẽ…chẳng lẽ vì Hoàng thượng đã biết được rằng trước sau sẽ có ngày hôm nay?”

Anh Huỳnh gật đầu với vẻ mặt thương cảm “Dạ bẩm cô, phải như vậy. Khoảng thời gian Hoàng thượng biết được thông tin liên lạc từ phía hội cách mạng là lúc ngài đã bắt đầu hứa hôn với tiểu thơ. Nhưng ngay sau khi các nhà hoạt động liên lạc được với ngài, ngài vui lắm, bảo là đất nước sắp thoát khỏi bọn Pháp rồi, lại còn sốt sắng cùng các nhà lãnh đạo đó bàn tính cho đêm khởi nghĩa. Nhưng sau đó không lâu, Hoàng thượng lại thường trầm ngâm suy nghĩ mông lung, không vui như trước nữa, bảo rằng chuyện của Hoàng thượng cùng tiểu thơ chắc không có cơ hội. Rồi, chỉ đúng một tuần sau khi ngài nhận tin thì tôi nghe ngài từ hôn với nhà tiểu thơ. Còn những gì diễn ra sau này, thì chắc cô cũng đã rõ.”

Mắt Tử Chi như tối sầm, xung quanh mọi thứ dần tan biến. Mưa không nặng hạt, nhưng không khí bỗng dưng trở nên lạnh lẽo, lạnh đến thấu cả tâm can. Những lời anh Huỳnh nói như bóp nghẹn cô cho đến khi nước mắt chảy ra từng dòng. Tử Chi đau đớn “Vậy là,…ngài, ngài vì ta, trước sau cũng vì ta. Ta…”

Anh Huỳnh nhìn ra xe rồi gấp rút nói “Mong tiểu thơ đừng đau lòng quá. Hoàng thượng nếu biết tiểu thơ vì ngài mà đứng dưới mưa khóc thì chắc chắn sẽ không vui. Tiểu thơ nên đi vào nhà. Đêm đã khuya, tôi giờ phải về. Nếu có thêm thông tin nào thì Hoàng thượng sẽ phái tôi đến đây. Còn bây giờ, xin phép cho tôi được cáo lui.”

Tử Chi vội quẹt nước mắt rồi nói “Cảm ơn anh. Anh đi về cẩn thận. Ngày mai nếu có gặp Hoàng thượng, nhờ anh nhắn rằng nhà tôi cảm ơn ngài, và cũng nói rằng…tôi và mẹ vẫn khỏe.”

Anh Huỳnh cười nhẹ rồi gật đầu bái biệt, sau đó liền chạy nhanh ra xe. Đèn pha bật sáng, soi rõ từng giọt mưa đang rơi xuống mặt đường. Bánh lăn chạy dài lướt qua mấy cây me rồi phóng nhanh vào lối rẽ đằng trước, bỏ lại Tử Chi vẫn còn đứng dưới hiên cổng.

Lá me giờ rơi rụng trước thềm đá theo gió và mưa trong bóng đêm, thêm tiếng xào xạc vây xung quanh như tô điểm cho tâm trạng thêm mấy phần tịch mịch, cô liêu. Giờ đây trong Tử Chi dâng lên một nỗi niềm khó tả. Biết phải nói gì đây khi tất cả sự thật giờ vỡ lẽ? Biết phải trách ai đây khi sau bao đắng cay của bản thân cuối cùng cũng chẳng thấm đâu so với sự hy sinh của người ta? Cảm xúc khi nhận ra rằng Hoàng thượng vì chân tình dành cho mình mà nhận hết thảy đau khổ làm cô còn chua xót hơn cả lúc bị từ hôn vạn lần. Tay đưa lên rồi ghì chặt miệng kiềm nén không cho bật ra tiếng khóc nấc, nước mắt lớn nhỏ lại thi nhau tuông trào. Đôi chân không còn khả năng để đứng vững, thể xác này đây giờ không còn chút sức lực. Tử Chi khụy xuống, tay đỡ lấy then cài cổng để ngăn khỏi bị ngã. Gió bắt đầu nổi lớn và mưa lại càng nặng hạt, Tử Chi co rúm người lại làm chính mình trở nên nhỏ bé và đáng thương hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ cô muốn hóa mình vào cơn mưa như lúc này, để có thể mãi mãi được nhẹ nhàng, vỡ tan và vĩnh viễn tan biến vào trong bóng đêm hư không tĩnh lặng.


"Chương 9" bởi theboyofschool
( Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )



Đúng như lời hứa của Duy Tân đế, chỉ một ngày sau khi bị bắt, ông Thượng thư đã trở về nhà. Vì vô tội lại là quan triều đình nên bọn Pháp cũng phần nào tỏ ra khách khí, không còn xấc xược như lần trước mà cho người dìu ông xuống đứng trước cổng của phủ rồi mới rời đi.

Tử Chi và bà mệnh phụ mừng đến rơi nước mắt, chưa kịp mừng thì ông bảo rằng chỉ về nhà thay triều phục rồi vào Nội sớm, Tử Chi thắc mắc:

“Triều đình không có Hoàng đế gánh vác, nhưng vẫn còn mấy quan quân khác lo, cha ở nhà nghỉ cho lại sức rồi lên triều sau cũng được.”

Ông lắc đầu, nói “Chuyện này là do người Pháp buộc cha phải làm, không ai có thể thay thế.”

Bà mệnh phụ hỏi “Là chuyện gì mà ông không kịp nghỉ ngơi, phải nhất nhất vào đó ngay lập tức?”

Ông Thượng im nhìn Tử Chi rồi nói “Người Pháp nói tôi phải tiếp tục soạn bản án cho những kẻ mưu đồ chống đối Chính quyền Bảo hộ. Bọn chúng đã có sẵn kết cục cho họ rồi, tôi chỉ như người thay mặt để viết lên thành giấy trắng mực đen.”

Tử Chi như lạnh người, hốt hoảng hỏi “Vậy là người Pháp vẫn nhất quyết không tha cho họ…Còn Hoàng thượng…Hoàng thượng có phải chịu chung số phận hay…”

Ông Thượng mím môi cố gắng bình tĩnh, nói “Những người khác xử chém. Còn Hoàng thượng thì…bị đày ra một hòn đảo của Pháp ở Phi châu.”

Từng nghe cha nói về một vùng đất cách rất rất xa An Nam tên là Phi châu, chỉ là lúc còn quá nhỏ Tử Chi không hiểu được hết nên chẳng để tâm, giờ nghe Hoàng đế phải đi đến đó chịu khổ sai, Tử Chi như chết lặng tại chỗ, lòng cô giờ dâng trào một cảm giác chẳng khác gì nghe được ngài phải đối diện với bản án tử hình. Bởi rời khỏi An Nam sang đó nghĩa là xem như vĩnh viễn muôn đời không thể gặp lại, thế thì so với cái chết có khác gì nhau đâu?

Tử Chi kiềm nén, hỏi cha “Vậy, khi nào Hoàng thượng lên đường vậy thưa cha?”

Ông Thượng nói “Ba ngày nữa, ngay tại cửa Tùng sẽ là lúc Hoàng thượng sang đó.”

Ba ngày nữa, tại cửa Tùng, đó sẽ là lúc nỗi đau kéo dài, triền miên không ngày nào dứt…

-o0o-


Vừa nghe được tin, Bửu Đảo cười lạnh “Dù sao bản án đó cũng còn nhẹ so với những gì ta muốn, nhưng thế cũng tạm được. Rồi hắn ta cũng sẽ phải chết dần chết mòn ở đó, không còn đường lui.”

Lê Lương chống tay lên bàn, nói “Vậy còn mi thì sao? Tên Khâm sứ đã hứa gì với mi khi mi nói rằng mi muốn làm Hoàng đế An Nam?”

Bửu Đảo đưa cành dành dành lên mũi nói nhẹ nhàng “Khi ta đề nghị trao đổi, rằng một khi ta nói hắn nghe bí mật của tên Duy Tân thì hắn phải đưa ta lên làm Hoàng đế, hắn chỉ hứa với ta hai chữ ‘Chắc chắn’.”

Lê Lương bất giác cười sặc sụa, vỗ tay nói “Vậy thì chẳng phải từ nay ta phải gọi mi bằng tiếng ‘Hoàng thượng’ hay sao? ‘Cậu’ Phụng Hóa rớt mồng tơi ngày nào bây giờ lại là người thống lĩnh triều đình, quả là sự đời đổi thay quá nhanh, có phải không?”

Bửu Đảo vẫn không trả lời, mặc cho tên đó nói luyên thuyên. Thấy được nước nên Lê Lương làm tới, đi đến thì thầm bên tai “Này, ta thấy thông minh như ta chắc là đủ để làm quan to trong triều đình, mi thấy sao?”

Bửu Đảo cười giễu “Mi nghĩ chuyện làm quan là dành cho những kẻ ti tiện như mi sao?”

Lê Lương làm mặt tội nghiệp, nói “Ta chỉ thấy rằng làm quan đôi khi không cần phải thanh cao, mà còn phải có thủ đoạn. Ngay cả đến người sắp làm Hoàng đế An Nam thì cũng là một tên bán đứng người trong nhà để có được cái mình muốn thì chuyện ta làm quan không hề bất khả thi. Nhất là…”

Hắn cười nhẹ “…Nhất là khi ta công bố với mọi quan quân trong triều đình và tất cả mọi tờ báo rằng đương kim Hoàng thượng là kẻ bất chấp thủ đoạn thì thử hỏi, mi lúc đó như thế nào?”

Bửu Đảo trừng mắt nhìn hắn, tay nắm chặt thành ghế, Lê Lương vẫn không mảy may lo sợ, cứ tiếp tục ngân nga “Cho nên, tốt nhất là mi nên sắp xếp cho ta một vị trí xứng đáng với công lao của ta đi là vừa, thưa ‘Hoàng thượng’.”

Bửu Đảo vẫn ánh mắt lạnh băng đó một lúc lâu, sau đó miệng chợt nhoẻn một nụ cười vô hồn nói “Được, ‘trẫm’chấp thuận.”

-o0o-


Ba ngày trôi qua nhanh như một cơn gió, cuối cùng cũng đã phải đến lúc Hoàng đế của An Nam nhận hình phạt do Khâm sứ đưa ra. Đường đi ra cửa Tùng như thêm dài, Tử Chi cùng cha và Miên Thanh khởi hành từ sớm. Khi đến nơi cũng đã sáng, vừa bước chân xuống xe, Tử Chi cùng Miên Thanh liền chạy đến bờ biển. Nhìn phía đằng xa, một con tàu của Pháp neo đậu gần bờ, sừng sững đứng đó thu hút sự hiếu kỳ của mọi người, tất cả dân cư gần đó như không nén nổi sự tò mò mà thi nhau chạy ra đứng quanh tàu bàn tán xôn xao.

Miên Thanh hỏi “Tiểu thơ, có phải đó chính là…”

Tử Chi không đáp lời, cũng không còn tâm trí để mà nói bất cứ điều gì, chỉ hồi hộp mà đi từng bước đến đó, bởi cô biết chắc chắn rằng chỉ còn có chưa đầy vài giờ nữa thì chiếc tàu sẽ là thứ đưa Hoàng đế vĩnh viễn rời khỏi nơi này. Dù biết sớm muộn cũng sẽ có lúc này, và ba ngày qua Tử Chi đã cạn nước mắt, nhưng cuối cùng bản thân vẫn không nén được sự xúc động, cô bật khóc ngay khi chưa kịp đến nơi, cứ phải nắm tay Miên Thanh để không phải khụy xuống nửa chừng.

Đứng cạnh đám đông ở gần đó cũng không lâu, phía xa kia có một dọc những xe chạy đến, ngay lập tức những tên lính Pháp nhanh chóng chạy ra thành một hàng chặn trước mặt đám đông, không cho mọi người tiến gần lại chiếc tàu. Chiếc xe ở ngay chính giữa mở cửa, một người bước xuống bị kẹp hai bên là hai lính Pháp, Miên Thanh chỉ tay nói lớn “Tiểu thơ, người kia là Hoàng thượng.”

Không cần nói cũng biết, dáng vẻ đó Tử Chi không thể lẫn được với ai. Cô nhìn theo từng bước đi của Hoàng đế mà không nói lên lời, giờ chỉ còn biết khóc. Hoàng đế vẫn cúi đầu xuống, như thể không muốn phải xấu hổ khi bị chính thần dân của mình nhìn thấy tình cảnh thảm hại này của bản thân.

Khi Hoàng đế đi gần đến tàu, đoán ước chỉ còn vài phút nữa thôi là mọi thứ sẽ mãi mãi chỉ còn là giấc mộng, Tử Chi lấy hết mọi sức lực mà giơ tay lên, nói lớn “Vĩnh San, Vĩnh San ơi, hãy nhìn em.”

Hoàng đế như bị đánh một hồi chuông vào đầu, hai mắt mở to, bất giác quay lại nhìn về phía đám đông mà tìm kiếm. Tiếng gọi đó vừa gần gũi vừa thân thương. Tử Chi, em ở đâu?

Nhìn thấy cánh tay đang giơ lên đằng kia, Hoàng đế như không thể nén được mà ngấn lệ, dáng vẻ của người ngài yêu mến giờ đây tiều tụy, gương mặt giờ đượm buồn khi đang lo sợ giây phút chia ly cực độ, ngài nhìn thấy mà đau xót, không nói được gì, tất cả những lời mà ngài có thể thốt ra chỉ là “Tử Chi…em hãy bảo trọng. Đừng nhớ đến Vĩnh San này.”
Bọn lính Pháp lạnh lùng áp giải Hoàng đế mặc cho ngài níu kéo ánh nhìn cuối cùng đến Tử Chi. Khi ngài từng bước đi lên tàu, Tử Chi không dám nhìn theo, chỉ còn nước mắt ràn rụa mà ôm Miên Thanh trong nỗi đau đớn. Vậy là, tất cả sẽ kết thúc, cuộc chia tay này sẽ là vĩnh viễn.

Tàu rời bến, tiếng còi hú vang cả một vùng biển mênh mông, mọi người đứng xung quanh cũng dần tản ra rồi đi mất, chỉ còn mỗi Tử Chi và Miên Thanh vẫn còn chôn chân ngay tại chỗ. Nhìn ra phía xa, chiếc tàu dần nhỏ lại về hướng đường chân trời, Tử Chi đi như vô hồn, từng bước tiến đến nơi mà những dấu chân cuối cùng của Hoàng đế còn in lên cát, cô khụy xuống, xoa lên nền cát trắng như một hành động cho nỗi tiếc thương vô bờ bến. Tiếng biển vẫn rì rào sóng vỗ như nó đã từng, không khác gì tiếng sóng trong buổi sáng cả hai gặp nhau, nhưng giờ đây như gào thét một nỗi cay đắng, hát lên bài ca cho một cuộc tình tan như bọt biển.

Tử Chi nhắm mắt, đưa nắm cát trên tay đặt lên ngực, nói “Vĩnh San, em nguyện một đời vì ngài.”

Giờ đây chỉ còn tiếng sóng đáp lời, không cách nào có thể lấp đầy được tâm trạng thiếu vắng một điều lớn lao trong lòng Tử Chi lúc này. Nỗi đau đó, thấm vào tâm can, sẽ mãi day dứt không bao giờ nguôi…

-o0o-


Ngày 18 tháng 5,

Ngài Phụng Hóa công, con trai của Đồng Khánh đế tiến vào điện Thái Hòa làm lễ đăng quang, chính thức lên ngôi Hoàng đế Nam triều, lấy niên hiệu là Khải Định.

Như một hành động tỏ rõ sự kính trọng, Khải Định đã cho xây một trường học gần Đại Nội tên Đồng Khánh. Mất gần 3 tháng để xây, trường chỉ còn có vài ngày nữa là khánh thành, chính tay ngài sẽ cắt dải băng cho trường như một vinh dự đặc biệt. Hiệu trưởng trường như muốn tăng thêm phần trang trọng, còn định nhờ một nữ sinh giỏi nhất vùng lên đọc diễn văn và cùng Hoàng đế cắt băng trong buổi lễ, chỉ là ông không biết ai có thể vừa giỏi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp. Nghe người ta nói con gái ông Thượng thư bộ Học nổi danh vừa xinh đẹp lại tài giỏi, biết cả tiếng Pháp, may thay, ông lại là bạn của ông Thượng thư nên đánh liều mở lời mời. Ông Thượng thư sau khi nghe vậy, cũng tỏ vẻ chấp thuận, liền về nhà gọi Miên Thanh:

“Con hãy cố thuyết phục tiểu thơ. Xem như đây là dịp để nó đi ra ngoài, nhìn nó cứ mãi ủ rũ, ta không đành lòng.”

Miên Thanh e dè nói “Bẩm ông, con chỉ sợ tiểu thơ nhất quyết không chịu, bảo không khỏe rồi một mực từ chối.”

Ông Thượng nói “Con cứ bảo đây là do ta nhờ nó, có ta đánh tiếng, lại do con thuyết phục, ta nghĩ cũng sẽ không đến nỗi.”

Miên Thanh cũng không còn cách nào khác, đành gật đầu vâng lời. Chẳng ngờ, đúng như lời ông Thượng nói, sau khi nghe Miên Thanh bảo đây là do bạn của ông Thượng đánh tiếng nên ông không dám lắc đầu, Tử Chi cũng đồng ý dù trên mặt rõ ràng là đang miễn cưỡng:

“Cha đã nói vậy, ta cũng không dám nói không. Em nói với cha rằng ngày đó ta sẽ đến.”

Miên Thanh cười “Cũng là tiểu thơ nghĩ cho ông nhiều nhất.”

Tử Chi vẫn không nhìn lên, mắt vẫn chăm chú vào sách, nói nhẹ nhàng như không “Cha có thể từ chối, nhưng vì không nỡ thấy ta cứ ngồi miết trong phòng nên kiếm cớ buộc ta ra ngoài, ta còn lạ gì nữa.”

Miên Thanh bị nói trúng tim đen nên không dám cười nữa, chỉ thưa dạ rồi nhẹ nhàng đi ra ngoài, để Tử Chi ở lại một mình.

Trường Đồng Khánh cách xa Hồ phủ cũng gần một dặm, Tử Chi khởi hành đi từ sớm ngày hôm đó. Vài hôm nay có mưa, may sao lúc ra khỏi nhà nắng đẹp, Miên Thanh cùng Tử Chi lên xe kéo rồi đi đến nơi.

Miên Thanh đỡ Tử Chi xuống xe, cười nói “Trường mới xây, đúng thật là đẹp thưa tiểu thơ.”

Tử Chi không đáp lời, chỉ nhìn quanh rồi nói “Hôm nay nhiều người đến dự lễ, ta với em mau gặp hiệu trưởng rồi ngồi đợi ở bên trong, tránh lát nữa đông người nhiều việc.”

Miên Thanh dạ một tiếng rồi cả hai cùng đi đến dãy phòng phía tây đằng kia, học sinh lớn nhỏ đứng xếp hàng ngay giữa trường, thi nhau trò chuyện. Ở ngay trên cùng, mấy quan chức người Pháp cũng lác đác vài người, Tử Chi nhìn rồi chợt thấy một sự khó chịu dâng lên trong lòng, bèn đi nhanh đến phòng hiệu trưởng.

Vừa đến nơi, ông hiệu trưởng đứng lên chạy ra cười “Cứ nghĩ tiểu thơ không thích rời khuê phòng mà đến chỗ đông đúc, hôm nay thấy tiểu thơ có mặt ở đây quả thật quá quý.”

Tử Chi dịu dàng nói “Ông hiệu trưởng đừng khách sáo, dù sao cũng là bạn hữu cha tôi, tôi không dám từ chối. Nếu sẵn tiện hiệu trưởng có thể đưa tôi bản diễn văn để tôi xem qua trước, tránh một lát có điều chi sơ sót thì lại không hay.”

“Được, được chứ.” – hiệu trưởng gật đầu rồi chạy đến bàn, đưa hai tờ giấy cho cô rồi nói “Đây là bản Pháp ngữ và Việt ngữ, biết tiểu thơ thông thạo cả hai nên tôi mới dám nhờ.”

Tử Chi không nói gì, chỉ nhận lấy rồi cười. Vừa lướt mắt được vài dòng thì nghe tiếng hô “Hoàng thượng giá lâm.”

Tử Chi nhìn ông hiệu trưởng hỏi “Hôm nay đương kim Hoàng thượng cũng có mặt nữa sao, tôi không nghe nói.”

Hiệu trưởng nói “Chắc tiểu thơ không biết, trường này là do Hoàng thượng lệnh người xây nên, vì vậy mà hôm nay mới có mặt, một chút nữa sẽ cùng tiểu thơ cắt băng khánh thành.”

Rồi ông nhìn ra ngoài kia nói “Hoàng thượng vừa đến, chúng ta cũng nên ra hành lễ mới phải phép, mời tiểu thơ đi trước.”

Tử Chi cười “Hiệu trưởng dù sao cũng là người đứng đầu, tôi đọc xong bản diễn văn này rồi sẽ theo gót ông đi hành lễ với Hoàng thượng sau vậy.”

Hiệu trưởng nghe vậy, không nói gì, chỉ gật đầu rồi đi ra ngoài. Miên Thanh đợi ông đi trước rồi mới hỏi “Bẩm tiểu thơ, em cũng nghĩ chúng ta nên ra ngoài hành lễ với Hoàng thượng thì tốt hơn.”

Tử Chi trầm giọng “Ta nghe nói Hoàng thượng là người ủng hộ nước Pháp, ta không thích, cũng thấy không cần phải hành lễ, em cứ ở trong đây với ta là được.”

Biết Tử Chi hận Chính quyền Bảo hộ từ ngày Xuất đế (1) lên đường đi đày sang đảo, giờ thấy Tử Chi nghiêm giọng, Miên Thanh sợ bị mắng nên không dám nói thêm.

( (1) Xuất đế: tên gọi khác của Duy Tân đế từ ngày chịu phạt lưu đày.)

Thấy thánh thượng đến, mọi người thi nhau quỳ hành lễ, không dám sơ sót, Hoàng đế không mấy giỏi tiếng Pháp nên cũng không giao lưu với mấy quan chức Pháp nhiều, chỉ trò chuyện với hiệu trưởng cùng vài người Việt, mãi đến khi gần đến giờ làm lễ, Hoàng đế mới có thời gian ngồi xuống một chút. Vừa nghe rằng hôm nay có một tiểu thơ con của ông Thượng bộ Học cũng đến dự, lại được chọn để đọc diễn văn, Hoàng đế bất giác hỏi “Tiểu thơ con ông Thượng, cô ta là tài nữ lẫy lừng lắm hay sao mà lại có được vinh dự đó?”

Thị vệ Phúc An đứng bên cạnh trả lời “Dạ bẩm Hoàng thượng, thần cũng không rõ lắm, chỉ nghe cha của thần nói rằng cô tiểu thơ này thông thạo Pháp ngữ, văn chương đều giỏi, lại là con nhà khuê các. Chỉ là chuyện tình duyên không may mắn như người ta.”

Hoàng đế nhìn Phúc An, chau mày “Không may mắn, ý của ngươi là gì?”

Phúc An kính cẩn tâu “Dạ bẩm, thần nghe nói tiểu thơ này đã được Xuất đế hứa hôn, chỉ là không biết vì sao mà ngài ấy lại từ hôn khi gần đến ngày rước dâu. Chuyện này dù được giữ kín nhưng ai dưới triều Xuất đế cũng đều loáng thoáng nghe qua mấy lần.”

Vừa nhắc đến hai chữ “Xuất đế” thì Hoàng đế cảm thấy không vui, liền không hỏi nữa mà chỉ gật đầu rồi ngồi im đợi đến lúc làm lễ.

Chỉ lát sau là mọi thứ đã sẵn sàng, trống trường vang lên báo hiệu buổi lễ bắt đầu. Ông hiệu trưởng đứng lên đọc vài câu diễn văn rồi mời một quan chức người Pháp lên, cuối cùng là phần của Tử Chi. Vừa nghe tên mình, cô bước ra, đứng ngay giữa trường rồi dõng dạc đọc.

Hoàng đế ngồi bên trong, cảm thấy hơi mệt, chỉ vừa nghe đến lúc hiệu trưởng mời Tử Chi ra đọc diễn văn thì mới chỉnh người ngồi lại ngay ngắn một chút để xem mặt mũi cô tiểu thơ này ra sao. Cảm xúc nhìn lần đầu cũng thấy có chút quen thuộc, chỉ là chưa nhớ ra là đã gặp ở đâu, lại nghe giọng đọc tiếng Pháp rất rành mạch nên lòng cũng thấy ấn tượng, nghĩ rằng cô nàng quả đúng như lời Phúc An nói.

Tử Chi vừa kết thúc bài diễn văn thì ngay tiếp theo là đến phần Hoàng đế cùng cô làm lễ cắt dải băng khánh thành. Hoàng đế vừa nghe lời mời là đứng dậy chỉnh áo, bên dưới mọi người có lẽ vì sợ thất lễ với Hoàng đế đương triều mà im lặng, không ai dám nói lời lớn nhỏ.

Tử Chi bưng mâm gấm đỏ, kính cẩn quỳ gối dâng Hoàng đế cây kéo dùng để cắt dải lụa hồng khánh thành. Hoàng đế bước xuống bục, miễn lễ cho Tử Chi đứng dậy rồi vén tay áo định nhấc kéo lên. Lúc này Hoàng đế mới thực sự để tâm đến dung mạo của cô tiểu thơ này. Vừa nhìn thấy, ngài đã biết vì sao nàng ta lại trong quen thuộc đến như vậy, khung cảnh của ngày hôm đó ngay tại góc đường chợt hiện ra trong tức khắc, với cô gái bưng rổ bánh trên tay, mùi hương hoa dành dành trong miếng lá gói làm ngài say mê từ dạo đó, cô gái đó, người mà Hoàng đế cứ mong mỏi được gặp lại một lần đang đứng trước mặt ngài, tiểu thơ của Hồ phủ, Hồ Tử Chi.

Thấy Hoàng đế chợt đứng im tại chỗ dù tay đã chạm kéo vẫn không chịu nhấc lên, Tử Chi không biết xử trí thế nào là phải, mắt vẫn không dám nhìn mặt thánh, bèn nhún gối nói nhỏ “Con xin mạn phép thay mặt trường dâng kéo cho Hoàng thượng, kính mong Hoàng thượng cắt băng khánh thành.”

Hoàng đế như kéo về từ cơn mơ, chớp mắt vài cái rồi gật đầu cho đỡ lúng túng, cầm kéo lên và cắt một đường ngang dải lụa màu hồng ngay trước mặt trong tiếng hô vang của mọi người. Buỗi lễ kết thúc nhanh chóng, Tử Chi cũng lui vào trong để chuẩn bị đi về trong khi Hoàng đế phải gặp vài quan chức sau đó rồi mới được nghỉ.

Chuyện trò được vài câu, Hoàng đế lấy cớ phải gấp rút về triều nên không đứng tiếp chuyện lâu hơn với mấy tên người Pháp, ngài đi vào trong, nhìn quanh tìm Tử Chi nhưng không thấy. Nghĩ ngài đang cần truyền ai đó diện kiến, Phúc An hỏi “Bẩm Hoàng thượng, Hoàng thượng có ý muốn tìm ai, thần sẽ đi truyền lệnh cho người.”

Hoàng đế vẫn nhướn người tìm quanh, nói “Tử Chi, cô tiểu thơ ban nãy, cô ta đâu rồi?”

Phúc An cũng dáo dát trái phải, vài khắc sau thì chỉ về phía cổng trường, reo lên “Hoàng thượng, cô ta đằng kia.”

Tử Chi đang quay lưng lại với ngài, đi bên cạnh thì đúng như ngài nghĩ, chính là cô nàng láu táu mồm năm miệng mười hôm nọ, quả thật không sai, cả hai đang trò chuyện say sưa không để ý trước sau. Phúc An cúi người nói “Thần sẽ đi gọi cô ta lại ngay thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế giơ tay lên nói “Khoan đã.”

Phúc An nhìn ngài nói “Dạ?”

Hoàng đế nghi hoặc hỏi “Ngươi có chắc cô ta là con gái của ông Thượng thư bộ Học hay không?”

Phúc An quả quyết “Dạ bẩm, ban đầu thì thần còn chưa biết rõ thực hư, nhưng nghe cái tên Hồ Tử Chi thì thần cam đoan là đúng thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế nhìn Tử Chi cùng Miên Thanh cho đến lúc leo lên xe kéo rồi đi khuất dạng, ra lệnh “Chúng ta đi về triều.”

-o0o-


Vừa bước vào điện Cần Chánh, một tên thái giám liền nối gót Hoàng đế, tâu “Bẩm Hoàng thượng, Hoàng lệnh từ và Hoàng nguyên từ vừa gọi thần qua chỗ hai đức bà, bảo thần đưa cho Hoàng thượng quyển sổ này ạ.”

Hoàng đế hơi nheo mắt, nhìn thứ trên tay hắn, hỏi “Là vật gì?”

Hắn liền đáp “Dạ bẩm, là danh sách các tiểu thơ con của các quan trong triều đang đợi Hoàng thượng chọn xem ai được làm cung phi.”

Hoàng đế nghe vậy, liền cẩm quyển sổ lên, nhìn từng trang một, xong nhìn tên thái giám nói “Trong đây không có tên của con gái ông Thượng thư bộ Học.”

Hắn cười nói “Dạ bẩm, mấy ngày trước khi hai đức bà bắt đầu tuyển phi thì ông Thượng thư đã xin được từ chối để tên con mình vào thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế nhìn hắn, rồi liếc nhẹ mắt ra bên ngoài suy nghĩ một lát, xong lệnh “Ngươi mau truyền lệnh cho người liên lạc với ông Thượng, bảo ông vào triều diện kiến trẫm.”

Hắn dạ một tiếng rồi nói tiếp “Dạ thưa, vậy sẵn tiện đây cho phép thần được hỏi, chẳng hay tối nay Hoàng thượng sẽ chọn chỗ của ai để nghỉ ngơi vậy ạ? Đêm hôm trước Hoàng thượng đã chọn thạch bài (2) của Hoàng quý phi, vậy hôm nay chẳng biết thánh ý như thế nào ạ?”

( (2)Thạch bài: miếng thẻ đá ghi tước vị cung phi, dùng để Hoàng đế chọn ai sẽ hầu hạ Hoàng đế ngự tẩm trong tối hôm đó)

Hoàng đế không nghĩ nhiều liền thuận miệng nói hai chữ “Chiêu phi.”

Tên thái giám cười xong nói dạ một tiếng rồi lui ra ngoài. Hoàng đế thấy không còn ai trong điện mới thả người xuống ghế, tay nhẹ xoa thái dương, vừa định gọi Phúc An vào hầu trà thì hắn chạy vào trước, gấp gáp nói:

“Bẩm Hoàng thượng, có chuyện rồi.”

Hoàng đế nhìn hắn nghi hoặc “Có chuyện gì, rõ ràng mà nói.”

Hắn nói nhanh “Bẩm, ở ngoài Ngọ Môn có một tên tự xưng là Lê Lương, bảo rằng hắn sắp được phong làm quan lớn trong triều nên nghênh ngang tiến vào điện Thái Hòa, đang bị thị vệ ngoài đó ngăn lại. Thưa Hoàng thượng, chẳng hay phải làm sao đây ạ?”

Hoàng đế nghe xong liền cười lạnh. Tên Lê Lương không ngờ lại liều mạng như vậy, nghĩ rằng chỉ với vài lời đe dọa của hắn mà ngài lại nhất nhất nghe theo, giờ còn dám ngang nhiên tiến vào Đại Nội, quả thực hết sức không tưởng. Hoàng đế chợt cao giọng hỏi “Ngươi còn nhớ mấy ngày trước trẫm có có nói rằng, triều đình sắp có một chuyến tàu đem phạm nhân đến Côn Lôn (3) mà khổ sai chứ? Hôm nay là ngày khởi hành phải không?”

( (3) Côn Lôn: Côn đảo ngày nay)

Phúc An không hiểu ý của Hoàng đế nhưng vẫn cúi đầu nói “Dạ, bẩm Hoàng thượng, không sai ạ.”

Hoàng đế trầm giọng, lạnh lùng nói “Tàu hình như vẫn còn dư vài chỗ, phải không?”

Phúc An hiểu ra thâm ý, liền cười nói “Bẩm, thần đã tỏ, xin được ngay lập tức truyền lệnh của Hoàng thượng.”

Hoàng đế căn dặn “Lệnh cho bọn thị vệ ngoài kia làm cho hắn im miệng trước khi đem hắn ra tàu. Trẫm không muốn hắn tiếp tục làm ô uế Ngọ Môn.”

“Hạ thần tuân mệnh”. Nói rồi Phúc An nhanh chóng đi ra ngoài.

-o0o-


Chiều hôm đó, ông Thượng tiếp kiến Hoàng đế theo như lệnh, điện Cần Chánh dù đổi chủ nhưng vẫn còn những mùi hương cũ cùng sự tĩnh lặng không gì thay đổi. Đứng trước Hoàng đế, ông Thượng quỳ hành lễ rồi được lệnh đứng dậy và ngồi lên kỷ bên cạnh.

Hoàng đế chống tay lên gối xếp, cười nói “Từ lúc trẫm lên ngôi, ông Thượng đều không dị nghị vua cũ vua mới, mọi chuyện lễ tiết trong triều nhờ ông mà đều được làm rất chu đáo. Trẫm rất hài lòng.”

Ông Thượng khiêm tốn “Bẩm, thần quả thực không dám nhận lời khen của Hoàng thượng. Đã là nhiệm vụ của hạ thần thì trước sau thần đều chỉ biết làm tròn trách nhiệm, không dám dị nghị cũ mới.”

Hoàng đế hài lòng nói tiếp “Vì thấy ông là bậc lão thần nên mới định bàn với ông một chuyện. Trẫm mới lên ngôi, chuyện triều chính còn ngổn ngang nên không kịp tấn tôn hai đức mẫu lên những vị trí xứng đáng, lòng trẫm luôn thấy áy náy.”

Ông Thượng nói “Dạ bẩm, đợt trước Hoàng thượng đã lệnh phong Hoàng quý phi của Đồng Khánh đế lên làm Hoàng nguyên từ, Nghi tần là sinh mẫu của Hoàng thượng lên làm Hoàng lệnh từ. Vậy chẳng hay Hoàng thượng có ý muốn tấn phong hai đức bà lên bậc Hoàng thái hậu và Hoàng thái phi chăng?”

Hoàng đế hơi chau mày, hỏi “Trẫm muốn tấn phong Hoàng lệnh từ lên làm Hoàng thái hậu, bằng vai bằng vế với Hoàng nguyên từ, ông thấy liệu có được?”

Ông Thượng cúi đầu nói “Bẩm, Nam triều từ thời Minh Mạng đã không có lệ lập Hoàng hậu, nội đình bậc cao nhất chỉ lập Hoàng quý phi, khi Hoàng đế băng hà thì mới lập làm Hoàng thái hậu, mẹ sanh của Hoàng đế lên ngôi chỉ được phong làm Hoàng thái phi. Cho nên nếu Hoàng thượng làm theo như ý định thì chỉ e…điều này sẽ trái với quy tắc trước nay.”

Hoàng đế không nói gì, chỉ nhìn sang chỗ khác suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu “Thế thì trẫm phong Hoàng lệnh từ làm Hoàng thái phi là được. Nhưng trẫm muốn mỗi đợt Đại Khánh (4) của mỗi đức bà đều phải có tên riêng, như vậy mới thêm phần cung kính. Chuyện này cả chuyện quyết định phong hiệu cho hai đức bà cũng do ông chọn giúp trẫm. Ông cứ trình lên, trẫm sẽ xem sau.”

( (4) Đại khánh: lễ sinh nhật của Hoàng thai hậu hoặc Hoàng đế)

Ông Thượng cúi người tâu “Hạ thần tuân mệnh.” rồi nói “Nếu không còn việc gì khác, thần xin…”

Hoàng đế ngắt lời “Trẫm còn một chuyện muốn nói.”

“Dạ, hạ thần xin được nghe.”

Hoàng đế chậm rãi nói “Chuyện sắc phong nội đình vừa qua, ông thấy sao?”

Ông Thượng đáp “Dạ, bẩm Hoàng thượng, Hoàng quý phi lẫn các phi tử tổng cộng chỉ có bốn người, quả thực việc sắc phong lẫn sắp xếp chỗ ở cho các lệnh bà không hề khó.”

Hoàng đế nói “Ông cũng thấy nội đình của trẫm không nhiều người, có phải không?”

“Dạ, thưa phải.”

Hoàng đế nhìn xuống, nói như không bận tâm “Việc các quan trong triều tiến cử con gái mình để được làm cung phi trước nay là lệ. Trẫm chỉ thắc mắc rằng, ông Thượng lại không muốn vinh dự này khi một mực không đề tên con mình vào danh sách tuyển cung phi của trẫm. Chẳng hay, đó là nguyên cớ chi?”

Ông Thượng thần sắc thay đổi, liền quỳ xuống nói “Thần không dám, thưa Hoàng thượng, chỉ là…”

Hoàng đế lắng tai nghe “Vậy, cớ sự như thế nào, ông hãy nói rõ cho trẫm nghe thử.”

Ông Thượng run người, tâu “Dạ bẩm Hoàng thượng, con gái của thần…đã được người ta hứa hôn nhưng cũng đã bị từ chối, nó ngày đêm khổ sở lại tủi nhục, cảm thấy bản thân không đủ danh giá để làm cung phi của Hoàng thượng nên thần mới không dám đề tên danh sách tuyển phi tử, chứ không hề có ý gì khác.”

Hoàng đế dãn mặt ra, cười trìu mến “Trẫm cứ tưởng chuyện gì. Trẫm thấy dù hứa hôn hay đã bị từ hôn, nếu chưa lên xe hoa rước dâu thì vẫn chưa phải là gái có chồng. Trẫm không nề hà chuyện đó, ông Thượng đừng nghĩ quá nhiều.”

Ông Thượng thư tuông mồ hôi ướt cả trán “Nhưng mà, tâu Hoàng thượng, thần…”

Hoàng đế cười nói “Trẫm nghe nói tiểu thơ của Hồ phủ đoan trang thùy mị, vừa am tường văn chương thi phú lại giỏi tiếng Pháp, trong khi sau này chắc chắn trẫm sẽ thường hay bàn chuyện với người Pháp nên triều đình phải có một người giúp đỡ. Thế nên trẫm thực cần một người như con gái ông Thượng đây.”

Ông Thượng chưa kịp mở miệng thì Hoàng đế nói tiếp, lúc này miệng vẫn còn cười nhưng lời nói đã có chút gằn giọng “Trẫm hứa sẽ phong cho con gái ông một thứ bậc không hề tầm thường, trẫm muốn ông nên suy nghĩ lại. Đừng phụ lòng của trẫm.”

Năm lời cuối của Hoàng đế làm ông Thượng không còn gì để nói, chỉ có thể im lặng hồi lâu rồi mím môi nói “Thần tuân chỉ.”


"Chương 10" bởi theboyofschool
( Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )




Chương 10


Lệnh vua đã an bài, ông Thượng dù thương xót con gái hết lòng nhưng vẫn là lực bất tòng tâm, đành phải nhìn Tử Chi quỳ trước mặt mình mà khóc cầu xin khi vừa nghe tin dữ:

“Thưa cha, từ ngày Xuất đế lên đường, con đã tự nguyện thủ tiết, cả đời này chỉ dành cho duy nhất một mình ngài, không dám tơ tưởng ai khác. Không phải cha không biết nhờ ngài mà nhà ta thoát khỏi cảnh đày ải. Ơn này nhà ta mang nặng đến khi chết. Giờ cha buộc con phải làm vợ người khác, dù có được làm phi tử triều đình thì con cũng xin cha thay con mà nói lời khước từ với Hoàng thượng.”

Bà mệnh phụ dù thấu hiểu ý chồng nhưng vẫn không cam tâm, nói giúp con gái “Ông tìm cách nói khéo với Hoàng thượng, để ngài suy nghĩ lại. Tử Chi nó đã chịu khổ nhiều, giờ bắt nó phải cắn răng mà vào Nội thì khác nào dạy nó thành đứa vô ơn?”

Ông Thượng khổ tâm nói, giọng như muốn khóc “Ý Hoàng thượng là nhất quyết cưới con mình, tôi đã cố gắng khước từ nhưng Hoàng thượng vẫn một mực không muốn đổi ý. Hoàng thượng nhất quyết cưới con gái mình cũng một phần vì muốn thâu tóm quyền lực của tôi trong triều. Nên chuyện phản bội nghĩa xưa tình cũ là việc tôi chưa bao giờ muốn làm, nhưng không làm thì cả nhà mang tội bất trung với vua, khi đó không thể cứu vãn.”

Tử Chi ôm chân bà mệnh phụ nức nở “Mẹ, xin mẹ cứu con. Con không thể vào Nội làm thiếp của Hoàng thượng được.”

Bà mệnh phụ vuốt đầu Tử Chi, nghẹn giọng hỏi “Thực lòng là hết cách rồi sao ông? Con mình cứ phải chịu cảnh khổ như thế này đến bao giờ nữa?”

Ông Thượng không muốn nhìn cảnh lâm ly, mặt xoay qua chỗ khác, run run nói “Dù biết rằng Hoàng thượng cũng không phải vì yêu mến gì con gái mình mà nhất quyết đưa nó vào cung, nhưng trước sau nếu không cưới thì cũng vẫn xem như là nhà ta mang đại tội. Thôi thì tôi định ba ngày sau, nó vẫn nhất quyết không chịu, tôi sẽ lên báo với Hoàng thượng. Còn nếu Hoàng thượng trách phạt thì bất quá tôi từ quan, về làm vườn mà trốn tội bất trung, xem như chỉ còn đó là cách cuối cùng. Đến mức như vậy Hoàng thượng vẫn nhất định bắt cả nhà chịu tội thì…tôi chỉ còn biết nói tôi và bà ngồi đợi ông trời rủ lòng thương mà thôi.” Rồi ông thở dài “Hai mẹ con bà hãy suy nghĩ kỹ đi.”

-o0o-


Trời cũng gần khuya, gió hiu hắt thổi nhẹ làm đèn treo trên từng dãy cột nhẹ nhàng chuyển động, trải một vệt sáng dài trên những dãy trường lang, soi mờ ảo những bức tường thành cũ kỹ bao bọc xung quanh, làm không gian như phần nào kiềm hãm cái khí trời mát mẻ ban đêm. Tất cả như đang muốn tĩnh lặng mà góp cho đêm dài thêm mấy phần cô liêu, tịch mịch đến nỗi ngay cả trăng với sao cũng thi nhau mà chạy trốn để phiêu du chứ không thèm ở lại đây mà thay đèn chiếu sáng cả hoàng cung.

Hành lang lập lòe đèn lồng của các cung nữ, thị vệ và thái giám, tất cả dù đi qua từng cung viện, nhưng cũng không ai dám trò chuyện với ai, bước chân cũng cố gắng nhẹ nhàng nhất có thể, chung quy cũng vì sợ kinh động bề trên mà bị giáng tội nên cả thảy đều im lặng mà làm việc.

Ở trong điện, nến vẫn thắp sáng khắp nơi, Hoàng quý phi chưa ngủ, cô vẫn còn đang ngồi soi gương chải tóc, dù đường lược đi không thẳng vì cả ngày mệt mỏi nhưng nghe trong gió mát đưa hơi sương vào trong nên lòng cũng cảm thấy thoải mái. Bạch Tú đứng sau lưng, tay vuốt nhẹ lược ngà, nói:

“Bẩm bà Hoàng, em chợt nhớ ra lúc nãy Hoàng thượng có cho người sang đây, nhắn em rằng sáng hôm sau nhớ pha thêm dầu bạc hà vào nước rửa mặt cho lệnh bà, có như vậy thì lệnh bà mới thấy sảng khoái.”

Hoàng quý phi mặt hơi ửng đỏ, ngại ngùng nhìn Bạch Tú cười “Vậy sao? Cũng là Hoàng thượng có tâm. Thế cũng được, em hầu ta xong em nhớ chuẩn bị một chén chè đậu xanh đường phèn mang sang điện Càn Thành cho Hoàng thượng. Hẳn là tí nữa Hoàng thượng sẽ thấy đói. Nói rằng ta nhắn Hoàng thượng ăn chén chè này xong rồi nghỉ ngơi sớm, đừng thức quá khuya.”

Bạch Tú chợt ngưng chải, buông lược xuống, mặt như hối lỗi “Bẩm bà Hoàng, chè đậu xanh cũng đã chuẩn bị xong, chỉ là…”

Hoàng quý phi giương mắt nhìn nàng ta, hỏi “Sao?”

Bạch Tú chớp chớp mắt, nhả từng lời “Dạ bẩm, chỉ là em nghĩ giờ này có mang qua thì Hoàng thượng cũng không kịp ăn. Ban nãy em vừa thấy cung nữ, thị vệ Càn Thành điện đã khép các cửa trước sau của điện, chắc là giờ này Hoàng thượng đang chuẩn bị di giá đến…viện Thuận Huy của Chiêu phi rồi ạ.”

Hoàng quý phi bỗng dưng thấy hơi nghẹn ở cổ họng, cảm thấy như có một sợi dây bị cắt đứt trong lòng, chỉ ồ một tiếng rồi gật đầu “Vậy thì ngày mai Hoàng thượng dùng cũng được, không sao cả.”

Bạch Tú liền cười làm lành, tay lại tiếp tục chải tóc cho Hoàng quý phi “Nhưng thực ra Hoàng thượng cũng luôn nhớ đến bà Hoàng, chẳng phải chẳng phải kể từ khi Hoàng thượng đăng cơ thì cũng thường xuyên ghé điện Khôn Thái để cùng lệnh bà trò chuyện đó sao?”

Hoàng quý phi cười nhạt, thản nhiên nói “Trước kia khi ta còn là Nguyên cơ (1) Đại Hoa, thì Hoàng thượng đối với ta cũng là như vậy. Sáng Hoàng thượng hàn huyên cùng ta nhưng ban đêm thì lại kề gối người khác, nhìn thấy chuyện đó bao năm ta cũng đã quen rồi.”

( (1) Nguyên cơ: vợ chính thất của vương gia.)

Bạch Tú nghe có chút chua chát trong giọng của Hoàng quý phi, cũng không biết khuyên thế nào, chỉ có thể cười mà an ủi “Nhưng bẩm bà Hoàng, điện Khôn Thái này vốn dĩ là nơi ở dành riêng cho chính cung, ngay đằng sau điện Càn Thành, vừa xa hoa phú lệ, lại có lệnh bà đứng đầu nội đình luôn luôn tương trợ. Hoàng thượng sau này chắc chắn sẽ thích đến nơi này của chúng ta mà thường xuyên đến.”

Hoàng quý phi lấy tay xoa nhẹ lên má, nói như không quan tâm “Có thích hay không thích không phải là do ta ở đâu mà là hoàng thượng có thích đến hay là không. Cách vài bước nhưng lòng muốn đi không ở thì cũng như vậy thôi, Hoàng thượng cưng chiều Chiêu phi ngay từ khi còn ở tiềm để (2), giờ vào cung lại tiếp tục yêu thương, thường đến viện Thuận Huy thăm nàng ta cũng không lấy gì làm lạ.” rồi cô đặt lược lên bàn, thở dài nói “Rốt cuộc thì vẫn là viện Thuận Huy nhận được nhiều sủng ái nhất. Cũng tốt, Hoàng thượng không đến đây thì hôm nay chúng ta đi ngủ sớm vậy.”

( (2) Tiềm để: thời gian trước khi Hoàng đế lên ngôi.)

Bạch Tú nghe vậy cũng đành chịu thua, không an ủi thêm gì, chỉ lấy dầu dừa thoa một chút lên tóc của Hoàng quý phi rồi cung kính nói “Nếu trong nội đình mà ai ai cũng hiền từ đức độ như lệnh bà thì hẳn là phúc đức lớn của Nam triều.” rồi nhìn về phía ngoài cửa mà chua ngoa “Cứ thử nghĩ xem, Chiêu phi từ ngày được phong phi lại càng có phần ngạo mạn hơn ngày xưa, nếu hôm nay mà Hoàng thượng ngự tẩm lệnh bà nữa thì hẳn là nàng ta sẽ bội phần tức giận chứ đâu thể bình tĩnh như lệnh bà.”

Hoàng quý phi hơi nghiêng đầu, nói “Nếu chỉ có mỗi một mình Chiêu phi làm loạn mà số còn lại đều an phận thủ thường thì chẳng phải nội đình này yên bình quá rồi hay sao? Chỉ sợ chẳng mấy ngày nữa Hoàng đế lại nạp thêm phi tần, nội đình này lại thêm phần náo nhiệt, lúc đó ta nghĩ người như Chiêu phi sẽ chẳng thiếu, thậm chí lại còn mạnh mẽ quyết liệt hơn nữa. Thân làm chính cung như ta mà cũng tham gia vào những cuộc tranh đấu đó thì khác nào uổng phí tâm sức mà Hoàng thượng và hai đức bà tin tưởng kỳ vọng cho ta? Rốt cuộc, vẫn là ta phải giữ đoan chính để làm gương cho đức phi tần Nam triều, đó mới là thứ mà ta quan tâm, mà chính hai đức bà cũng vậy.”

Bạch Tú cười thán phục “Lệnh bà đúng thật là người mà chúng phi sau này nên học hỏi.”

Hoàng quý phi không nói gì, chỉ cười hiền rồi chuẩn bị đi ngủ, nhưng rồi như nhớ thêm điều gì, xoay người hỏi Bạch Tú “Ban chiều em đã mang cháo yến sang cho Huệ tần chưa? Nàng ta mới sinh gần đây, lại không có người nhà để chăm sóc, chắc là sẽ vất vả.”

Bạch Tú đáp “Bẩm bà Hoàng, chiều này em đã làm theo lời lệnh bà dặn, trong cháo yến còn có để thêm vài món bổ huyết, Huệ tần cũng tạ ơn lệnh bà nhiều lắm.”

Hoàng quý phi cười “Lần nào cũng vậy, nàng ta cũng khách sáo quá rồi.”

Bạch Tú hơi đưa môi lên, nói “Nói gì thì nói, Huệ tần đúng là có số khổ. Ngày trước khi Huệ tần lên làm cô tư của Hoàng thượng, em mới được ông ở nhà gọi sang chỗ tiềm để để hầu hạ lệnh bà, vậy mà em thấy khi đó Huệ tần cũng ăn mặc không khác gì chúng em. Giờ sinh Hoàng tử thì con mình lại bị đem sang chỗ của Hoàng lệnh từ nuôi nấng chứ không được ngày nào gần gũi, quả là thiệt thòi.”

Hoàng quý phi hơi chau mày, hơi nhìn ra cửa rồi liếc mắt nhìn Bạch Tú mà đanh giọng “Có những lời em không nên nói ra, dù là ở trong chỗ của chúng ta cũng vậy. Ngày trước ở tiềm để thì không nói, nhưng nay đã là Tử Cấm Thành, em phải biết tai vách mạch rừng, lỡ đâu có người nói lại với hai đức bà thì ngay cả ta cũng đành nhìn em bị vả miệng đến chết chứ không thể cứu nổi.”

Bạch Tú liền biết lợi hại, rụt người lại nói “Dạ, em xin nghe lời dạy của lệnh bà, không dám phát ngôn khinh suất.”

Hoàng quý phi giãn mặt ra “Thôi được rồi. Mau thổi đèn đi, ta cũng đã thấy mệt.”

Bạch Tú vâng dạ rồi nhanh chóng đi đến dãy nến gần đó mà thổi tắt, khói theo làn gió nhẹ uyển chuyển bay lên cao, trả lại bên trong một khoảng không im lặng.

-o0o-


Viện Thuận Huy giờ này vẫn còn sáng đèn rực rỡ, chung quy lại cũng là vì lời truyền của Phúc An bên cạnh Hoàng đế rằng tối nay ngài sẽ đến, mà khắp nơi trong viện đều chuẩn bị kỹ càng, Ngay cả chậu tiểu cúc đặt góc ngoài cùng của hiên viện, dù thân là loài hoa dân dã nhưng giờ được dịp nở rộ cũng mười phần duyên dáng khác thường, trông vừa thanh nhã lại thêm phần sang trọng, thế cũng đủ thấy người sắp đặt mọi thứ trong ngoài đã hao phí không ít tâm tư.

Song Oanh từ trong viện bước ra ngoài, nhìn lên thì sương cũng đã bắt đầu sà xuống làm không gian có chút ẩm ướt, đầu liền ngóng về hướng điện Càn Thành của Hoàng đế, vẫn không thấy có bóng dáng đoàn ngự giá đi đến, bèn quay sang tên thị vệ đứng gần đó hạ thấp giọng nói:

“Cung viện khắp nơi đều đã đi ngủ hết rồi, ngay cả chỗ của Hoàng quý phi cũng đã hạ đèn nghỉ ngơi. Vậy mà giờ này Hoàng thượng vẫn chưa đến, có khi nào Hoàng thượng…”

Tên thị vệ chau mày nói “Không lý nào như vậy được, Tổng quản thái giám đã truyền chỉ cho chúng ta chuẩn bị, đây lại là đêm ngự tẩm đầu tiên của Hoàng thượng ở chỗ Chiêu phi lệnh bà, mi đừng nói gỡ.”

Song Oanh lo lắng nói “Hay là ta đi vào trong nói rằng lệnh bà đừng đợi nữa mà đi ngủ sớm.”

Tên kia nghe vậy ngẫm nghĩ chút rồi gật đầu “Lát nữa nếu Hoàng thượng vẫn không bãi giá thì mi vào bẩm báo cũng không muộn.”

Hắn vừa dứt lời thì từ phía tây, đèn lồng theo hàng soi rực một góc, báo hiệu đoàn ngự giá của Hoàng đế xuất hiện, từ từ tiến lại gần viện Thuận Huy. Song Oanh cùng tên kia liếc nhìn nhau rồi cười nhẹ, dẫn đầu mọi cung nữ thị vệ đứng bên ngoài mà cúi người nói đồng thanh:

“Chúng thần xin được thỉnh an Hoàng thượng.”

Dù là ban đêm nhưng xung quanh Hoàng đế vẫn đầy đủ cờ, lọng nối đuôi trước sau, nhìn vô cùng uy nghi hoành tráng. Hoàng đế đến trước cửa viện, chắp tay sau lưng mà nheo mắt hỏi “Chiêu phi của các ngươi đâu rồi, sao không ra nghênh tiếp trẫm?”

Song Oanh vẫn chưa kịp lên tiếng phân trần, thì từ bên trong, một giọng lanh lảnh nũng nịu cất lên “Chẳng phải Hoàng thượng tối nay đã quên em rồi hay sao? Vậy mà còn hỏi thăm đến làm gì cho Lan Dung này thêm tủi thân?”

Hoàng đế phì cười, vẫn không nói gì, chỉ nhìn Chiêu phi dần dần bước ra. Gương mặt nàng ta vẫn còn nét giận dỗi, môi hơi cong lên ngạo mạn trên bộ y phục gấm thêu đóa mẫu đơn, lại làm dáng vẻ nàng ta giữa khung cảnh sáng tối hư ảo này càng thêm thập phần hoa lệ kiêu sa.

Đến ngay trước Hoàng đế, cô nàng vẫn chỉ mắt hướng ra bên ngoài, kiêu kỳ nhất quyết không chịu hành lễ. Hoàng đế cười nhẹ, hỏi vui thích “Em lạnh lùng với trẫm như vậy à?”

Liếc mắt phượng sang Hoàng đế, Chiêu phi nói giọng khổ “Em nào dám phạm tội khi quân, chỉ lo là Hoàng thượng tối nay chọn thạch bài của em mà lại vui thú cùng người khác ở điện Càn Thành nên mới đến trễ thôi.”

Hoàng đế ghé sát tai nàng ta mà vờ mắng “Nói bậy, là trẫm không kịp xem hết các sớ của quan dâng lên nên giờ này mới ghé chỗ của em, tuyệt không có chuyện đứng núi này trông núi nọ.”

Chiêu phi hơi giãn mặt ra, hừ mũi nói “Vậy xem như là em không chấp nhặt lần này với Hoàng thượng đi vậy.”

Hoàng đế cười xòa “Thôi, mau dẫn trẫm vào trong xem em đã chuẩn bị món gì cho trẫm rồi, ngồi làm việc mà bụng cứ mãi cồn cào không dứt.”

Chiêu phi thở dài như than trách “Hóa ra Hoàng thượng chỉ là nhớ cung nữ của nhà trù (3) Thuận Huy viện chứ nào có phải nhớ Lan Dung. Quả là do em nghĩ quá nhiều rồi.” nói xong đưa mắt về phía điện Khôn Thái “Hay như vầy đi, nhà trù ở chỗ Hoàng quý phi là giỏi nhất Tử Cấm Thành, Hoàng thượng ngày mai ghé đó để ăn được món ngon vật lạ đi vậy. Bà Hoàng chắc là cũng đang nhớ thương Hoàng thượng nhiều lắm.”

((3) Nhà trù: nhà bếp)

Hoàng đế nhìn qua đám cung nhân mà trách “Các ngươi xem lệnh bà của mình đi, trẫm đã đến mà cứ thích đuổi cho trẫm đi nơi khác, vậy thì trẫm biết phải làm sao đây chứ?”

Cả thảy mọi người đều che miệng cười khúc khích, Song Oanh lanh lẹ tiến lên trước mà thưa “Bẩm Hoàng thượng, Chiêu phi lệnh bà của chúng con từ chiều đã tự tay vào nhà trù để làm chè nhãn bọc hạt sen cho Hoàng thượng thưởng thức, lại còn bỏ công trang trí khắp viện để Hoàng thượng ngự lãm, tâm tư của lệnh bà quả thực khó ai sánh được. Nếu Hoàng thượng mà nỡ bỏ đi nơi khác thì cũng sẽ bỏ phí hết công sức của lệnh bà đấy ạ.”

Chiêu phi làm vẻ xấu hổ, mắng “Song Oanh không được nói nhiều như vậy. Chờ khi có dịp ta sẽ trị cái miệng của em.”

Mọi người lại được một phen tủm tỉm. Hoàng đế nhìn Chiêu phi đang thẹn thùng hết chỗ nói mà cười lớn một hơi sảng khoái “Quả là em vẫn quan tâm trẫm nhất. Riêng về món này thì trong nội đình chắc không ai qua được Chiêu phi đây.” rồi đưa tay ra, nói dịu dàng “Nào, đừng bắt trẫm đợi nữa, sương nhiều như vậy mà đứng ngoài cửa lâu không tốt cho sức khỏe đâu. Mau cùng trẫm đi vào trong.”

Lúc này Chiêu phi mới nở một nụ cười, nghiêng nước nghiêng thành nhìn Hoàng đế mà ngoan ngoãn nói “Dạ, em xin nghe lệnh.”

Nói xong Hoàng đế nắm chặt tay của nàng ta mà dẫn đi vào gian viện ấm áp bên trong. Cung nhân bên cạnh cũng hiểu ý mà lui ra đứng hết ở ngoài, dần khép cửa viện lại, yên lặng mà nghe tiếng sương rơi trên lá.

Một đêm hoan hỉ trôi qua.

-o0o-


Thời hạn ba ngày của ông Thượng dành cho Tử Chi cũng dần trôi qua. Theo đúng kỳ hẹn, ngày mai nếu Tử Chi vẫn một mực lắc đầu từ chối hôn lễ với Hoàng đế thì ông Thượng thư sẽ tự mình từ chức mà về ở ẩn, trốn tội khi quân.

Tử Chi kể từ lúc nhận tin dữ liền trở bệnh, nằm suốt trong phòng, ngày càng yếu ớt. Hồ phủ ngay cả thỉnh thầy thuốc về đến tận nơi cũng chỉ nói được vài câu rằng ăn uống không tốt, dẫn đến cơ thể suy nhược, chỉ cần nghỉ ngơi tẩm bổ điều độ vài hôm là sẽ khỏi. Dù nói vậy nhưng nhìn sắc mặt Tử Chi càng lúc càng khó coi, tái xanh mỏng manh như nhành liễu, ông Thượng cùng vợ cũng hết lòng lo lắng mà vẫn không có kết quả, sốt ruột không thôi, cả phủ trên dưới ai ai cũng đều như ngồi trên lửa.

Trưa hôm đó, cũng là gần đến giờ ăn, bà mệnh phụ sai Miên Thanh bưng mâm cháo cùng thuốc bổ vào cho Tử Chi dùng. Miên Thanh vâng lời, chỉ khi vừa bước vào phòng thì nhìn thấy Tử Chi đang đứng cạnh cửa sổ, tựa người vào thành mà đặt hai tay trước ngực.

Miên Thanh vội nói “Tiểu thơ còn bệnh, sao lại không nằm nghỉ?” rồi đặt mâm cháo xuống bàn mà mang áo đến khoác lên Tử Chi, xong nói “Bà dặn em đem cháo vào cho cô, ăn xong rồi cố uống chén thuốc cho khỏi bệnh.”

Mắt buồn xa xăm, Tử Chi gật đầu “Cứ để đó đi, lát nữa khi đói ta sẽ ăn.”

Miên Thanh biết Tử Chi đang trong cơn xúc động, cũng không nói gì, chỉ lặng lẽ đứng đằng sau. Tử Chi nhìn hàng lá sắp rơi rụng ngoài kia, nói lời tựa cảm thán “Cuối cùng thì cây tùng trước nhà cũng thay lá, cũng đã đến mùa rồi.”

Miên Thanh nói “Cây thay lá thì cũng đã sắp sang xuân, mọi năm cứ vào khoảng mùa này thì cây nào cũng rụng lá đổi cành.”

Tử Chi đặt tay lên cửa, nói xa xăm “Ta…chắc cũng sắp như lá trên cành, có lẽ sẽ không chịu nổi qua mùa thay lá nào nữa.”

Miên Thanh hoảng hốt nói “Tiểu thơ đừng nói điềm không may, con người ai mà không có lúc ốm đau bệnh tật, rồi tiểu thơ sẽ khỏe lại mà. Nếu tiểu thơ mà có chuyện gì, thì ông bà sẽ như thế nào?”

Tử Chi cười khổ “Phải, còn cha, mẹ…Còn cha mẹ thì ta có muốn chết cũng chết không được.”

Miên Thanh nắm chặt tay Tử Chi “Tiểu thơ xin đừng nói lời bi thương, cứ mãi u sầu mà nghĩ đến những chuyện chết sống thì tiểu thơ không cách nào khỏe lại được.”

Rồi quay lại nhìn Miên Thanh, lãnh đạm nói “Ta thì còn cách nào nữa chứ? Trải qua nhiều chuyện, rốt cuộc ta cũng thấy bản thân mình quá vô dụng. Trước sau cũng nhiều lần chỉ vì chuyện của bản thân mà làm phiền lòng cha mẹ. Ta muốn được mạnh mẽ mà nói với cha mẹ rằng ta không sao cả, để cho cha mẹ không cần lo cho ta nữa. Vì cha có nỗi khổ của cha, ta biết. Mẹ thì có nỗi lòng của mẹ, ta cũng biết. Nhưng chỉ là…”

Hai hàng nước mắt rơi xuống, Tử Chi nghẹn lời “Nhưng chỉ là ta không cam tâm. Không cam tâm khi chỉ vì một người không hề quen biết như Hoàng thượng mà dứt đi mối tình đầu cũng như mối tình cả đời của ta. Ta cũng không cam tâm mà đoạn tuyệt những mơ mộng về hạnh phúc của bản thân mình dù biết tất cả đến cuối cùng cũng sẽ mãi không thành. Em có biết, khi hôm qua ta thoáng nghe được tin rằng Hoàng quý phi của Duy Tân nhất quyết từ bỏ An Nam mà một lòng đi theo ngài đến nơi chịu đọa đày, lòng ta như càng thêm tủi khổ. Khổ vì thấy trong khi mình miệng cứ nói rằng mình sẽ vì người ta suốt đời mà rốt cuộc cũng không đủ can đảm đế cùng người ta chịu khổ. Nhưng rồi ngẫm lại thì mình lại chẳng dám vì cha mẹ hy sinh thân mình, thế rồi ta lại càng thấy mình bất hiếu. Đến cuối cùng thì bản thân ta không trọn tình, mà cũng chẳng trọn nghĩa bên nào. Miên Thanh, ta thử hỏi em, lòng cứ mãi nuôi suy nghĩ đó thì ta làm sao có thể sống tiếp được?”

Miên Thanh giờ cũng đẫm lệ, nói “Tiểu thơ, em xin cô đừng quá bi quan như vậy, tốt xấu gì thì cô cũng vẫn là người mà ông với bà yêu thương nhiều nhất. Đời người có phải muốn là tránh được chuyện không như ý? Sông có khúc thì người cũng có lúc, tiểu thơ đừng mãi nghĩ rằng mình bất lực trước những biến cố mà vội nghĩ mình vô dụng.”

Tử Chi cười giễu “Không vô dụng sao? Nếu bản thân ta không vô dụng thì ta đã dám gật đầu chịu đồng ý với cha về chuyện nạp phi ngay ngày hôm đó. Em cũng biết, bây giờ anh của ta cũng đã phải ra Hà Nội mà học, rồi còn người trong cả phủ này cũng sống nhờ vào chức quan của cha, nếu cha từ quan thì mọi chuyện trong ngoài tất sẽ trở thành dang dở. Thế mà dù tận tường như nhưng đến hôm nay ta vẫn không thể dứt bỏ được những chuyện cũ để gạt đi tình riêng cứu được cả Hồ phủ này. Quả nhiên, ta là kẻ vô dụng mà.”

Miên Thanh cũng coi như là đã hết lời an ủi, đành lau nước mắt mà thở dài, chỉ còn biết nắm cánh tay Tử Chi mà khuyên “Tiểu thơ đừng suy nghĩ nhiều nữa, việc trước mắt là hãy mau ăn bát cháo này rồi uống thuốc cho khỏe người lại rồi nghĩ đến chuyện sau này, sớm muộn gì thì ông với bà cũng sẽ tìm được cách mà. Với lại, em nghĩ nếu tiểu thơ đã yêu thương Xuất đế như vậy thì chắc cô cũng hiểu rằng, ngài ấy cũng sẽ không cam tâm mà nhìn người mình thương yêu suy sụp như bây giờ. Bởi chuyện của ngài ấy và tiểu thơ vốn cũng đã quá bi thương, nên ngài ấy chắc có lẽ cũng không muốn tất cả sẽ làm tiểu thơ thêm đau khổ.”

Nói rồi Miên Thanh liền đi sang dọn cháo với thuốc ra, rót sẵn một tách trà rồi đi ra ngoài, để lại Tử Chi ở trong phòng một mình.

Âm thanh vắng lặng lại như ban đầu, nhưng giờ đây tận đáy lòng Tử Chi không hoàn toàn yên tĩnh. Từng lời của Miên Thanh như một hồi chương vang vọng bên tai, quanh quẩn trong đầu mãi không dứt. Chuyện Xuất đế mà Miên Thanh nói, rốt cuộc cũng không phải không có đạo lý, có lẽ Tử Chi hơn một lần tự nhủ rằng Xuất đế Duy Tân khi biết cô đã phải tự hành hạ bản thân như thế này thì sẽ không thể nào vui được. Chỉ là bây giờ với cô mọi sinh hoạt hằng ngày chợt như một thứ xa xỉ, phải chăng đó như là một cách để tự mình để tang cho cuộc tình quá đẹp đẽ nhưng ngắn ngủi ngày trước, hay là vì bản thân đang tự mình làm ra vẻ quyết liệt để mà từ chối cuộc hôn nhân không tình yêu sắp tới?

Đầu chậm rãi nghĩ, trước mắt tưởng rằng đứng trước mặt là Xuất đế Duy Tân, nếu ngài ấy nhìn thấy dáng vẻ mong manh như đang chờ ngày chết của mình, hẳn là ngài ấy sẽ buồn lắm. Người dịu dàng như ngài có lẽ sẽ chẳng quát tháo mà buộc mình phải ăn, nhưng sẽ chỉ đưa mắt nhìn Tử Chi bằng một dáng vẻ âu sầu mà tự trách rằng mình thân là Hoàng đế mà lại không thể mang lại hạnh phúc cho chính người mình yêu thương. Ánh mắt đó dù chỉ là trong tưởng tượng, nhưng rốt cuộc lại như một cơn bão lòng quay quắt, âm ỉ phảng phất nỗi buồn miên man của hai người ở hai phương trời đang dần cách biệt.

Xung quanh đây chợt như đầy sương mù trắng, hình dáng của Xuất đế chợt mơ hồ như ảo ảnh, hiện ra nửa hư nửa thực. Đôi mắt của ngài không còn sáng như ngày ngài tự nhận mình là Vĩnh San, mà giờ đây lại như đang nhuốm toàn buồn đau, không biết đó là vì nỗi sầu chia ly hay là vì tiếc thương cho Tử Chi không biết quý trọng chính mình? Tâm trạng của Tử Chi lúc này cũng day dứt không nguôi, ngày qua ngày như chán chường nhân thế mà cũng chẳng màng đến chuyện sống còn. Vậy thì rốt cuộc, Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?(4) Nỗi buồn của ai mới đủ để thấu tận tâm can mà không ngày dứt được?

( (4) Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai? – trích Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm)

Bàn tay của ngài nhẹ vươn ra, Tử Chi cảm nhận hơi nóng của nước mắt cứ lăn dài lên má hệt như ngài đang chạm khẽ vào cô mà nhắn nhủ “Em hãy bảo trọng.”, đó cũng là lời cuối cùng mà ngài ấy và cô chính thức đoạn tuyệt ân tình trên bãi biển hôm nào.

Câu nói đó chợt như thức tỉnh cơn mê của Tử Chi. Nhìn lại xung quanh, hình ảnh Duy Tân cũng tan biến như chưa hề tồn tại, trước mắt cũng vẫn là khung cảnh cũ với hương gió chuyển mùa, cái duy nhất có thực chỉ là nước mắt và nỗi nhớ nhung vô hạn. Nhưng có nhớ nhung đến đâu thì cũng chỉ là thương nhớ, mà đã là thương nhớ thì sẽ không thể đem người về lại cho chính bản thân mình.

Tử Chi nhìn lên cửa sổ, chợt nhìn thấy một mầm non mới nhú, cô tự hỏi đây là lúc nào mà đã mọc mầm? Bên cạnh nó là một chiếc lá úa vàng sắp rơi xuống. Chỉ là nếu nhìn lá lìa cành thì ai cũng sẽ nhận định tất cả cũng đang héo khô chờ ngày về với mặt đất, nhưng khi nhìn sang mầm non bên cạnh thì chắc hẳn sẽ nói mọi thứ đang dần đợi ngày được mọc ra lộc xuân mơn mởn. Rốt cuộc, cũng chỉ là chuyện người ta nghĩ như thế nào mà thôi, tốt hay xấu, sống hay chết, vui hay buồn, tất là cho bản thân mình quyết định.

“Phải, từ hôm đó, không còn ngài nữa thì có lẽ cũng chỉ còn một mình em mới có thể tự bảo trọng mình thôi.” – tay vuốt nhẹ cành lộc non ngoài cửa sổ, Tử Chi như tự thầm nói với bóng dáng của Xuất đế còn vương vấn đâu đây và cũng tự nhủ với chính mình.

Nghĩ vậy, Tử Chi chợt thấy bụng mình như reo lên tiếng đòi cho ăn. Nhìn sang bát cháo trên bàn, nhớ lại mấy bữa qua vẫn chưa một lần được ăn một bữa thật sự ngon miệng. Tử Chi nhớ khi xưa mỗi lần mẹ mình nấu cháo thịt là cứ xuýt xoa mãi không thôi, rồi lại phì cười vì chẳng phải ban nãy còn chê hay sao, quả là cảm thấy mình thêm ngu ngốc? Cô đi đến bàn, ngồi xuống và bắt đầu cầm muỗng mà ăn, lòng tự nhủ, bữa ăn này chắc hẳn là sẽ rất ngon.

-o0o-


Bà mệnh phụ đang loay hoay dưới bếp, mấy ngày nay bà tự tay làm những món mà Tử Chi thích ăn, thầm nghĩ bụng có lẽ cháo ăn không ngon nên con gái mình mới ăn lâu như vậy, nên mới định bữa chiều sẽ cho thêm nhiều đồ tẩm bổ được chế biến cẩn thận, mong Tử Chi sẽ ăn nhiều một chút rồi uống thuốc cho khỏe bệnh.

Bà vừa định nhóm bếp thì thấy Tử Chi đang đứng ngay cửa, tay bưng mâm trên đó có bát cháo và chèn thuốc và nhìn mình cười. Bà vội nói “Con chưa khỏe sao lại không sai Miên Thanh đem ra mà lại tự tay làm, như vậy sẽ khó khỏi bệnh.”

Tử Chi dịu dàng nói “Con không sao, cũng thấy trong người đã khỏe. Chỉ là đang định xuống bếp làm chút việc thì lại thấy mẹ lụi cụi làm bếp, lâu rồi mới thấy cảnh này nên lòng có chút vui.”

Bà mệnh phụ đi lại chỗ Tử Chi mà bê mâm lên, nói “Con cứ để cho ta làm rồi vào phòng nghỉ đi, ta sẽ làm thêm mấy món nữa cho con ăn chiều rồi uống thuốc.” xong hơi nhướn mày hỏi “Cháo con ăn có vừa miệng không? Nếu không thì ta sẽ đổi thịt khác, nêm vị khác cho con dễ ăn.”

Tử Chi đi lại ghế, ngồi xuống rồi nắm tay bà mệnh phụ, nói “Cháo ăn ngon lắm, thưa mẹ. Chiều nay mẹ cứ nấu như vậy cho con, con sẽ cố gắng ăn nhiều.”

Bà mệnh phụ nghe vậy mừng rỡ nói “Nếu vậy thì tốt quá, cũng may là ta không quên cách nấu món này.” rồi tất tả đi sang bếp lửa “Để ta tranh thủ nấu một phần nữa rồi tối ta sẽ làm một ít điểm tâm cho con ăn lại sức.”

Tử Chi nhìn mẹ mình rồi thản nhiên nói “Mẹ, chuyện nạp phi của con, con đã suy nghĩ kỹ rồi.”

Bà mệnh phụ liền như bị bất động trong khoảng vài khắc, sau đó từ từ xoay người lại nhìn con gái mình rồi nói quyết đoán “Chuyện đó con không muốn cũng là con có cái lý của mình. Cha mẹ không ép uổng con đâu, cha cũng sẽ lựa lời mà…”

“Con sẽ vào Nội, như ý của Hoàng thượng ban ra.” – Tử Chi nói nhanh.

Bà mệnh phụ tròn mắt như không thể tin được điều vừa nghe, miệng lấp bấp “Con..đi…”
Tử Chi vẫn nói nhẹ nhàng như không “Phải, thưa mẹ, con sẽ chấp nhận nạp phi, mong mẹ thưa lại với cha giúp con việc này.”

Bà mệnh phụ đi lại gần Tử Chi, nắm chặt tay cô mà nghẹn ngào “Tử Chi, chuyện này không phải là chuyện quyết định sớm chiều. Con đừng vì cha mẹ để hy sinh cả đời mình trong cung cấm với người mà bản thân không hề muốn gần gũi, khi đó cha mẹ ở đây dù có yên ổn cũng không sao mà thấy vui được.”

Tử Chi lau nước mắt cho mẹ mà cười buồn “Không nạp phi thì chính bản thân con cũng không thể nào yên ổn. Thôi thì coi như con vì cha vì mẹ lần cuối này đi vậy. Tận hiếu vì cha mẹ, chẳng phải là điều mà mọi người thường dạy nhau đó sao?”

Bà mệnh phụ khóc “Nhưng con ơi, vào Nội là mười thu mẹ con ta cách biệt. Con thì sống không có hạnh phúc, cha con và mẹ làm cách nào cũng không thể thanh thản được.”

Tử Chi cười, nhẹ lắc đầu “Không ai nói trước được chuyện gì, con cũng không biết mình vào đó mà mang danh phi tử thì bản thân sẽ có hạnh phúc hay không, chỉ là bây giờ con không thể nhẹ lòng khi nghĩ rằng cha mẹ hằng ngày sống nơm nớp lo sợ. Còn chuyện mẹ con ta không gặp nhau, chẳng phải lúc trước chúng ta cũng từng phải trải qua cảm giác này vào ngày con nhận lệnh vào cung rồi đó sao? Bây giờ với lúc đó, cũng có khác gì nhau đâu?”

Từ ngày nhiều biến cố xảy ra, mọi người trong phủ đều tránh nhắc đến tất cả mọi chuyện liên quan đến Xuất đế cùng chuyện hứa hôn ngày trước. Bây giờ nghe Tử Chi nhắc lại chuyện được gọi vào hoàng cung mà gặp mặt hai bà Thái hậu – Thái phi bằng một cách tự nhiên không buồn khổ, bà mệnh phụ cảm thấy cũng an tâm phần nào. Bà im lặng suy nghĩ một chút rồi hỏi:

“Ý con đã quyết thì chính người làm mẹ đây cũng không thể phản đối. Ta chỉ mong rằng con sẽ không hối hận.”

Tử Chi cười nhẹ, nói dứt khoát “Thưa mẹ, con cũng đã tự học một bài học với chính bản thân rằng: nếu đã làm thì tuyệt không hối hận. Xin cha và mẹ cứ an tâm.”

-o0o-


Theo lệ thường của Hoàng tộc, chỉ có con gái của quan triều đình mới được dự tuyển phi tần. Sau khi Hoàng đế đã lựa chọn xong những khuê nữ nào được chọn để nạp phi, thì sẽ cùng Học bộ chọn ngày tốt để triệu tập tất cả quan đại thần để ban bố lệnh sắc phong.

Trước đó mấy ngày, vây cánh của từng người cũng ra vào lời lớn nhỏ với nhau, phỏng đoán xem con gái của ai sẽ được Hoàng đế chọn, và quan trọng nhất là sẽ được chọn vào ngôi nào trong cửu bậc phi tần. Những tiểu thơ được nhắc đến nhiều nhất chỉ quanh quẩn vài người, chẳng hạn như con gái của Đại lý tự khanh Dư Bình, vừa là có cha quan Chính tam phẩm lại là cháu họ của Hoàng lệnh từ, chắc hẳn sẽ được phong ở thứ vị cao. Hay con gái của ông Tham tá Phạm Hòe, nổi danh là mỹ nữ một vùng, thi thơ văn chương không ai bì kịp. Nhưng có lẽ ngôi sao sáng nhất vẫn là con gái của ông Thượng thư bộ Học vì được chính miệng Hoàng đế đề nghị đưa tên vào trong danh sách tuyển phi, người ta đoán chắc chắn nàng ta sẽ ở vị trí cao nhất trong dàn khuê nữ sắp nhập cung.

Vào ngày 3 tháng 9, năm Khải Định thứ nhất,

Tại sân Bái mạng, quan quân hàng hàng lũ lượt không dám chậm trễ mà đứng ngay ngắn trước điện Cần Chánh chờ đợi chiếu chỉ sắc phong.

Đến đúng giờ, mành che trước điện được vén lên, báo hiệu thánh chỉ sắp được mở ra, mọi người quỳ xuống chờ đợi thị vệ đọc chiếu lên tiếng. Tên thị vệ dõng dạc hô:

“Nối trời mở vận, Hoàng đế phán rằng : vương hoá gốc từ cửa buồng, nhà nghiêm thì nước mới trị ; triều đình ban ra ân cách, từ trong rồi mới đến ngoài. Tin hợp ngày lành, sắc thư rực rỡ. Nay phụng mệnh tiên vương mà sắc phong cho phi tần nội đình, nối nghiệp dài lâu. Nay Hoàng đế ban lệnh sắc phong:

Trưởng nữ họ Phạm, danh Hạ Huyền, con gái của Tham tá Nội các Phạm Hòe, nhập cung phong làm bậc lục giai Tiệp dư.”

Ông Tham tá đứng cách xa chỗ của ông Thượng thư bộ Học nhất, liền quỳ xuống cúi đầu tạ ơn.

“Thứ nữ họ Dư, danh Lục Dược, con gái của Đại lý tự khanh Dư Bình, nhập cung phong làm bậc tứ giai tần, lấy tên Cẩn. Từ nay Cẩn tần nhận được từ dụ thay mặt Hoàng thượng chăm sóc đức Hoàng nguyên từ và Hoàng lệnh từ, đỡ cho Hoàng thượng phải bận tâm lo nghĩ.”

Không cần nghĩ nhiều, ông Đại lý tự khanh vui mừng quá độ mà vội quỳ xuống hành lễ, miệng lưỡi cuống cả lên.

“Trẫm nay phong: út nữ họ Hồ, danh Tử Chi, con gái của Thượng thư bộ Học, dung nhan đức hạnh, nhập cung làm bậc nhất giai phi, lấy tên Ân, tuyển sung vào nội đình để nghiêm phép tắc trong cung, cùng trợ lực chính cung mà mà chỉnh bề thể thống. Lễ nạp phi sau này lấy quy củ lễ tiết chính thất mà cử hành.”

Khỏi phải bàn cãi, mọi đại thần xung quanh ghen tỵ với ông Thượng không biết bao nhiêu mà kể siết, có lẽ chỉ một vài người là thực sự mừng vui cho ông. Lòng dâng lên một nỗi sợ rất mơ hồ vì chính những vinh dự mà mình vừa nhận được, ông vội quỳ xuống nền đất cứng, run run nói “Thần xin cảm tạ long ân của Hoàng thượng.”

Tiếp theo đó là hàng loạt những khuê nữ được chọn làm phi tần, tiếng đọc chiếu chỉ của Hoàng đế vẫn còn dài chưa chấm dứt, chỉ là bên tai ông giờ như chỉ còn tiếng gió thổi ào ạt, không nghe rõ được thứ gì, cũng không còn muốn để tâm vào nữa. Chẳng hiểu sao cảm giác bất an giờ đây như một chiếc vòng cứ quấn chặt lấy ông, cứ thấy lo lắng cho tương lai của Tử Chi vẫn còn ngổn ngang trăm mối, vì ông biết mặc dù con gái mình đang vinh sủng vô hạn trước mắt vô nhưng phúc họa sau này khó nói, tất cả cũng chỉ còn biết trông mong vào thiên ý.

Bất giác nhìn lên cao, ông sợ rằng số phận Tử Chi sau lời của chiếu chỉ này cũng giống hệt như những mây trên bầu trời xanh kia, sẽ chẳng thể mãi mãi trắng muốt nhẹ nhàng vô định mà cũng có lúc quyện thành bão tố phong ba, nắng rọi hào quang bây giờ nhưng ai biết được lát nữa sẽ là mưa to vần vũ?

Nghĩ đến đó, lòng ông lại thêm nặng nề đầy niềm lo lắng vô hạn, mông lung.


-o0o-


Thứ bậc Nội đình triều Nguyễn


Chính cung Hoàng quý phi

Nhất giai phi

Nhị giai phi

Tam giai tần

Tứ giai tần

Ngũ giai tần

Lục giai Tiệp dư

Thất giai Quý nhân

Bát giai Mỹ nhân

Cửu giai Tài nhân

Tài nhân vị thập giai


"Chương 11" bởi theboyofschool
( Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )




Chương 11



Trong chính điện cung Trường Sanh, hương thơm từ lọ An tức hương nồng đượm trong cả một không gian tĩnh lặng. Trưa đó, Hoàng lệnh từ vẫn còn đang nghỉ ngơi trong hậu điện nên cung nhân bên ngoài không dám quấy rầy, vội vàng tranh thủ lúc này mà đi ra ngoài để pha một chút trà hay tưới cây ngoài vườn, để lại chỉ một người duy nhất đứng hầu bên cạnh Hoàng lệnh từ là bà Lý Sang, đang đặt hai tay trước ngực để đợi lệnh.

Một lát sau, nghe có tiếng động sau lớp rèm lụa mỏng, biết rằng đức Lệnh từ vừa thức dậy, bà Lý Sang liền hiểu ý mà mang thau nước ấm đến cho đức Lệnh từ rửa mặt, súc nước, sau đó hầu bà vấn tóc rồi mới dìu bà ra ngoài tiền điện mà ngồi lên sập, đợi người bưng vài món điểm tâm chiều ra để bà ăn đỡ nhạt miệng.

Lý Sang đặt một đĩa mứt sơn trà được xếp đẹp mắt lên bàn, nghiêng người thưa “Bẩm đức bà, sơn trà này là do bà Hoàng sai người tỉ mẫn làm để dâng lên đức bà làm điểm tâm. Lúc cung nữ mang qua còn nhắn nhủ, bà Hoàng dặn kỹ rằng sơn trà tuy được làm ngọt nhưng cũng vẫn còn vị chua, lúc hầu đức bà nhớ phải pha trà Đinh Ngọc để đức bà vừa uống trà vừa nếm thử, có như vậy đĩa sơn trà này mới thực sự thấy ngon.”

Lệnh từ nâng tay nhẹ chỉnh búi tóc đằng sau, gật đầu nói “Cũng vẫn là bà Hoàng có tâm. Hoàng đế tuy là con của ta nhưng tâm tư vẫn không thể chu đáo bằng.”

Lý Sang rót ra một tách Đinh Ngọc, khói bốc lên nhẹ nhàng mùi chát của trà tươi, cười nói “Nếu đức bà nói vậy thì con xin được nói đỡ cho Hoàng thượng. Đức bà cũng thấy trong ngoài cung Trường Sanh này kể từ ngày Hoàng thượng đăng cơ thì đều do một tay tự ngài bày trí, nhìn vô cùng xa hoa, so với cung Diên Thọ của đức Nguyên từ thì còn có phần lộng lẫy hơn. Lòng hiếu của Hoàng thượng cũng không phải là ít.”

Lệnh từ cắn một múi sơn trà cắt sẵn, tâm đắc nói “Ta còn phải chờ cô nói sao? Không chỉ chuyện tự tay Hoàng đế sắp xếp bố trí mọi thứ trong cung cho thật vừa ý ta, mà còn hạ lệnh cho cô tiếp tục hầu hạ ta, chủ quản mọi thứ trong cung Trường Sanh này, cũng đủ thấy lòng hiếu Hoàng đế quả thực làm người ta cảm động.”

Nhẹ bóp vai cho Lệnh từ, Lý Sang nói “Dạ phải thưa đức bà. Ngay từ lúc đức bà còn là Hòa tần của Đồng Khánh đế, con đã là cung nữ hầu cận, biết mọi thói quen sở thích của đức bà. Chỉ có lúc đức bà rời Nội thì con bị buộc phải ở lại hầu hạ Thành Thái đế chứ không được xuất cung cùng bà. Nhưng lần trở về này, đức bà lại được phong tước vị như bây giờ, Hoàng thượng nhớ tình xưa mà cho con tiếp tục hầu hạ. Con nghĩ lỡ như nếu là người khác thì chắc hẳn cũng không thể hầu hạ đức bà chu đáo như con được đâu ạ.”

Lệnh từ không nói gì, chỉ mỉm cười rồi hớp một ngụm trà, xong như nhớ ra điều gì, nhìn Lý Sang mà hỏi “Hôm nay là ngày phong vị phi tần cho Hoàng đế, từ sớm quan quân có mặt đầy đủ ở điện Cần Chánh chắc giờ này mọi lễ tiết cũng đã xong?”

Lý Sang tâu “Dạ thưa, lễ đã xong từ lúc đức bà đang dùng thiện rồi ạ, nhưng sau đó đức bà nói mệt muốn vào nghỉ trưa nên người bên chỗ Hoàng thượng không dám vào trong bẩm báo, chỉ nhắn lại với con mấy lời.”

Lệnh từ hơi nheo mày hỏi “Vậy Lục Dược rốt cuộc được chiếu cố như thế nào, người bên đó có nói không?”

Lý Sang thưa tiếp “Dạ bẩm, hắn ta không nói, con cũng không tiện hỏi, nhưng hắn có gửi cho cung Trường Sanh một quyển sổ ghi chép, nói rằng đợi đức bà ngủ dậy thì trình cho xem.”

Nói rồi Lý Sang gọi một cung nữ đem quyển sổ tay ra đưa cho Lý Sang, Lệnh từ hối thúc “Cô mau đọc cho ta nghe.”

Lý Sang vâng lời, không đọc theo thứ tự từ thấp lên cao như trong sổ, chỉ lướt mắt sơ tìm cái tên “Dư Lục Dược”, rồi nhìn Lệnh từ cười, hào hứng nói “Bẩm đức bà, tiểu thơ vừa được phong ngôi Tứ giai Cẩn tần vào sáng này, còn được phụng chỉ phụ giúp Hoàng thượng chăm sóc cho đức bà và đức Nguyên từ. Vậy là đức bà có thể yên tâm về tiểu thơ rồi.”

Lệnh từ nghe xong liền thở ra một hơi, gật đầu nói “Hàng tứ giai tần, rốt cuộc phẩm vị của nó cũng không tệ. Những khuê nữ không phải xuất thân từ nơi tiềm để theo lệ thường, sẽ chỉ ở hàng Lục phẩm Tiệp dư là kỳ tích, không ngờ Hoàng thượng lại hào phóng ban Lục Dược hàng tứ giai, thật không uổng công ta đề bạt nó.”

Lý Sang phụ họa “Bẩm, tiểu thơ là họ hàng xa của đức bà, xuất thân cao quý. Hoàng thượng lại một mực kính trọng đức bà nên cũng phá lệ mà phong tước cao.”

Lệnh từ bóc một miếng sơn trà, khoan khoái nói “Vậy nếu không tính ngôi chính cung, thì so ra nó chỉ thua mỗi một mình Chiêu phi hàng nhị giai. Quả thực là Hoàng đế có tính toán cho nó.”

Lý Sang đang nhìn vào sổ mà định đọc tiếp, nghe Lệnh từ nói vậy, liền ngưng cười mà chuyển sang chút sợ hãi, ngập ngừng nói “Thưa đức bà, tiểu thơ trong nội đình xếp sau đến tận 3 chứ không phải 2 đâu ạ.”

Lệnh từ cũng đổi sắc mặt, nghi hoặc hỏi “Ý cô là sao?”

Lý Sang chậm rãi mà đọc “Dạ, theo như trong này ghi chép lại thì ban sáng Hoàng thượng vừa phong tiểu thơ con của ông Thượng thư bộ Học, khuê danh là Hồ Tử Chi, lên làm…Nhất giai Ân phi, còn ghi trong chiếu chỉ là cùng bà Hoàng quản lý chuyện trên dưới nội đình.”

Theo thứ bậc của phi tần nội đình được lập ra từ thời Tự Đức đế, ngôi Nhất giai phi từ trước đến nay được xem như là một chức vị cao quý như một phó quản chuyện tề gia của hoàng cung, quyền lực chỉ đứng sau mỗi Hoàng quý phi, nên việc ai được tấn phong ngôi này có quyền cùng chính cung xử lý việc nội đình là chuyện tất phải có.

Tuy nhiên, đây là tước vị không phải ai cũng dễ dàng có được. Khi xưa Lệnh từ lúc còn là phi tần của Đồng Khánh đế, dù sinh được hai hoàng tử mới chỉ được phong hàng Tứ giai, ngay cả Giai phi Phan Văn thị năm ấy đắc sủng biết bao cũng phải mấy vài năm mới được phong làm Nhất giai phi. Vậy mà giờ đây, khuê nữ nhà ông Thượng bộ Học, không biết nhan sắc ra sao, tiếng tăm lừng lẫy thế nào mà lại một bước leo lên ngôi vị “phó quản” đó, thậm chí còn vượt mặt cả cháu của bà là Dư Lục Dược, há chẳng phải Hoàng đế định làm cho người người đều thấy không phục hay sao?

Lệnh từ suy tư, tự nói một mình “Con gái nhà ông Thượng bộ Học? Hắn ta có con tài giỏi đến thế cơ à?”

Biết rằng từ khi nghe ông Thượng thư là người ngăn cản Hoàng đế tôn Lệnh từ lên hàng Thái hậu mà thay vào đó chỉ là bậc Hoàng thái phi, bà đã không mấy thiện cảm với ông, nên Lý Sang cũng không dám thất thố, lựa lời mà thưa “Bẩm đức bà, vị Ân phi này là người mà lúc trước được chính miệng Hoàng thượng buộc ông Thượng đưa tên con mình vào trong danh sách tuyển phi tử mà con từng kể cho đức bà nghe. Con nghe người ta kể lại Hoàng thượng vì đang rất cần một người biết tiếng Pháp, mà Ân phi thì lại được học tiếng Pháp từ nhỏ, thi văn trong ngoài nước đều giỏi như nhau. Chắc có lẽ vì vậy mà Hoàng thượng vừa lòng chăng?”

Lệnh từ nhẹ lắc đầu “Chuyện Hoàng đế trọng người Pháp thì ta biết. Nhưng chỉ có điều người giỏi tiếng Pháp ở Nam triều không ít, ta thật không biết tại sao Hoàng đế lại nhất quyết dùng một khuê nữ để tham gia chuyện ngoại giao, lại còn phong làm Nhất giai. Cô nghĩ xem có điều gì ẩn khuất mà Hoàng đế đang giấu giếm ta chăng?”

Lý Sang không kiềm lòng được, nói “Con thực lòng cũng không rõ, tâm tư Hoàng thượng nếu đức bà không đoán được thì con cũng đành chịu thua. Nhưng con có biết một chuyện về Ân phi này mà có lẽ đức bà vẫn chưa được nghe kể.”

Lệnh từ nhướn mi “Sao?”

Lý Sang trầm giọng kể “Chuyện này những ai từ thời của Xuất đế thì đều từng loáng thoáng nghe qua. Dù con không được hầu hạ ngự tiền nhưng tin tức cũng lan truyền khắp nơi, rằng Ân phi này ngày xưa từng là người được hứa hôn với Xuất đế, ngài ta còn định phong Ân phi làm hàng chính cung, nhưng gần đến lễ rước dâu thì không biết tại sao gia đình ông Thượng thư cùng Ân phi lại bị từ hôn, rốt cuộc làm Ân phi bị bệnh nặng, phải mời thầy lang gần xa đến trị.”

Lệnh từ dù căm hận Xuất đế, nghe đến hai chữ đó là mặt đã hơi nhăn lại, nhưng cũng không thể kiềm lòng mà thắc mắc “Hắn ta từ hôn Ân phi? Cô có biết lý do hay không?”

Lý Sang thật thà “Dạ bẩm, người chị của con có nhà ở gần phủ ông Thượng nói rằng, Ân phi này như có huông xấu, mấy năm gần đây trong ngoài nhà liên tục xảy ra đủ thứ chuyện, bản thân thì bệnh hoạn liên miên, cha thì có lần bị quân Pháp bắt không rõ lý do, còn Xuất đế hứa hôn với Ân phi thì đức bà cũng biết, bỗng dưng lại bị truất ngôi, phải đi lưu đày vĩnh viễn không được quay về An Nam lần nữa.”

Lệnh từ chau mày hỏi “Ý cô là Ân phi này bị những thứ không sạch sẽ đi theo hay sao?”

Lý Sang mặt hơi kinh sợ, nói “Chuyện thực hư ra sao con cũng không biết, con chỉ thấy rằng từ ngày Xuất đế hứa hôn với Ân phi thì liên tiếp gặp chuyện không may, có khi là họa diệt thân. Đang yên đang lành mà bị tai họa từ đâu giáng xuống, người ta không thể nào không nghi ngờ được.”

Lệnh từ kiên nhẫn nghe đến hết chuyện, dù là chuyện về tên Xuất đế Duy Tân nhưng cũng không hẳn là đáng bỏ ngoài tai. Con gái ông Thượng bộ Học đã từng là người bị từ hôn, tức nghĩa rằng so đo ra thân phận thật không bằng những người khác, đã thế lại là hôn thê cũ của người bà rất căm ghét, giờ còn được Hoàng đế - con bà chính miệng hạ chỉ đưa vào cung, thậm chí còn lập ngôi Nhất giai phi cao quý, bấy nhiêu đó cũng đủ làm Lệnh từ cảm thấy không vừa mắt Ân phi. Thêm nữa là chuyện của Lý Sang kể rằng cô nàng mang đã mang chuyện xấu đến cho tên Xuất đế kia như thế nào, giờ nghiễm nhiên bước vào nội đình thì khác nào Hoàng đế tự rước điềm không may đến cho chính mình hay sao? Lệnh từ ngay khi Hoàng đế đăng cơ, bà cứ yên tâm rằng Xuất đế xưa kia giờ cũng chẳng còn là cái gai trong mắt, nào ngờ hôn thê của hắn lại nhất tâm làm phi tử, sớm tối cầm quyền, quả nhiên cổ nhân có câu “Ghét của nào, trời trao của nấy” thật chẳng hề sai.

Lệnh từ chợt cười lạnh một tiếng “Chưa kịp bước chân vào Tử Cấm Thành đã đủ chuyện thị phi, Ân phi này cũng thật đáo để. Sau này chắc có lẽ cô ta còn phải được chúng ta chiếu cố nhiều rồi.”

Lý Sang hiểu ý, nhẹ cúi đầu “Bẩm đức bà, chẳng mấy ngày nữa Hoàng thượng sẽ tấn phong đức bà lên làm Hoàng thái phi, cũng là người đứng đầu mọi quyền hành trong cung, lúc đó Ân phi được ‘chiếu cố’ theo kiểu gì thì chỉ còn đợi ý định của đức bà như thế nào nữa ạ.”

Lệnh từ không đáp, chỉ từ tốn mà cắn thêm một múi sơn trà, cảm giác dễ chịu, bỗng cảm thấy dù bây giờ không uống thêm chút Đinh Ngọc nào nhưng sơn trà cũng ngọt lịm mà chẳng hề pha chút vị chua như ban đầu nữa.

-o0o-


Trời cũng đã sắp sang xuân, nhân dịp hôm nay nắng dịu mà không oi ả như ngày thường, Chiêu phi lệnh cho người gọi Ngô tiệp dư từ viện Đoan Thuận đến chỗ mình ngồi nói chuyện phiếm cho qua ngày dài rảnh rỗi. Ngô tiệp dư vốn là người vợ thứ ba của Hoàng đế từ lúc còn ở tiềm để, từ ngày vào phủ thì đã có giao tình với Chiêu phi, nên hôm nay vừa nghe cung nữ báo tin là liền đi sang viện Thuận Huy để diện kiến.

Ngồi trên sập, Chiêu phi tay phẩy nhẹ chiếc quạt lông ngỗng, hào hứng nói “Hoàng thượng hôm qua vừa đem về Cơ Hạ viên khoảng mười chậu Bạch tiên nữ, nghe cung nhân ở đó nói lại rằng quả thực hoa hệt như tên, cánh hoa vừa nở cứ làm người ta liên tưởng đến tiên nữ hạ phàm, đúng là loài lan cực quý hiếm.”

Ngô tiệp dư vuốt nhẹ chiếc vòng mã não trên tay, cười nói “Nếu lệnh bà đã thích thú như vậy thì hay là sáng mai chúng ta cùng ra đó tận mắt mà xem, nghe lệnh bà nói thế em cũng thấy tò mò.”

Song Oanh đứng bên cạnh Chiêu phi ao ước “Phải chi Hoàng thượng lệnh cho người tặng cho viện của chúng ta vài chậu thì lệnh bà cũng không cần phải đi xa đến vậy để mà xem hoa.”

Nghe vậy, Ngô tiệp dư liền nói “Hay là đợi khi nào chuyển qua điện Trinh Minh thì lệnh bà cứ thử xin Hoàng thượng mấy chậu Bạch tiên nữ kia? Hoàng thượng với ai thì em không biết nhưng với lệnh bà thì chắc chắn người sẽ đồng ý.”

Chiêu phi hơi ngẩng mặt lên, diễm lệ nói “Điện Trinh Minh từ lâu được định là nơi ở của Nhất, Nhị giai phi, nên trước sau ta cũng chuyển sang đó ở. Chỉ là bây giờ điện đang được tu sửa, mà Hoàng thượng lại vừa đăng cơ nên nhiều việc cần giải quyết, ta cũng chỉ biết chờ chứ không dám nhắc việc đó trước mặt người.”

Ngô tiệp dư gật đầu “Nhưng thực ra ngay từ đầu khi bước vào cung thì Hoàng thượng cũng đã lệnh ban viện Thuận Huy này cho duy nhất một mình lệnh bà ở tạm trong lúc chờ điện Trinh Minh tu sửa xong. Ở đây vừa rộng rãi, khắp nơi lại bày trí đẹp mắt, nên dù sao thì em cũng thấy Hoàng thượng vẫn là coi trọng lệnh bà nhất.”

Chiêu phi chậm rãi bóc quả vải trên bàn, bình thản nói “Chỗ này có đẹp đến đâu thì cũng không thể so được với cung Khôn Thái bên kia, bất quá chỉ là chỉn chu hơn bình thường một chút chứ cũng chẳng thể bằng được.”

Ngô tiệp dư cong môi lên, nói “Cung Khôn Thái đúng thật là to lớn, nhưng Hoàng quý phi trước nay không phải là người thích xa hoa, lại có phần tiết kiệm, nên làm thế nào thì cũng khó tránh khỏi nơi ở đơn giản quá mức, thật chẳng xứng với địa vị chính cung chút nào. Bà Hoàng cứ thích như vậy thì chẳng khéo có ngày sẽ bị xem thường mất thôi.”

Chiêu phi mỉm cười xinh đẹp, lên tiếng răn dạy nhưng thật ra lại giống thuận miệng vui đùa “Cô đó, ngày càng không biết giữ ý tứ. Nếu để bà Hoàng mà nghe được thì cô có mà gặp chuyện lớn.”

Ngô tiệp dư nhếch khóe miệng “Bà Hoàng thì bất quá chỉ hù dọa được đám khuê nữ sắp nhập cung, chứ chẳng lẽ lại so đo tính toán với những người như chúng ta hay sao?”

Nghe vậy, Chiêu phi nghiêng đầu hỏi “Cô nhắc đến mới nhớ, không biết chuyện sách phong sáng nay như thế nào, thứ bậc phi tử sắp tới ra sao?”

Ngô tiệp dư đáp “Em cũng không rõ, nếu lệnh bà cần thì chỉ hỏi vài tên thị vệ là biết. Nhưng em nghe nói trước giờ triều đình có lệ rằng, những phi tử được nạp vào cung sau khi Hoàng thượng đăng cơ thì không được phong hàng quá cao, nên chắc chắn cũng sẽ không ai có thể hơn được lệnh bà. Xin lệnh bà cứ yên tâm.”

Thấy có lý, nên Chiêu phi cũng chỉ gật đầu, cũng cảm thấy không mấy quan tâm. Hai người ngồi nói chuyện một lúc sau thì Phúc An – thị vệ bên cạnh Hoàng thượng đi vào viện, thấy Chiêu phi cùng Ngô tiệp dư ngồi mà liền cúi người hành lễ “Thần xin được thỉnh an hai vị lệnh bà.”

Ngô tiệp dư thích thú hỏi “Có phải Hoàng thượng vừa chọn thạch bài của Chiêu phi lệnh bà hay không mà ngươi lại đến đây?”

Phúc An chỉ cười trừ, nói “Dạ bẩm, Hoàng thượng vẫn còn đang bận nên Tổng quản thái giám chưa dám đi vào cầu Hoàng thượng chọn thạch bài. Chỉ là Hoàng thượng có dặn thần đến đây để báo cho Chiêu phi lệnh bà chuyện về điện Trinh Minh.”

Chiêu phi vẫn chưa kịp nói thì Ngô tiệp dư đã reo lên trước “Quả là vừa nhắc thì vận cũng đã đến. Có phải Hoàng thượng đã chọn ngày để Chiêu phi chuyển vào điện rồi phải không?”

Sắc mặt Phúc An khó xử, ngập ngừng nói “Dạ thưa, Hoàng thượng vừa mới ban chỉ ban nãy rằng, tuy Chiêu phi lệnh bà đang ở Nhị giai, nhưng vì thấy viện Thuận Huy vừa được tu sửa, lại rộng rãi, chỉ sợ lệnh bà ở đây đã quen thành ra không tiện chuyển sang chỗ khác nên Hoàng thượng đã định …điện Trinh Minh sau này sẽ là chỗ ở của Nhất giai Ân phi vừa được sách phong ban sáng ạ.”

Lời nói của Phúc An tuy nhẹ nhàng nhưng lại mười phần lợi hại, không gian trong viện như thể có một cơn gió lạnh vừa thổi vào, cuốn đi hết mọi niềm hân hoan ban nãy. Ngô tiệp dư lấm lét đưa mắt nhìn sang Chiêu phi, gương mặt diễm lệ giờ đây không còn tươi cười nữa mà trở nên đông cứng. Trong vài khắc, không ai nói thêm gì, cũng là Song Oanh đánh bạo mà lên tiếng trước:

“Đã đưa tin xong rồi thì anh hãy mau đi về điện Càn Thành đi, nếu không kẻo lại bị Hoàng thượng trách tội.”

Phúc An nghe vậy liền hướng về Chiêu phi mà kính cẩn nói “Nếu hai lệnh bà không gì dặn dò thì thần xin phép được cáo lui ạ.”

Sắc mặt dần điềm tĩnh lại, Chiêu phi hít một hơi sâu rồi cười nhẹ “Nhờ ngươi nói lại với Hoàng thượng nên chú trọng sức khỏe, một lát nữa ta sẽ đem vài món điểm tâm sang cho người. Thôi, ngươi lui đi.”

Không đợi lâu, Phúc An dạ một tiếng rồi nhanh chóng rời đi, còn Ngô tiệp dư ở lại, chưa biết làm thế nào cho phải, chỉ còn có thể cười làm lành, nhẹ thưa “Bẩm lệnh bà, em nghĩ…”

Chiêu phi liền lạnh lùng cất lời “Đã không còn sớm nữa, ta còn phải chuẩn bị điểm tâm cho Hoàng thượng, cô mau đi về viện của mình đi.”

Ngô tiệp dư liền biết lợi hại, nói “Cũng vẫn là lệnh bà chu đáo nhất. Em xin được cáo từ, không dám làm phiền lệnh bà nữa.” rồi đứng dậy vội vã cùng cung nữ mà đi ra khỏi viện, không dám nhìn lại một lần.

Ngồi yên trên sập, mắt nheo lại, Chiêu phi đè nén cơn giận “Nhất giai…Là Nhất giai phi. Lại còn được ban ở điện Trinh Minh nữa.”

Nhìn thấy sắc mặt Chiêu phi vẫn là còn khó coi, Song Oanh nhẹ nhàng khuyên “Lệnh bà đừng tức giận, nếu như được thì sau này lệnh bà cứ thử tâu rõ mọi chuyện cùng Hoàng thượng, biết đâu Hoàng thượng sẽ đổi ý.”

Chiêu phi cười khinh một tiếng “Chiếu chỉ đã ghi, trên dưới tam cung lục viện người người đều biết, lại còn đặc biệt cho người đến báo tin cho ta, vậy thì dù là bàn luận với ai đi nữa thì còn có ý nghĩa gì cơ chứ?”

Song Oanh cao giọng “Nhưng thưa, chẳng phải chính miệng Hoàng thượng đã nói rằng sau này sẽ ban điện Trinh Minh cho lệnh bà hay sao? Nếu không nói cho Hoàng thượng biết thì em chỉ cảm thấy uất ức thay cho lệnh bà mà thôi.”

Chiêu phi tức giận nói “Hoàng thượng không ban cho ta điện Trinh Minh, nhưng lại hạ chỉ rằng chỉ duy nhất một mình ta mới được ở viện Thuận Huy, thôi thì cũng xem như là còn nể mặt.

Nhưng bây giờ chuyện ta ở đâu cũng không còn quan trọng bằng việc ngày xưa Hoàng thượng chính miệng nói xa gần rằng dù ta hầu hạ mấy năm trời, mà chỉ vì ta không có con nên chỉ phong làm Nhị giai, chỉ thua mỗi chính cung, xem như đợi ngày mang thai sẽ nâng lên một bậc cho vẹn toàn mỹ mãn. Trong khi giờ đây Hoàng thượng lại ngang nhiên phong một người ngoài vào làm Nhất giai phi. Ta thử hỏi, Hoàng thượng có phải quá xem nhẹ ta quá rồi hay không?”

Song Oanh vội trấn an “Vạn lần lệnh bà đừng nghĩ nhiều như vậy. Chẳng phải Hoàng thượng sủng ái lệnh bà từ trước đến nay chưa hề giảm sút đó sao? Chuyện phong phi tử hôm nay chắc chắn có ẩn khuất. Em nghĩ không hề đơn giản mà Hoàng thượng lại phá lệ phong một người ngoài làm Nhất giai phi để vượt mặt lệnh bà mà như vậy, đặc biệt là so về độ yêu thích của Hoàng thượng thì lại càng không ai có thể qua được lệnh bà.”

Liếc mắt nhìn Song Oanh, Chiêu phi nghi hoặc “Ý của em là Hoàng thượng phong cô ta làm Nhất giai phi là có ý đồ gì mà chúng ta không biết?”

Song Oanh quả quyết “Dạ đúng như vậy. Lệnh bà cũng thấy cô ta là tiểu thơ khuê các, cả ngày lại trong nhà, ngay cả lúc còn ở tiềm để thì cũng đâu dễ dàng gặp được Hoàng thượng, mà Hoàng thượng cũng vẫn chưa một lần gặp cô ta, chắc chắn mọi chuyện không phải là vì Hoàng thượng sủng ái cô ta như lệnh bà nghĩ. Vả lại, chuyện phong phi các đời vua trước sau mỗi lần đăng cơ đều phần lớn là để…”, Song Oanh hạ giọng “…là để củng cố chuyện tiền triều của Hoàng đế.”

Chiêu phi cũng từng nghe nói qua việc các đời tiên đế cũng từng nạp phi là con của các quan lớn trong triều để nâng cao thế lực của mình trong triều đình, nên chuyện này có lẽ cũng không thể ngoại lệ. Chỉ là bây giờ trở thành người tận mắt nhìn thấy nên có chút không quen, Chiêu phi cắn môi “Như vậy thì chẳng lẽ gia thế cô ta lớn đến mức như vậy sao?”

Lần này thì Song Oanh đành lắc đầu “Chuyện này thì em cũng không biết rõ.” rồi trấn an “Nhưng một khi chúng ta đã có tâm ý muốn tìm hiểu thì trước sau gì cũng sẽ dễ dàng mà biết được thôi thưa lệnh bà.”

Chiêu phi nheo mắt, tức giận nói “Nếu đúng như ta nghĩ thì có lẽ là ta quá chủ quan khinh địch rồi. Không ngờ trước giờ ta lại chẳng hề để ý đến việc tuyển phi, cứ nghe xong rồi bỏ ngoài tai, nghĩ rằng vị trí này của ta trước sau cũng không ai có thể qua mặt được. Rốt cuộc lại bị người khác làm bẽ bàng như bây giờ.” rồi quay sang nhìn Song Oanh mà phân phó “Vậy ta giao cho em việc này, nhớ phải tra rõ xem cô ta là con gái nhà quan nào, thế lực ra sao. Còn nữa, cả những người khác được phong sáng nay cũng phải tìm hiểu kỹ cho ta, nhất quyết không được để sót một chuyện gì.”

Song Oanh cúi người tâm đắc nói “Dạ, lệnh bà cứ an tâm, em sẽ nhất định làm tròn bổn phận.”

Dù thấy Song Oanh quả quyết, nhưng lòng vẫn còn đầy lo lắng, Chiêu phi cũng chì còn có thể thở dài nói “Xem ra, sắp tới nội đình này sẽ phải thấy cảnh náo nhiệt rồi.”

-o0o-


Hoàng đế tối nay đến cung Khôn Thái của Đại Hoa, nhưng lại không chọn thạch bài ghi ba chữ “Hoàng quý phi”, cũng không báo trước, chỉ bất ngờ mà bước vào chính điện. Khi đang được Bạch Tú chuẩn bị nước ngâm chân thì thấy Hoàng đế đi đến cửa, Đại Hoa liền bất ngờ mà cúi người hành lễ “Hoàng thượng vạn tuế”, rồi đứng lên ngơ ngác hỏi “Chẳng phải tối nay Hoàng thượng bận việc ở điện Càn Thành hay sao?”

Hoàng đế ngồi lên sập, từ tốn nói “Chuyện triều đình cũng đã xong, tối nay trẫm muốn đến thăm bà Hoàng một chút.”

Đại Hoa vui vẻ nói “Nếu như vậy thì uống một chút trà sen sẽ làm Hoàng thượng thấy thoải mái tinh thần hơn.”

Nói rồi cô liền quay sang bảo Bạch Tú đi lấy trà. Hoàng đế gật gù “Trà sen ở chỗ bà Hoàng là thơm nhất.”

Trà được đem ra, Bạch Tú liền nhanh tay rót ra một tách cho Hoàng đế, còn chu đáo đặt một đĩa mứt hạt sen lên bàn, lém lỉnh nói “Trà sen này là do bà Hoàng hằng ngày ra tận vườn Thiệu Phương mà tự tay ướp trà rồi sáng hôm sau lại dậy sớm để lấy trà về, thế nên trà mới thơm ngon được như vậy, thưa Hoàng thượng.”

Hoàng đế nghe rồi cảm động nói “Là Hoàng quý phi quá chu toàn rồi. Quả thật nội đình của trẫm cũng không ai qua được.”

Đại Hoa ngồi trên kỷ bên cạnh, ôn tồn nói “Cũng là lúc trước ở phủ, mấy năm không có dịp nào được pha sẵn trà ngon cho Hoàng thượng. Giờ mọi chuyện đã khác, Hoàng thượng lại là thân phận thiên tử nên chút tâm tư này của em so ra cũng không là gì cả.”

Hoàng đế không nói gì, tay nâng tách trà rồi uống một ngụm, xong liền khen “Chuyện triều đình mệt mỏi nhưng có thứ này cũng làm trẫm thấy sảng khoái.”

Đại Hoa cười nói “Nếu vậy thì Hoàng thượng cứ từ từ mà thưởng thức. Được Hoàng thượng khen thì cũng không uổng công tách trà này được pha ra rồi.”

Hoàng đế gật gù “Hương vị trà rất thanh tịnh, nhưng thanh tịnh quá thì lại có khi thành ra đơn điệu.” rồi nhìn quanh điện “Như nơi này của bà Hoàng, trang trí rất ít, hầu như không có. Trẫm thì không hề gì, chỉ là trẫm nhìn thấy viện Thuận Huy của Chiêu phi xa hoa diễm lệ, lại càng lo rằng bà Hoàng sẽ thấy thiệt thòi.”

Nghe được lời như vậy, cô cảm thấy lòng ấm áp, liền nói “Nếu Hoàng thượng thấy thiệt thòi cho em thì cũng xem như em không còn thiệt thòi nữa. Chiêu phi ngay từ lúc ở tiềm để cũng đã thích xa hoa như vậy, giờ được tấn phong làm phi thì lại càng nên phá lệ một chút. Nhưng em lại là chủ nội đình, sau này phi tử vào đây càng nhiều thì em lại phải càng làm gương cho người mới. Dù rằng họ toàn là con gái của quan lớn triều đình, xuất thân danh giá, nay lại sắp lên làm Tần, làm Phi, có người lại được Hoàng thượng ưu ái sách phong lên hàng Nhất giai, nhưng chung quy thì ai cũng phải tập tiết kiệm, không được phung phí.”

Hoàng đế chớp mắt “Nói vậy thì bà Hoàng cũng đã xem qua bản sách phong rồi à?”

Đại Hoa gật đầu, nói “Buổi chiều em có sang thỉnh an Hoàng lệnh từ, cũng có nhìn qua một chút.”

Hơi nghiêng đầu, Hoàng đế hỏi “Vậy đức Lệnh từ có biểu lộ gì với bà Hoàng không?”

“Đức bà rất vui mừng vì con gái Đại lý tự khanh Dư Bình lại được phong tước cao, dù sao thì cô ấy cũng là cháu của đức bà. Tuy nhiên đức bà lại có vẻ không vừa ý khi Hoàng thượng lập con gái ông Thượng thư bộ Học làm Nhất giai phi.”

Hoàng đế hơi cúi xuống, thản nhiên nói “Tính của đức bà từ ngày trước đã thích quy củ, nên giờ thấy trẫm phá lệ phong cho con gái ông Thượng tước cao như vậy thì không vừa ý cũng là dễ hiểu.” rồi phẩy nhẹ tay “Thôi được rồi, ngày mai trẫm sẽ sang cung Trường Sanh thỉnh an đức bà vậy, trẫm cũng muốn bồng Vĩnh Thụy một cái, lâu rồi trẫm cũng thấy nhớ.”

Đại Hoa hơi nhướng mày “Nếu Hoàng thượng ghé đến cung Trường Sanh thăm Hoàng tử, thì đừng quên cung Diên Thọ, đức Nguyên từ cũng nhớ thương Hoàng thượng nhiều lắm.”

Hoàng đế ừ một tiếng, xong chậm rãi đặt tách trà lên bàn, mắt lại nhìn Đại Hoa, lời hơi có ý cười, hỏi “Bà Hoàng đã nói Hoàng lệnh từ không bằng lòng trẫm tấn phong Ân phi lên hàng quá cao, vậy còn bà Hoàng, khi đọc qua bản sách phong rồi thấy trẫm định sẽ ban cho Ân phi ở điện Trinh Minh, còn được lấy quy chế rước chính thất mà cử hành thì bà Hoàng có cảm thấy uất ức hay không?”

Câu hỏi vừa nói ra vô cùng thẳng thắn, lại được xuất ra từ miệng Hoàng đế nên Đại Hoa thật không quen, lòng có chút kinh hãi, nhưng ngay sau đó kịp bình tĩnh lại mà nói dịu dàng “Thưa, có uất ức hay không, điều đó cũng chẳng quan trọng bằng việc Hoàng thượng có thấy công bằng cho mọi người trên dưới trong nội đình hay không. Nếu Hoàng thượng thấy công bằng, thì đó là đạo lý, là phước của phi tần, còn nếu Hoàng thượng thấy chưa công bằng với ai, thì chỉ cần Hoàng thượng yêu thương người đó nhiều hơn là được. Em thân là Hoàng quý phi, sao lại có thể vì chuyện này mà phẫn nộ, tất cả trước sau em cũng đều lấy đức hạnh làm đầu, tuyệt không sai sót.”

Nghe được như vậy, Hoàng đế dù lòng nhẹ nhõm nhưng lại hơi bất ngờ khi Đại Hoa đáp lời với dáng vẻ điềm tĩnh như thế. Cả hai nhìn nhau một lúc Hoàng đế mới gật nhẹ đầu, nói “Điều bà Hoàng vừa nói thì cũng là điều trẫm muốn. Chủ nội đình phải làm gương cho chúng phi mà lấy đức hạnh đi đầu. Chung quy lại những người bên trẫm thì cũng chỉ có mỗi bà Hoàng mới đúng thực là Hoàng quý phi của trẫm.”

Lúc này Đại Hoa mới thực sự an tâm mà thưa “Hoàng thượng với em là vợ chồng, tâm ý tương thông cũng là điều cần có. ‘Đồng vợ đồng chồng, tát biển Đông cũng cạn.’, chẳng phải là người xưa đã bảo như thế hay sao? Dù em chưa một lần ảo vọng cùng Hoàng thượng tát biển dời non, nhưng chỉ mong suốt đời đồng tâm hiểu ý, như vậy lòng này đã là mãn nguyện lắm rồi.”

Mắt Hoàng đế dâng trào cảm động, nhìn Đại Hoa mà cười, tay vươn ra trước để Đại Hoa đặt bàn tay vào rồi nhẹ siết lại. Lòng Đại Hoa giờ cũng ấm áp dạt dào như xuân đến, đáp lại Hoàng đế bằng ánh mắt đầy ân tình. Bạch Tú đứng bên cạnh cũng hiểu ý, liền nhẹ nhàng lui ra khỏi đó, kéo rèm lại rồi cài cửa điện, để lại không gian riêng tư cho Hoàng đế và Hoàng quý phi.

Âm thanh tĩnh lặng, giờ chỉ còn có hai người, Đại Hoa trong tâm lại có chút yếu đuối, cô liền đứng dậy rồi dịu dàng ngồi xuống bên cạnh rồi ngoan ngoãn nằm vào vai Hoàng đế. Ngài vòng tay ôm trọn lấy Đại Hoa, ân cần vuốt nhẹ lên má cô, hít nhẹ một hơi rồi thiết tha hỏi “Hương này, không phải là hương hoa dành dành. Là hương gì vậy?”

Đại Hoa mân mê cánh tay áo của Hoàng đế, thủ thỉ “Là hương hoa sứ. Hoàng thượng có thích không?”

Hoàng đế nỉ non “Thơm lắm, trẫm rất thích.”

Đại Hoa cười mãn nguyện, nép sâu vào lòng Hoàng đế mà nhắm mắt lại, tự nói có lẽ lòng dù cho có uất ức đến bao nhiêu nhưng chỉ cần mãi mãi được như vầy cũng là đầy đủ, không mong cầu gì trên thế gian này hơn được nữa.


"Chương 12" bởi theboyofschool
( Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )




Chương 12



Theo như lệ thường thì sau lễ đọc chiếu chỉ ban tước vị, những người nào sắp nạp làm phi tử sẽ được an bài để đi vào viện Đoan Trang học những phép tắc trong cung đình. Vì thế, cứ mỗi sáng, lại có xe kéo đưa Tử Chi vào Tử Cấm Thành, rồi đến chiều thì đưa về.

Những khuê nữ như Tử Chi đều chưa chính thức là chủ nhân của những cung viện trong Đại Nội nên tất cả chỉ được đi vào bằng cổng sau gọi là cửa Hòa Bình.

Ngày đầu tiên, xe đã lăn bánh từ ngay lúc sớm nên đến nơi trời cũng vừa sáng hẳn. Xe dừng lại trước cổng, Tử Chi bước xuống xe và thấy đứng ở đó có một cung nữ cũng đã lớn tuổi đứng đợi sẵn. Bà không xưng tên, chỉ cười nói rằng vì được phụng chỉ mà lãnh nhiệm vụ mỗi ngày đều sẽ ở đây đợi để đưa cô vào đến tận Đoan Trang viện rồi mới lui đi. Tử Chi cũng cười rồi dạ một tiếng, xong nhanh chóng theo bước bà mà đi vào trong. Trên đường đi, vì được dạy chốn cung quy nghiêm ngặt, Tử Chi cũng không dám ngước đầu nhìn cảnh vật xung quanh, chỉ thấy thấp thoáng hai bên là hoa thơm cỏ lạ, hoặc nếu không thì cũng là cung điện uy nghiêm, vì vậy mà lòng lại càng cảm thấy chơi vơi lẫn chút căng thẳng.

Đoan Trang viện không quá to, nhưng bên trong lại thoáng đãng, lại bày biện sẵn các kỷ gỗ xung quanh, Tử Chi cùng các khuê nữ khác khi bước vào trong đều không ai dám nói với ai tiếng nào, chỉ im lặng mà ngồi trên kỷ và chăm chú lắng nghe một cung nữ có chức danh Thượng sư viên nghi giảng dạy về những điều mà một cung phi cần biết. Từ chuyện ăn uống, cách thưa gửi, cách ăn uống cho đến cách hầu trà Hoàng thượng như thế nào cho đúng đều được dạy một cách kỹ càng, tránh sau này có ai sơ sót mà bị bề trên trách phạt. Xuất thân con nhà quan lớn, lại từng được nhắm vào ngôi Hoàng quý phi nên những điều này Tử Chi cũng từng nghe qua, thế nên đầu óc có chút mụ mị, tai như không muốn nghe nữa, mắt liền xao nhãng mà chuyển sang trộm nhìn quanh những khuê nữ sắp nhập cung với mình, tự nhủ rằng, dù sao thì họ sẽ là những người mình sắp sống cùng, liếc nhìn một chút có lẽ cũng tốt.

Năm nay tổng cộng có chừng mười người trúng tuyển, cũng toàn là con quan trong triều, địa vị cao thấp đều có. Nổi bật nhất trong đám khuê nữ là một nàng ngồi bên kia, dung mạo tuyệt trần, mong manh tha thướt tựa như mây trên đỉnh Phù Vân, cử chỉ lại yểu điệu tao nhã, mười phần thanh cao thoát tục. Tuy nhiên cái làm cho Tử Chi để tâm đến nàng ta nhiều không chỉ vì nhan sắc xinh đẹp, mà là cô vẫn không hiểu sao dù chỉ mới gặp lần đầu nhưng nhìn nàng ta lại có một chút thân thuộc như là người đã từng quen biết từ trước.

Ngồi bên cạnh cô nàng là một tiểu thơ có khuôn mặt kiêu kỳ, mắt xếch lên đanh đá, trên áo lại thêu hoa văn hình đóa thược dược, áo lụa màu đỏ thắm. Dù biết rằng ở đây cũng toàn là khuê nữ con nhà quan lớn, từ nhỏ được bao bọc gấm vóc lụa là, mấy hôm nay âu cũng là dịp tốt để ăn vận đẹp, thể hiện sự tôn quý của gia phong nhưng Tử Chi lại thấy cô nàng lòe loẹt quá mức, không mấy thiện cảm. Còn một người nữa thì nhìn có vẻ gầy yếu, mặt xanh xao như lá liễu, ăn mặc giản dị đến mức bình dân, không những khác biệt với cô tiểu thơ diêm dúa kia mà còn nhìn có vẻ đạm bạc hơn nhiều so với cả thảy những người khác. Số còn lại ai ai cũng đều tỏ ra mình đoan trang thùy mị, nết na hơn người, chỉ là như vậy nên thành ra nên ai trông cũng điềm tĩnh như ai, đều không quá khác biệt.

Trời xế chiều cũng là lúc tất cả ra về, bên ngoài viện cũng có một toán cung nữ đứng đợi để dẫn Tử Chi cùng những người khác đi ra đến cửa. Vừa chuẩn bị bước lên xe kéo thì một tiếng gọi nhẹ nhàng cất lên “Tử Chi, em đợi ta với.”

Tử Chi liền xoay người lại để tìm thì thấy cô tiểu thơ xinh đẹp ban nãy đang từ từ tiến gần lại, lòng không khỏi thắc mắc tại sao cô nàng lại biết tên của mình, lại còn gọi thân thiết như vậy. Chẳng biết làm sao cho phải, Tử Chi lúng túng rồi chỉ cười trừ nhẹ cúi đầu chào.

Đến trước mặt Tử Chi, chị ta nở một nụ cười như sương mai, thú vị nói “Quả nhiên đúng thật là em, ban nay ngồi trong viện cứ mãi nghĩ có phải ta nhận đúng người hay không, rốt cuộc nghe bọn khuê nữ kia xì xào nói rằng em là con gái của quan Thượng thư bộ Học, nhờ vậy mà ta mới biết mình không sai.”

Tử Chi chớp chớp mắt, như chợt nhớ ra điều gì đó, nghi hoặc hỏi “Chị…Chẳng phải chị đây chính là…”

Chị ta vờ trách “Cô nàng này đúng là thật mau quên, còn chưa nhận ra ta sao?” rồi nhại giọng cao vút nghe như tiếng muỗi kêu “Nhạn nâu, năm sau chúng ta sẽ gặp lại nữa nhé.”

Mặt Tử Chi như phảng phất nhớ lại chuyện xưa, sau đó liền kinh ngạc hết mức “Chị Hạ Huyền, là chị đây sao?”

Hạ Huyền che miệng cười, nói “Ngoài ta ra thì còn có ai biết chuyện khi xưa em vì muốn bắt một con nhạn màu nâu mà bị dính đầy lọ nghẹ trên mặt, phải nhờ ta dẫn ra ngoài bờ sông mà rửa? Từ đó ta cứ gọi em là ‘Nhạn nâu’, em nghe vậy lại thích cái tên đó vô cùng.”

Miệng cười khúc khích, Tử Chi cũng nhắc lại “Còn em thì là người duy nhất cùng chị ngồi dưới gốc khế đợi trái rụng ngay trời trưa nắng để mang về khoe nhà? Rốt cuộc cũng bị cảm nắng mấy ngày mới hết.”

Hạ Huyền cười buồn “Chỉ tiếc rằng lúc đó chúng ta chỉ được cùng đi ra ngoài Quảng chơi vài lần rồi thôi. Ta còn nhớ lần cuối là chúng ta hứa hẹn đủ điều, cuối cùng cũng vì cha ta bảo rằng con gái lớn phải ở nhà mà không thể cùng em đi chơi được. Bẵng đó cũng đã hơn 10 năm rồi còn gì?”

Tử Chi liền hồi tưởng lại khoảng thời gian đó, do cha cô cùng ông nội của Hạ Huyền cùng làm quan trong triều, lại hay có giao hảo nên cũng vài lần hẹn nhau đưa gia đình ra Quảng mà thăm thú. Khi ấy hai chị em vừa gặp nhau đã hợp, vì lớn hơn Tử Chi 2 tuổi, lại nhà chỉ có anh trai nên Tử Chi gặp Hạ Huyền thì cứ gọi chị ấy là “Chị hai”, nhiều lần thành quen miệng. Cả hai đi được vài lần thì không thấy Hạ Huyền đi cùng nhà nữa nên Tử Chi lòng cũng thấy buồn, thế nên mấy năm sau cũng không muốn ra Quảng chơi nữa. Nghĩ lại mới thấy thời gian trôi qua thật quá nhanh, hai chị em giờ cũng đều đã phổng phao, Hạ Huyền chị ấy lại thành một mỹ nhân chim sa cá lặn, chẳng ai bì kịp, Tử Chi tự nhìn lại mình, thấy không khỏi có chút ghen tỵ.

Tử Chi cảm thán “Chị trông khác lúc xưa nhiều quá, em cũng không thể nhận ra. Cũng tự trách em cứ mãi nhớ dung mạo chị lúc nhỏ mà làm bây giờ không kịp nhận người quen, là lỗi của em rồi.”

Hạ Huyền cười mát “Chẳng phải ta cũng là ngờ ngợ khi thấy em đó sao? Gặp được em ở đây, biết em cũng trúng tuyển kỳ nạp phi này là ta cũng vui lắm rồi. Nếu không quả thực đến ngày chính thức vào Nội thì ta cũng không biết có ai bầu bạn, đêm dài thì lại thêm cô đơn.”

Tử Chi liền đùa nhẹ để trấn an “Xinh đẹp như chị đây mà còn phải sợ Hoàng thượng không yêu thích nữa hay sao? Nếu chị còn tự nhận vậy thì em không biết mình sẽ như thế nào nữa.”

Hạ Huyền làm vẻ ghen tỵ “Chẳng phải em cũng đã được phong làm Nhất giai đó hay sao? Ta thì dù xinh đẹp cách mấy cũng chỉ là một Tiệp dư nhỏ nhoi, vậy thì sau này ta phải gọi em một tiếng ‘Ân phi lệnh bà’ rồi.”

Tử Chi vỗ vào tay Hạ Huyền một cái, mặt giận nói “Chị còn trêu em? Đúng là ngày xưa lanh lợi, bây giờ cũng vẫn là thích làm người ta xấu hổ.”

Cả hai sau đó đứng trò chuyện một lát rồi mới lưu luyến lên xe kéo đi về, hẹn ngày mai lại gặp nhau. Trên đường về, Tử Chi cũng thấy vui mừng, nghĩ rằng từ nay ít nhất cũng có hai chị em nương tựa lẫn nhau, Hạ Huyền là người tốt, tỉ mỉ cẩn trọng, lại có tình nghĩa khi xưa, hẳn là người đáng để dựa vào, có một người tốt như vậy bên cạnh chắc chắn sẽ dễ sống hơn là cứ một mình trong những năm tháng dài đằng đẵng nơi cung cấm.

Mấy ngày sau cũng vẫn giống như vậy, những buổi học của Thượng nghi viên sư cũng dần không còn giảng dạy về phép tắc mà chỉ đơn thuần là kể những câu chuyện về Hoàng tộc, và đặc biệt là về Hoàng đế – người mà tất cả khuê nữ ở đây sẽ phải chung sống cả đời.

Hoàng đế năm nay vừa tròn 30 tuổi, khi xưa còn có chức danh Phụng Hóa công, là con trai của Đồng Khánh đế. Trên Hoàng đế còn có hai vị đức bà là Nguyên Từ và Lệnh Từ. Bên cạnh Hoàng thượng còn có bốn người, trong đó một người là con quan Phụ chính đại thần Thượng thư bộ Lại Trương Như Cương, ung dung thùy mị, lại là vợ cả nên được phong làm chính cung. Lại có một người hàng Nhị giai, mỹ danh là Chiêu phi, nghe bảo là dung nhan nghiêng nước nghiêng thành, sắc sảo mặn mà, nhiều năm nhận ân sủng, là con quan Thượng thư bộ Công Hoa Kiến Lục. Còn một người nữa là con quan Hồng lô tự khanh Ngô Tự, đang ở chức Tiệp dư, cũng xinh đẹp hơn người.

Tử Chi nghe xong liền nhẩm đếm, thấy sao lại thiếu đi một, miệng vẫn chưa kịp hỏi thì một cô nàng lên tiếng “Thưa Thượng nghi viên sư, ta nghe nói rằng còn có một người nữa, dù sinh được hoàng tử đầu lòng cho Hoàng thượng, nhưng vì xuất thân là hầu gái cho phủ của Hoàng thượng lúc tiềm để nên chỉ được phong tước Tần, điều đó có phải hay không?”

Thượng nghi mặt liền không vui, liền nghiêm giọng chấn chỉnh “Lệnh bà Huệ tần tuy không xuất thân cao quý như ba lệnh bà còn lại, nhưng lại giỏi việc tề gia, lại là mẹ của con trưởng, trước sau gì cũng sẽ được phong tước vị cao hơn.”

Nhìn sang cô nàng mới biết, thì ra đó là người mặc áo hình thược dược đỏ hôm nọ, Tử Chi tự nhủ quả thật nhìn mặt mà bắt hình dong lần này đúng là chính xác, tính tình kiêu kỳ hệt như ấn tượng ban đầu mà cô từng có về nàng ta.

Cô nàng vẫn chưa chịu thôi, Thượng nghi vừa dứt lời thì liền chua ngoa nói “Thì rốt cuộc lại vẫn là người xuất thân hèn mọn, cũng giống như bọn gia nô của nhà ta thôi, phong cô ta làm tước Tần thì chẳng phải đã là quá ưu ái rồi hay sao?”

Ai nghe được câu đó thì cũng đều thấy khó chịu, trong chốn cung cấm mà lại có hạng người không xem ai ra gì như thế này quả thực chẳng thèm để mắt đến tôn nghiêm của Hoàng đế. Thượng nghi định nói thêm gì nhưng lại thôi, vẻ mặt đầy nét kiềm chế, liền không quan tâm đến cô nàng ấy nữa mà tiếp tục kể chuyện, còn Tử Chi với Hạ Huyền thì cũng bất mãn nhìn nhau lắc đầu rồi lại chăm chú nghe giảng, không thèm để ý đến cô ta nữa.

Lúc đi về, cũng như thường lệ, hai chị em không chịu lên xe sớm mà nán lại bên hồ Kim Thủy trò chuyện một chút rồi mới chia tay về nhà. Nhớ lại buổi học vừa ban nãy, Tử Chi không chịu được liền nói “Cô tiểu thơ đó, ở trong chốn cung quy nghiêm ngặt mà cứ mở miệng ra là mạ lị người khác chẳng nể tình, quả thực làm em sợ nghĩ đến việc sau này cứ phải chung sống với cô ta đến cực độ.”

Hạ Huyền hơi hoảng hốt, nắm tay Tử Chi mà hạ giọng nói “Nghe nói nàng ta được phong tước Tần, là con của Đại lý tự khanh, lại là cháu gái họ xa của đức Lệnh từ, được chính miệng đức Lệnh từ tuyên chỉ đưa tên cô ta vào danh sách tuyển phi, chúng ta tuyệt không nên gây chuyện thị phi với người này.”

Tử Chi ngẫm nghĩ cô ta gia thế như vậy, lại được hưởng ân sủng hơn người nên khó trách tính tình cũng ngạo mạn, ngông cuồng phách lối, nghĩ vậy nên Tử Chi cũng đành lắc đầu, không muốn nghĩ thêm nữa, bèn chuyển sang chuyện khác:

“À mà ban nãy Thượng nghi có nhắc đến một người là Huệ tần, thực sự ngẫm lại, là người không có gia thế, dù có con cũng phải chịu thua kém người ta, thật sự tội nghiệp.”

Hạ Huyền cẩn thận liếc nhìn trước sau rồi mới nói “Lúc trước có nghe cha ta kể lại, Huệ tần ngày xưa cũng là vì Hoàng thượng một đêm uống rượu say mà không biết trời đất, nên Huệ tần mới mang được long thai. Đức Lệnh từ cùng Nguyên từ không tin đó là cái thai của dòng dõi Hoàng tộc, bèn bắt cô ấy đào hố, úp bụng xuống mà đánh để tra hỏi, Huệ tần dù bị đánh vẫn quả quyết đó là con của Hoàng thượng, khi đó hai đức bà mới tha cho. Vậy mà khi vào cung, hoàng tử mới được sinh cũng không được gần mẹ, đức Lệnh từ sai người mang hoàng tử sang cung của mình, một tháng Huệ tần chỉ được gặp con đúng một giờ, quả thực tình cảnh chua xót không kể xiết.”

Tử Chi lòng đầy thương cảm, run giọng hỏi “Có thật là chuyện như thế sao?”

Hạ Huyền nhẹ gật đầu nói “Đúng là như vậy.” rồi cũng là tội nghiệp mà cất lời “Chỉ trách rằng Huệ tần này không phải là con gái của một viên quan nào đó, nếu không thì ít nhất cũng là con một chủ đất thẳng cánh cò bay, còn với thân phận như hiện tại thì cũng đành chịu cảnh hẩm hiu như vậy, thực không còn cách nào khác.”

Nghe như vậy, Tử Chi lại càng thêm buồn, nghĩ rằng dù là chốn cung đình đế vương, thân phận cũng đã hơn vạn người vậy mà cũng chưa thể hài lòng, lại còn muốn ai ai bên cạnh cũng phải cùng đẳng cấp cao quý như mình thì mới vừa ý. Rồi cô bỗng chợt lại nhớ về ngày hôm đó trên bãi biển, đức Duy Tân nhảy ra sóng lớn, chẳng thèm màng danh phận để sẵn sàng cứu một người hầu như Miên Thanh, sau đó còn lên tiếng lo lắng hỏi han, thử hỏi nếu thay ngài ấy là bọn họ thì có lẽ mọi chuyện cũng đã khác. Người tốt bụng như vậy mới xứng đáng để làm một Hoàng đế cho mọi người tôn sùng trọng vọng. Chỉ tiếc là trời đất không phải lúc nào cũng ưu ái cho người tốt…

Nghĩ đến đó, lòng Tử Chi như se se lạnh, liền cắt đứt hồi tưởng để tránh cảnh thương tâm lệ trào. Hạ Huyền đứng bên cạnh liền tròn mắt hỏi “Em sao vậy? Nhìn em như người vừa bị mất hồn.”

Tử Chi cười, nói khỏa lấp “Không có gì, chỉ là nghe chuyện của Huệ tần như vậy nên liền thấy thương cảm.”

Hạ Huyền nói “Thôi thì nhìn cái gương đó mà cảm thấy ta và em may mắn hơn người, chí ít sau này bước vào nội đình thì cũng không bị người ta xem thường.”

Tử Chi gật đầu cho có lệ, Hạ Huyền an ủi thêm mấy câu nữa rồi cả hai cũng phải ra về. Tử Chi từ biệt, xe sau đó liền lăn bánh chạy dài theo đường về nhà. Ngắm hoàng hôn trên hồ Kim Thủy hôm đó mà chẳng hiểu sao Tử Chi thấy thấy cảnh vật chợt buồn hơn mọi ngày một chút.

-o0o-


Mấy ngày này chuyện triều chính bận rộn, Hoàng đế cũng không có nhiều thời gian rảnh, chỉ có tối hôm nay là mọi việc cũng tạm gác qua một bên, bèn ra lệnh cho ngự giá sang cung Trường Sanh mà thăm Hoàng lệnh từ.

Trời cũng chưa tối hẳn, Lệnh từ ngồi trên sập trong chính điện đang mớm từng muỗng sữa cho Hoàng tử Vĩnh Thụy thì Hoàng đế đến, vú em bế Hoàng tử cùng Lý Sang cúi người hành lễ “Chúng thần xin thỉnh an Hoàng thượng.”

Hoàng đế kính cẩn nói “Con xin được thỉnh an Lệnh mẫu”

Lệnh từ cười “Đã bảo là nếu đến cung của ta thì gọi một tiếng ‘ả’ là được. Con mau ngồi xuống đây đi.”

Hoàng đế vâng lời “Dạ thưa, con xin nghe ả.” rồi ngồi trên kỷ bên cạnh.

Vú nuôi hiểu ý nên liền bế Vĩnh Thụy đến cho Hoàng đế bồng một cái. Hoàng tử vẫn còn chưa lớn hẳn, nhưng đây là con đầu lòng của Hoàng đế, thêm nữa khuôn mặt Vĩnh Thụy trông tuấn tú xuất chúng, tính tình ngoan ngoãn lại hay cười nên Hoàng đế nâng niu hơn báu vật. Vừa gặp con, Hoàng đế nhẹ nhàng đỡ lấy rồi hôn liên tục lên tay của Hoàng tử, cười nói không thôi, đến một lát sau mới chịu trả lại cho vú nuôi để tiếp tục mớm sữa.

Vừa lúc đó thì Phúc An chạy vào thưa “Bẩm Hoàng thượng, Tổng quản thái giám vừa đến, cầu Hoàng thượng chọn thạch bài tối nay ạ.”

Hoàng đế phẩy tay nói “Trời vẫn còn sớm, nói với hắn ta là trẫm sẽ chọn sau, không gấp.”

Phúc An không dám cãi lệnh, liền lui ra ngoài. Lệnh từ nghe vậy không vui, nhắc nhở Hoàng đế “Cũng đã 5 ngày Hoàng đế không thèm nhìn đến nội đình, dù hiện tại không nhiều người nhưng vẫn là không nên để hậu phi cứ mong ngày chờ đêm.”

Hoàng đế cười nhẹ nói “Cũng chỉ còn có chừng một tháng nữa là ngày nạp phi, vừa hay cũng là lúc để các khanh ấy tập quen với việc sau này phải chịu cảnh phân chia ân sủng, không thường xuyên được ngự tẩm như trước nữa.”

Lệnh từ chợt hạ giọng “Sủng ái người mới là tốt, nhưng sủng ái quá mức, nhất là không đồng đều, người nhiều hơn kẻ ít hơn thì cũng là không nên. Hoàng đế nên biết nội đình phải trung hòa an ổn mới là phúc.”

Hoàng đế chớp mắt “Dạ, con xin lĩnh hội ý của ả, nhưng đây cũng là ý niệm của con, con tự hiểu mình nên đối xử thế nào với phi tần của mình, nên cũng chưa từng dám cho bản thân làm trái đạo lý đó.”

Lệnh từ cười lạnh nhạt, nói “Hoàng đế nói sao thì ta nghe vậy, nhưng riêng ta thì lại thấy Hoàng đế có nhiều chuyện nói là tự hiểu nhưng rốt cuộc lại cứ để cho bản thân vượt quá giới hạn thường thấy.”

Hoàng đế chợt ngưng cười, nhìn xuống nói “Các khuê nữ vẫn còn chưa kịp nhập cung, con không biết ả thấy con sủng ái người mới nào quá mức hay sao mà lại làm ả phải nói lời cảm thán như vậy? Hay ả đang ngụ ý một chuyện nào đó khác mà con vẫn chưa hiểu, vẫn là xin ả nói rõ.”

Lệnh từ không trả lời ngay, liếc nhìn Lý Sang và vú nuôi, hai người họ hiểu ý, liền lui ra ngoài. Bà lúc này mới nhìn Hoàng thượng, lên giọng “Con đã nói như vậy thì ta hỏi con, chuyện phong Phi cho Hồ thị, lại là ngôi Nhất giai, còn được rước lễ chính thất thì con giải thích sao đây? Nếu Hoàng đế không gọi đây là sủng ái quá mức thì sẽ gọi là gì?”

Hoàng đế vẫn thong dong nói “Hồ thị con nhà quyền quý, lại thông minh ưu tú, chuyện phong cô ta làm Nhất giai là chuyện thường. Còn về chuyện làm lễ rước chính thất, con cũng đã nói chuyện với bà Hoàng, khanh ấy cũng hoàn toàn không phản đối cho nên con không thấy có gì khúc mắc ở đây thưa ả.”

Lệnh từ chau mày “Cho dù Hoàng thượng nói rằng Hồ thị có xuất thân danh giá hay tài giỏi đến mức nào đi chăng nữa thì chuyện được hưởng ân sủng như vậy cũng là quá mức, ngay cả Chiêu phi mà con sủng ái bấy lâu cũng phải đứng sau quyền uy của Hồ thị, chuyện như vậy ta không thể nào không lên tiếng.”

Hoàng đế mím môi, kiên nhẫn nhả từng lời “Thưa ả, con định rằng sẽ thưa chuyện này với ả sau, nhưng ả đã thắc mắc nhiều như vậy thì con cũng không nỡ để mẹ mình phải chịu tâm trạng không thoải mái.” rồi nhìn Lệnh từ nói “Trong triều hiện tại tên Tôn Thất Hân cùng bè cánh của hắn luôn ủng hộ hai tên phế đế trước kia, lại thấy con là Hoàng đế vừa đăng cơ nên lúc nào cũng có ý phản đối con. Bản thân con tuy được Chính quyền Bảo hộ đứng sau nhưng không phải lúc nào cũng thuận lợi, vì thế buộc phải trọng dụng những người không liên can đến tên Xuất đế kia, như vậy con mới có thể an tâm với quyền thế của mình mà bình định triều đình được. Chiêu phi tuy là con nhà quan lớn nhưng so ra thế lực vẫn là còn thua Hồ thị một bậc, con không thể không tốn công mà ban vinh sủng tuyệt đối cho Ân phi.”

Lệnh từ không hiểu, liền nói “Vậy thì con lại càng không nên sủng ái con gái tên Thượng thư bộ Học kia, vì rõ ràng hắn ta ngày xưa giao hảo quá nhiều với tên Xuất đế, con gái của hắn còn từng được nhắm làm Hoàng quý phi, thế lực trong triều của hắn lại mạnh như vậy, con cho nhiều ân sủng như vậy khác nào gắn thêm cánh cho hổ?”

Hoàng đế vẫn từ tốn mà giải thích “Ông Thượng thư tuy có giao hảo nhưng đến cuối vẫn là người không hề liên can một chút nào đến việc tên Xuất đế bày trận khởi nghĩa, chứng tỏ hắn ta là người dùng được, vì rốt cuộc dù giao hảo đến mức nào đi nữa thì tên Xuất đế vẫn một mực không tin tưởng mà bàn với hắn về chuyện của mình. Chưa kể ông Thượng thư lại là người rất được uy tín, đứng sau ông ta có rất nhiều người ủng hộ, nắm được quyền lực của hắn chẳng phải sẽ rất có lợi hay sao?”

Lệnh từ không phản đối được gì, chỉ còn có thể ngưng mắt nhìn Hoàng đế thật lâu rồi hậm hực mà nói “Tốt, tốt lắm! Cuối cùng thì con cũng ra dáng một Hoàng đế đúng nghĩa. Nhưng nếu đúng như lời con nói thì Hồ thị vào cung chỉ là một con cờ cho con lợi dụng, mà đã là một con cờ thì cần gì phải phong chức cao đến như vậy chứ?”

Hoàng đế cười nhạt, nói “Bỏ con săn sắt, bắt con cá rô. Một khi đã trao cho một người có được mọi đặc quyền thì đặc quyền phải đạt đến đỉnh điểm của sự sủng ái, như vậy thì người khác mới thấy cái lợi của việc ủng hộ con. Cuối cùng người được nhiều nhất chẳng phải là con hay sao?” ngài nhìn Lệnh từ nói tiếp “Ả cũng biết chúng ta đã chịu vất vả như thế nào mới có ngày hôm nay thì ả phải tin rằng con nhất nhất không thể để sai sót chuyện gì, lại càng không thể không mưu tính kỹ từng đường đi nước bước cho mình và cho ả.”

Khẩu khí Hoàng đế nói ra mạnh như sấm, khẳng định với mẹ mình rằng ngài là người đang dần dần thực sự trở thành một Hoàng đế uy quyền chứ không còn là một tên học đòi làm thiên tử. Thấy con trai mình quả quyết như vậy, Lệnh từ mới yên tâm, nói “Vậy thì xem như là con đã tính toán kỹ lưỡng. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa ta vẫn không thể vừa mắt được Hồ thị, cũng chính là vì cô ta đã dính dáng quá nhiều đến tên Xuất đế đó, ta không thể chấp nhận nội đình có một phi tử đầy thị phi như vậy.”

Hoàng đế như muốn nói thêm điều gì nhưng cuối cùng cũng chỉ đành kiềm nén, tay nắm nhẹ vào áo. Sau đó lên tiếng gọi Phúc An vào, nói “Trẫm tối nay đến viện Đoan Huy. Ngươi mau đi báo cho Huệ tần biết đi.”

Phúc An vừa vâng lời mà ra khỏi điện thì Lệnh từ đã không hài lòng “Đã lâu không vào nội đình, Hoàng thượng chọn một thạch bài khác sẽ tốt hơn. Huệ tần lâu nay đã quen với việc bị thất sủng thì cứ để cô ta như vậy tiếp đi.”

Hoàng đế không nhìn bà, chỉ nói đơn giản “Diệp Tâm dù sao cũng là người cũ, lại trung thanh với chúng ta bao nhiêu năm, giờ cũng lại là mẹ của Vĩnh Thụy mà ả yêu thương. Lúc trước cũng vì ả không đồng ý mà con không phong Phi cho khanh ấy, giờ lại thấy có người chưa kịp chính thức nạp phi mà đã hiển hách như vậy chắc chắn sẽ không khỏi phải chạnh lòng.”

Giọng Lệnh từ lạnh lùng “Ân phi Hồ thị ít nhất cũng là con nhà quan lớn, lại là vì nghiệp tương lai của Hoàng thượng mà nhận được chức Nhất giai đó cũng là chuyện có thể hiểu được. Còn Huệ tần là xuất thân hèn kém, cho dù có sinh ra mười Vĩnh Thụy đi chăng nữa thì cũng không bao giờ xóa bỏ được quá khứ của mình.”

Trong mắt Hoàng đế chợt bùng lửa giận dữ, nghiêm giọng nói “Thưa ả, thứ cho con nói thẳng, rằng dù cho Diệp Tâm có xuất thân như thế nào, cho dù ả có không thể quên được quá khứ của khanh ấy thì khanh ấy cũng là mẹ đẻ của Vĩnh Thụy, là mẹ của cháu nội của ả.”

Lệnh từ nhíu mày, giọng điệu vô cùng khinh bỉ mà đáp trả “Ả yêu thương Vĩnh Thụy nhưng không có nghĩa là ả buộc phải yêu thương luôn cả mẹ nó. Huệ tần nàng ta vẫn vĩnh viễn là một con hầu của ả, tuyệt không thay đổi.”

Hoàng đế vẫn không nói tiếng nào, tức giận nhìn Lệnh từ, sau đó chỉ đơn giản nói một câu “Vậy thì mẹ con ta cũng như vậy, dù con vâng lời ả nhưng không phải lúc nào con cũng chiều ý ả, chân lý cuối cùng vẫn là Hoàng đế sẽ có quyền quyết định tất cả.”

Lệnh từ vẫn còn chưa kịp nói lời nào thì Hoàng đế quát lớn “Vú nuôi của Hoàng tử đâu?”

Bà vú vẫn không biết chuyện gì, chỉ thấy khẩu khí Hoàng đế làm mình khiếp sợ, liền đi từ hậu điện ra mà quỳ xuống đợi lệnh. Hoàng đế nói rõ từng lời “Ngươi hãy nhớ lấy, từ tối hôm nay, ngươi hay bất kỳ ai khác cũng nhất định không cho Lệnh từ được phép gặp Vĩnh Thụy, Hoàng tử sẽ sang viện Đoan Huy ngủ cùng với Huệ tần, đến ba ngày sau mới được mang về cung Trường Sanh, tuyệt không cãi lệnh.”

Bà vú hoang mang ngước lên, lấm lét nhìn sang Lệnh từ, chân còn không biết nên đứng lên hay quỳ tại chỗ thì Hoàng đế tức giận la lớn “Y lệnh của trẫm. Ai kháng lệnh lập tức đánh gãy chân không nương tay.”

Nghe thế bà vú liền luống cuống đứng dậy bước ra ngoài. Hoàng đế cũng đứng lên mà lạnh nhạt nói “Con chúc ả ngon giấc.” rồi lập tức rời điện mà cùng tùy tùng đi ra khỏi cung, bỏ mặc lại Lệnh từ ngồi một mình trên sập mà đang giận đến run người.

Ra khỏi Trường An môn, cổng chính của cung Trường Sanh, Hoàng đế mới dừng bước, nhắm mắt mà thở dài một cái, trời bên ngoài sương mát làm lửa giận cũng không còn nhiều như ban nãy, đầu óc cũng đã tỉnh táo một chút. Ngài đứng suy nghĩ một lát rồi gọi Phúc An, miễn cưỡng nói “Ngày mai, ngươi truyền lệnh của trẫm, nói rằng bộ Học trong vòng 3 ngày nữa chọn ngày tốt tấn phong Hoàng nguyên từ lên làm Hoàng thái hậu, Hoàng lệnh từ lên làm Hoàng thái phi. Ngươi nhớ dặn kỹ bộ Học rằng hai lễ tấn phong đều phải thật trang trọng như nhau, không được để Hoàng thái phi chịu thiệt thòi, có biết chưa?”

Phúc An cười nói “Dạ thưa, dĩ nhiên là như vậy rồi thưa Hoàng thượng. Từ lúc đăng cơ Hoàng thượng bận rộn việc triều đình nên vẫn chưa kịp tấn phong hai đức bà, nghe đươc tin này chắc hai đức bà sẽ vui mừng lắm. Chỉ là ông Thượng bộ Học kỳ này phải vất vả rồi, vừa chuẩn bị lễ tấn phong, vừa phải lo chu toàn lễ nạp phi, rồi còn lễ rước chính thất của con gái mình nữa.”

Hoàng đế nghe vậy, liền liếc nhìn Phúc An rồi nói thầm trong miệng “Con gái ông Thượng…là Ân phi…”

Phúc An cúi người nói “Dạ phải, là Ân phi lệnh bà ạ.”

Hoàng đế chợt nhớ lại lời Lệnh từ thốt ra ban nãy “Hồ thị vào cung chỉ là một con cờ cho con lợi dụng”. Đối với bà thì Hồ Tử Chi đó là một con cờ của ngài, vậy thì đối với ngài, cô ta có phải là một người chỉ nhập cung để làm một công cụ quyền lực triều chính của mình hay không?

Nghĩ đến đó, Hoàng đế chợt cười nhẹ, rồi lắc đầu, như tự nói với bản thân “Cũng không hẳn…”

Đứng bên cạnh, Phúc An nghe vậy không hiểu, liền dạ lên một tiếng. Hoàng đế phẩy tay “Không có gì.”

Phúc An cười làm lành “Vậy tối nay Hoàng thượng vẫn còn ý định sang viện Đoan Huy chứ ạ? Hoàng tử Vĩnh Thụy có lẽ cũng đã có mặt ở đó cùng Huệ tần rồi.”

Hoàng đế gật đầu, nói “Trẫm qua đó một chút rồi sẽ về lại điện Càn Thành. Ngươi nhớ dặn người đem vài món điểm tâm mà Huệ tần thích ăn sang cho khanh ấy.”

Phúc An vâng lệnh “Dạ, thần đã rõ thưa Hoàng thượng.”


"Chương 13" bởi theboyofschool
( Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/ )



Chương 13



Vào ngày 2 tháng 11 năm Khải Định thứ nhất, Hoàng nguyên từ Nguyễn Hữu thị được tấn tôn lên làm Hoàng thái hậu, còn Hoàng lệnh từ Dương thị được tôn làm Hoàng thái phi. Để tỏ lòng hiếu kính, Hoàng đế còn đặt tên cho sinh nhật hai đức bà lần lượt là Thánh Thọ tiết và Tiên Thọ tiết. Cũng kể từ đây, hai đức bà được người người gọi bằng Đức Thánh cung và Đức Tiên cung Thái hậu, gọi chung là Lưỡng tôn cung, thân phận cả hai nghiễm nhiên trở nên tôn quý bậc nhất Nam triều.

Độ chừng khoảng một tháng sau, lễ nạp phi cũng chuẩn bị được cử hành, triều đình bận rộn không phút ngơi nghỉ để chuẩn bị cho đại lễ quan trọng này của Hoàng gia. Vào sáng ngày 3 tháng 12 cùng năm, đội ngựa xe nhận lệnh của Thượng thư bộ Học mà lần lượt khởi hành, tất cả đều nối đuôi nhau rời khỏi Tử Cấm Thành để đi đến nơi ở của từng phi tử lễ nhận chức vị. Đoàn người được cử đến chỗ của Ân phi Hồ thị được bộ Học chăm chút nhiều nhất, từ đèn lồng đến cờ phướn trước sau đều uy nghi lộng lẫy, trông phá lệ nổi bật hơn hẳn bình thường.

Tất cả đi đến trước tư dinh của Hồ phủ thì cũng vừa lúc sáng sớm, nghe tiếng ngựa hí vang, Miên Thanh biết rằng người đã đến, liền đi vào nhà khách mà báo tin cho Tử Chi cùng bà mệnh phụ chuẩn bị đón tiếp. Từ bên ngoài, một viên quan mang danh Chánh sứ bộ Học dẫn đoàn hầu đi vào, cúi người chào Tử Chi rồi bắt đầu tiến hành làm lễ. Quy chế Hoàng gia lập ra những điển lệ trong lễ rước chính thất vô cùng rườm rà và phức tạp, tất cả phải được diễn ra dưới sự chỉ đạo hoàn toàn của Chánh sứ, trước sau cũng phải mất đến hơn một giờ mới xong.

Sau cái quỳ bái lạy trước bàn thờ gia tiên lần cuối cùng, ông Chánh sứ hô lệnh thông báo giờ lành đã đến, Tử Chi đứng dậy, cùng bà mệnh phụ và Miên Thanh rồi đi theo ông ra cửa lớn. Đến lúc này thì cũng xem như là những phút sau cùng của Tử Chi còn ở tại Hồ phủ, đứng trước nhà khách, bà mệnh phụ nắm tay con gái để dặn dò lần cuối:

“Từ đây trở về sau thì cha con và ta cũng chỉ còn biết trông cậy vào con. Vinh nhục cả nhà cũng đang nằm trên vai con. Tốt xấu gì thì cũng phải nhớ bảo trọng, nhớ giữ mình, nghe con.”

Bà mệnh phụ dù nói ra những lời này một cách bình thản, nhưng Tử Chi biết rõ mẹ mình không phải không đau khổ, lo lắng mà chỉ là đã phải chịu đau đớn quá nhiều trong suốt mấy ngày qua nên giờ cạn khô nước mắt. Buồn bã nhìn mẹ, Tử Chi dịu dàng nói:

“Xin mẹ yên tâm. Dù làm gì thì con cũng nhớ rằng ít nhất cũng phải giữ được tính mạng này, trước nay những lời căn dặn của cha mẹ cho con, bản thân tuyệt đối không dám quên.”

Bà mệnh phụ yên tâm gật đầu, cười buồn “Dù sao thì Miên Thanh cũng đi cùng con vào cung mà hầu hạ, nó tháo vát, nhanh nhẹn, cha mẹ cũng bớt phần nào lo lắng.”

Miên Thanh lấy tay quẹt nước mắt, quả quyết nói “Lệnh bà cùng con từ nhỏ đã lớn lên bên nhau, giờ cùng vào cung con sẽ thay ông bà chăm sóc lệnh bà. Xin ông bà cứ yên tâm.”

Đứng bên ngoài, có lẽ Chánh sứ bộ Học thấy không còn sớm, nên cũng không dám chờ đợi thêm, liền đi vào trong mà thưa “Dạ bẩm lệnh bà, bên ngoài mọi thứ cũng đã chuẩn bị xong, mong lệnh bà mau chóng dời gót mà theo thần lên xe để chúng ta còn kịp lúc vào Đại Nội, tránh trễ nải giờ lành làm lễ.”

Tử Chi không nói gì, chỉ gật đầu, bà mệnh phụ sau đó liền dìu Tử Chi đi xuống hết bậc tam cấp mới buông tay cô ra. Lưu luyến đưa mắt nhìn mẹ mình lần cuối, lần tạ từ này cũng gần như là sau cùng, phía trước là đường bước vào chốn cung cấm muôn trùng xa thẳm, hai mẹ con cũng không biết khi nào mà gặp được lại nhau lần nữa. Tử Chi nghẹn ngào nhưng không nói gì thêm, chỉ tạm biệt bà rồi quay đầu hướng ra cửa mà đi thẳng, Miên Thanh cũng nhanh chóng nối gót theo Tử Chi. Đi được đến nửa sân trước của phủ, Tử Chi chợt ngước lên nhìn trời, trên cao giờ đây không một ánh nắng, từng mảng mây xám ảm đạm trôi ngang như một điềm không tốt, giống hệt như ngày Vĩnh San ra đi trên bờ biển hôm đó…

Lòng Tử Chi chợt dâng lên một nỗi niềm lạnh lẽo, ngăn không cho tất cả biến thành nước mắt, cô chỉ còn có thể thốt ra năm chữ, nhưng chỉ thì thầm để duy nhất một mình nghe được “Vĩnh San, em xin lỗi.”

Trái tim thống khổ cùa Tử Chi dù đầy uất nghẹn nhưng trên mặt vẫn giữ một nét bình tĩnh chưa từng, có lẽ vì trải qua quá nhiều chuyện nên cô cũng như mẹ mình, rằng đã quá quen với nỗi đau đớn giày xéo tâm can do số phận đem lại, nên cũng không còn thiết tha gì việc khóc thương cho một quá khứ tươi đẹp mà lẽ ra phải kéo dài đến bây giờ và mai sau. Mọi chuyện cũng xem như là chấm dứt, cơn mộng mị của cô về những ngày nắng vàng cùng Vĩnh San nắm tay chạy dài trên biển xanh năm xưa, hay ước mong được cùng ngài sánh vai làm vợ chồng, giờ cũng tiêu tan như mây khói. Đến ngay cả lời hứa hẹn ngày nào, rằng dành trọn cả đời vì ngài cũng không thể giữ được, tất cả những gì còn lại chỉ là những luyến tiếc và xót xa trong tâm trí của Tử Chi như một vết khắc rỉ máu. Tử Chi tự cảm thấy bản thân đã không còn sức để chống lại số phận đã an bày, cô đành lòng đặt mình như một chiếc đò dọc mà xuôi theo con sông đời, nhấp nhô hay yên ả cũng đành chấp nhận, không lên tiếng ca thán oán trách điều gì.

Bước qua ngưỡng cửa trước phủ để bước lên xe, Tử Chi cảm thấy như mình vừa từ bỏ lại sau lưng một thứ gì đó rất quan trọng, nhưng đó là gì? Là tuổi thanh xuân của thời con gái, là những ngày thanh bình êm ấm trước kia hay là một mối tình như hoa như mộng vẫn còn dang dở? Tử Chi tự hỏi mình, nhưng rốt cuộc chính cô cũng không có được câu trả lời. Tử Chi chỉ biết rằng, dù là gì đi chăng nữa thì tất cả những điều tốt đẹp đó cũng thuộc về những ngày đã qua, vĩnh viễn sau này cũng không thể tìm lại được.

Chiếc xe sau đó theo lệnh của quan Chính sứ mà nhẹ lăn bánh rồi nhanh chóng ra khỏi đầu ngõ, lúc này trời bên ngoài vẫn không một chút nắng mai, có lẽ một ngày buồn như thế cũng không thể sánh được nỗi sầu bi trong lòng của Tử Chi. Một nỗi niềm day dứt khôn nguôi…

-o0o-


Đoàn rước Ân phi dù dốc hết sức nhưng vừa đến Tử Cấm Thành thì trời cũng đã gần đứng nắng. Thấy mấy cung nhân đi theo hầu lấy tay lau mồ hôi không thôi, Tử Chi thấy thương cảm mà hỏi thăm một chút thì mới biết, những người khác vì chỉ nhận lễ theo quy chế của một thứ thiếp thành ra lễ nghi ít phức tạp hơn của cô nhiều, nên rất có thể mọi người đã đến từ sớm và cũng đã được an bài nơi ở xong xuôi, dĩ nhiên cung nhân đi theo hầu cũng an nhàn hơn, không cần phải chịu cảnh đội nắng trưa như họ bây giờ. Nghe vậy Tử Chi liền nhớ đến Hạ Huyền, giờ này có lẽ chị ấy cũng đã đến nơi và đang nghỉ ngơi trong viện của mình. Chỉ nghĩ vậy thôi cũng làm Tử Chi không khỏi ghen tỵ với Hạ Huyền cùng những người khác, chí ít thì mọi thứ đều diễn ra nhanh chóng, chẳng như cô từ sáng đến giờ không có phút nào thư giãn, cứ hệt như một con rối để cho mọi người điều khiển, bản thân chỉ biết im lặng mà làm theo không lời ca thán.

Vì Tử Chi dù sao cũng là một thứ phi, tuy tất cả đều theo quy chế của chính thất nhưng rốt cuộc cửa chính Ngọ Môn cũng chỉ dành cho Hoàng đế, nên cô phải đi vào Đại Nội bằng cửa Chương Đức dành riêng cho nữ giới ở bên hữu. Lính gác cổng vừa nhìn thấy đoàn rước từ xa đã khẩn trương mở cử để đoàn rước đi vào trong. Xe ngựa lộc cộc quanh co qua vài đoạn trường lang khúc khuỷu thì mới đến được viện Dưỡng Tâm. Theo quy chế, chính thất ngay sau khi vào Tử Cấm Thành sẽ được đưa vào đây để cho cung nhân thay bộ lễ phục của triều đình. Xe vừa dừng bánh, Tử Chi còn ngồi trên xe đã nhìn thấy một đám người hầu đứng đợi sẵn, nhanh chóng đi ra hành lễ rồi dìu cô đi vào trong để trang điểm và thay lại y phục mới rồi lại gấp rút đi ra xe kéo để di chuyển sang điện Cần Chánh cử hành chính lễ với Hoàng đế.

Khoảng cách từ viện Dưỡng Tâm đến điện Cần Chánh không xa nên đoàn rước chỉ đi một chút là đến. Bước xuống xe kéo, việc tiếp đến là Tử Chi sẽ phải đi một mình vào điện, bước qua những bá quan văn võ, đi đến trước điện rồi mới dừng lại đợi Hoàng đế. Đây là một đặc quyền dành riêng cho chính thất, vì ngoại trừ Hoàng quý phi, đến ngay cả phi tần của Tiên đế thì không một người phụ nữ nào được phép bước chân vào đây.

Từ bên ngoài Tử Chi trộm nhìn vào trong, đằng sau cánh cổng giờ đây là quan văn võ tướng, tất cả đang xen nhau đứng đầy khắp cả sân đại triều trước điện, ai nấy cũng đều nghiêm trang cúi đầu như những pho tượng. Chánh sứ bộ Học đứng bên cạnh Tử Chi, nhìn vào trong một lát rồi nhẹ nhàng đưa tay ra trước, nói:

“Bẩm Ân phi lệnh bà, bên trong mọi người vẫn đang đợi Hoàng thượng cùng lệnh bà có mặt, cũng đã sắp đến giờ lành, mong lệnh bà khẩn trương.”

Tử Chi hơi rùng mình một cái vì cảm thấy có một chút hồi hộp trong lòng, nhưng cô biết dù sao thì đây cũng là một nghi thức quan trọng, mọi thứ đều không được chậm trễ, nên Tử Chi nhìn ông Chánh sứ gật đầu một cái rồi vuốt nhẹ tay áo, tư thế chuẩn bị sẵn sàng để đi vào trong. Nhưng Tử Chi chỉ vừa bước được một bước thì từ xa nghe tiếng hô của Hoàng đế giá lâm, cô đứng lại rồi liền xoay người nhìn ra phía sau. Ở đằng xa, Hoàng đế đang ngồi trên kiệu cao cùng lọng phướn ngợp trời đang dần tiến vào lại gần, trong lòng Tử Chi như nổi lên một tia chán ghét, sự hồi hộp giờ đây biến đâu mất để dành cho cơn giận dữ đang dần thiêu đốt tâm can.

Kiệu vua vừa hạ thì mọi người liền quỳ xuống mà hành lễ, Tử Chi dù không muốn nhưng cũng không dám làm trái, chỉ miễn cưỡng hạ người mà cùng tất cả đồng thanh nói “Chúng thần xin thỉnh an Hoàng thượng.”

Hoàng đế bước xuống kiệu, ôn hòa nhìn xung quanh rồi miễn lễ. Chánh sứ bộ Học đi lại rồi nói “Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng nán lại một chút, đợi Ân phi lệnh bà đã vào trong rồi thì Hoàng thượng mới cùng đoàn ngựa giá mà tiến vào điện Cần Chánh.”

Hoàng đế cười “Có lẽ trẫm đến hơi sớm, nhưng như thế cũng tốt, trẫm sẽ cùng Ân phi đi vào trong luôn một thể.”

Nghe nhắc đến mình, Tử Chi liền cung kính nói “Bẩm Hoàng thượng, lễ tiết trước nay là quan trọng, thần đi một mình vào trong trước sẽ tốt hơn, mong Hoàng thượng đồng ý.”

Quan Chánh sứ cũng lên tiếng “Dạ thưa, nếu Hoàng thượng và lệnh bà tiến vào bên trong cùng lúc thì thần chỉ e sẽ làm trái quy định trước giờ. Kính mong Hoàng thượng suy xét.”

Hoàng đế cười mát “Là do ông Chánh sứ quá nghiêm trọng rồi. Cái gì mà quy định trước nay? Lễ nghi tổ tông để lại thì trẫm thay đổi một chút cũng sẽ không sao, chỉ là trẫm không nỡ để mọi người cứ đứng đợi thêm lâu dưới trời trưa nắng như vậy. Ông nghĩ xem có phải hay không?”

Nghe Hoàng đế nói vậy, mọi người cũng không ai dám nói thêm tiếng can ngăn, ông Chánh sứ cũng chỉ biết cúi đầu mà nói hai chữ “Tuân lệnh.” Hoàng đế nói rồi liền đi đến chỗ Tử Chi, đưa tay ra rồi nói “Trẫm sẽ cùng khanh tiến vào trong.”

Hành động bất ngờ này của Hoàng đế lại càng làm cho Tử Chi thêm khó xử, nửa muốn tuân lệnh nhưng củng nửa như muốn bật ra lời từ chối, chỉ là tình thế trước mắt buộc rằng Tử Chi phải gật đầu đồng ý dù cơn lửa giận vẫn còn đang bốc cháy trong lòng. Rốt cuộc, sau mấy giây ngập ngừng, cô mới miễn cưỡng đặt tay của mình lên tay Hoàng đế. Cả hai ngay đó tiến vào bên trong sân đại triều trước sự kinh ngạc của những người xung quanh.

Bá quan văn võ bên trong khi thấy như vậy, lòng chắc hẳn sẽ không khỏi bất ngờ, nhưng tất cả đều giữ đúng quy củ, chỉ nhẹ nhàng liếc nhìn nhau rồi lại cúi đầu giữ lễ như chưa từng thấy gì. Tử Chi bước đi đến đâu thì quan quân trong sân gật đầu chào đến đó. May mắn rằng bộ trang phục của chính thất tuy nặng nề, nhiều tầng nhiều lớp, nhưng lại dễ di chuyển mà uy nghi vô cùng, lại thêm việc sánh vai bên cạnh Hoàng đế Nam triều cũng là một lợi thế, nên Tử Chi dù là người phụ nữ duy nhất có mặt ở đây lúc này nhưng trong lòng lại không hề chơi vơi lạc lõng, ngược lại cô còn cảm thấy bản thân quyền lực hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, cảm giác đó cũng nhanh chóng bị dập tắt bởi sự chán ghét trong tâm can, nên Tử Chi vẫn không thèm nhìn Hoàng đế, chỉ lạnh lùng ngẩng cao mặt lên và tập trung về phía trước.

Đến trước điện Cần Chánh, cả hai xoay người lại về phía triều thần. Hoàng đế lúc đó vẫn giữ nguyên tư thế, tuy lòng bàn tay có chút ẩm ướt, nhưng trước sau vẫn nắm chặt tay Tử Chi không chút nới lỏng. Cô cũng không lấy làm lạ cũng không thắc mắc, hay nói đúng hơn là cô chẳng thèm để tâm, chỉ dửng dưng đứng bên cạnh Hoàng đế đợi đến lúc làm lễ.

Sau đó có một vài quan chức lớn người Pháp cũng đến để tham dự, Tử Chi dĩ nhiên không quan tâm dù vẫn hành xử với họ một cung cách đúng mực của một hoàng phi. Nghe tiếng hô, mọi người bước vào trong để chuẩn bị tiến hành mọi nghi thức. Tất cả lễ nghi trong suốt buổi đều diễn ra suôn sẻ dưới sự chỉ đạo của bộ Học. Dù thấy cha của mình cũng đang đứng trong điện, rất gần chỗ của Tử Chi đứng nhưng cô cũng không muốn bắt gặp ánh mắt của cha mình, phần tránh để thấy trong lòng thêm xúc động, thêm nữa cô cũng không muốn mình bị khinh suất mà rước xấu hổ vào thân, nên suốt buổi lễ Tử Chi cứ tập trung làm lễ mà không dám lơ là.

Ngay sau khi đại lễ ở điện Cần Chánh kết thúc thì Tử Chi cùng đoàn rước liền đi sang cung Diên Thọ và cung Trường Sanh để thỉnh an Lưỡng tôn cung, đây cũng là một phần quan trọng và cũng là phần cuối cùng trong quy chế phong chính thất triều Nguyễn. Đến lúc này thì Tử Chi không còn nhiều lo lắng, chỉ mong mọi thứ diễn ra nhanh chóng để đi về chỗ của mình nghỉ ngơi, kịp chuẩn bị cho buổi yến tiệc đón các tân phi tần trong tối hôm nay. Tên thái giám đi cùng nói, vì đức Thánh Cung và đức Tiên Cung tuy bên ngoài là gần như đồng vai đồng vế nhưng thực ra tôn ti có chút cách biệt, đức Thánh Cung dù sao cũng là Hoàng quý phi của Đồng Khánh đế nên Tử Chi phải đi sang cung Diên Thọ thỉnh an trước rồi mới sang cung Trường Sanh sau.

Khi mọi lễ tiết hoàn thành thì cũng quá trưa. Vì từ sáng đến giờ Tử Chi chưa có được một giây được nghỉ ngơi nên cô cảm thấy mệt đến lả người. May mắn là lúc cô vừa rời khỏi cung Trường Sanh thì được nghe tên thái giám kia đứng báo tin rằng mọi lễ tiết đã xong xuôi nên hắn được phái đến đây để thỉnh Tử Chi về nơi ở của mình, cô liền thở nhẹ một cái như trút hết mọi mệt mỏi, không nói thêm gì chỉ lặng lặng mà gật đầu rồi lên xe kéo mà đi theo sự dẫn đường của hắn.

Chiếc xe kéo dừng lại ngay đằng trước một ngôi điện với mái ngói cong lên nền trời xanh nhìn vô cùng tráng lệ. Tử Chi vừa bước xuống thì một toán cung nữ, trong đó Miên Thanh dẫn đầu đi đến ngay trước mặt, vội vàng cúi người nói “Chúng thần xin thỉnh an Ân phi lệnh bà.”

Tử Chi nhẹ gật đầu ra hiệu miễn lễ, tên thái giám đi cùng liền đưa tay ra phía trước, miệng mồm liến thoắng nói “Bẩm lệnh bà, điện Trinh Minh này là do chính khẩu lệnh của Hoàng thượng ban cho lệnh bà. Điện vừa được sửa sang, đồ dùng trong điện tinh xảo hiếm có. Vị trí điện cách xa chốn lục viện của các phi tần khác…” rồi hắn chỉ về đằng kia “…lại gần sát với điện Càn Thành của Hoàng thượng, thần dám chắc rằng không có ai khác trong cung được hưởng ân huệ này đâu ạ.”

Những điều mà hắn nịnh hót nãy giờ thực ra Tử Chi cũng đã từng được nghe vị Thượng nghi nói qua, chỉ là lúc đó không mấy để tâm, chưa muốn nói là thậm chí Tử Chi còn không muốn nhận được mấy ân điển này nên lại càng chẳng thèm suy nghĩ về việc điện Trinh Minh này sẽ như thế nào. Tuy nhiên, đứng trước tấm biển treo trước điện đề ba chữ “Trinh Minh điện” được tô vẻ cẩn thận, bên ngoài lại trông hết sức hoành tráng, lòng Tử Chi hơi kinh ngạc về Hoàng đế, thầm nghĩ thì ra ngài ta cũng một chút gọi là có tâm đối đãi, ít nhất thì cũng là dành cho cô một chút vinh hoa như thế này.

Bước vào bên trong, Tử Chi lướt mắt nhìn quanh, lòng lại cũng kinh ngạc không kém ban nãy. Mọi thứ từ cao đến thấp, từ trong ra ngoài đều được bố trí vô cùng nhã nhặn, sang trọng và đậm nét cổ kính, từng vật dụng trong điện lại hết sức tinh tế, vừa nhìn đã thích mắt. Từng là tiểu thơ của Hồ phủ, so về độ giàu có của gia đình thì cũng vào bậc nổi tiếng khắp vùng, nhưng trước nay Tử Chi cũng chưa từng được tận mắt nhìn thấy những thứ trân bảo quý giá như thế này.

Đi đến giữa gian, Tử Chi không giấu được vẻ thích thú mà cầm chiếc tách trà bằng ngọc bọc vàng trên bàn lên để ngắm, tên thái giám thấy vậy liền nhanh nhảu nói “Bẩm, đây cũng là những vật mà chính Hoàng đế chọn cho điện Trinh Minh của lệnh bà đấy ạ. Chẳng hay lệnh bà có thích không?”

Nghe hắn nói vậy, Tử Chi liền thôi ngắm nghía mà đặt thứ trên tay xuống, cười lấy lệ “Tất cả cũng là Hoàng thượng quan tâm nhiều đến điện Trinh Minh.”

Nói xong Tử Chi liền ra hiệu cho Miên Thanh đưa cho hắn vài đồng. Tên thái giám làm vẻ ngại ngùng nhưng hai tay cũng xòe ra để nhận tiền, miệng cảm ơn rối rít, còn không quên dặn dò mấy câu rồi mới xin lui ra ngoài. Thấy hắn đã khuất bóng rồi, Tử Chi thở ra một cái. Tuy bây giờ trong điện không thấy có người qua lại, nhưng Tử Chi cũng cẩn thận nhìn quanh, Miên Thanh hiểu ý nên vừa dìu cô ngồi lên sập vừa trấn an “Lệnh bà đừng lo, em đã bảo bọn cung nữ kia đi ra ngoài mà pha nước tắm rồi, không còn ai ở đây nữa đâu.”

Lúc này Tử Chi mới thật sự nhẹ nhõm, liền vươn vai một cái rồi lấy tay xoa lên hai đầu gối, nhỏ giọng than thở với Miên Thanh “Quả thực từ sáng đến giờ ta không được một phút ngơi nghỉ, nếu lễ nghi mà còn kéo dài hơn nữa chắc là ta sẽ chịu không nổi.”

Nhẹ bóp vai cho Tử Chi, Miên Thanh cất giọng an ủi “Quy định nghiêm ngặt nên lễ rước cũng phải tuân theo dù phức tạp, chỉ khổ cho thân của lệnh bà.”

Tử Chi chỉ cười không đáp, Miên Thanh thấy vậy nên không dám nói thêm, chỉ là sau đó Tử Chi cứ mãi xoa hai đầu gối không ngừng tay, nàng ta mới lên tiếng “Chắc lệnh bà mệt mỏi cả ngày cũng đau chân, lát nữa em pha nước ấm cho lệnh bà ngâm chân chắc sẽ thấy ổn hơn.”

Tử Chi lắc đầu, ủ rũ nói “Lát nữa em rang một chút muối hột cho nóng rồi để vào túi vải cho ta là được rồi. Ta từng nghe cha nói dân gian cứ đắp muối rang nóng lên thì đầu gối thì sẽ đỡ đau.”

Miên Thanh không hiểu nên nghi hoặc hỏi “Muối rang nóng thường chỉ dành cho người bị tổn thương xương ở gối, nếu không thực sự cần thiết thì không cần tùy tiện dùng đến. Chẳng lẽ lệnh bà…”

Tử Chi nhìn Miên Thanh với đôi mắt đang tròn xoe cả kinh, rồi ngập ngừng nhìn ra ngoài một lần nữa, chắc chắn rằng không có ai đi qua đi lại trong điện, cô mới từ từ vén chiếc quần đang mặc bên trong tà áo Nhật Bình lên. Chân trần của Tử Chi dần dần lộ ra, da thịt trông đều trắng nõn nhẵn nhụi nhưng khi vừa lên gần đùi một chút, thì Miên Thanh há miệng không kịp che lại, mặt hết sức kinh hoàng khi nhìn thấy vùng da ở đầu gối của Tử Chi bầm tím, lại xanh đen loang lỗ, trông vô cùng ghê sợ.

Tử Chi cũng không lường trước được, lo lắng nói “Ta cứ tưởng đầu gối ta chỉ đau đớn bình thường, nào ngờ đến ngay cả da cũng bị bầm tím, lát nữa em nhớ luộc trứng gà cho ta nữa nhé.”

Miên Thanh không trả lời vội ngồi xuống, tay không dám chạm vào chân Tử Chi, chỉ nhăn mặt hỏi “Đầu gối của lệnh bà chắc hẳn là bị quỳ quá lâu trên nền gạch cứng nên mới thành ra thế này. Nhưng em biết dù cung quy nghiêm khắc thì nếu có quỳ làm lễ thì cũng chỉ quỳ trên đệm hay gối, đâu thể nào lại để cho lệnh bà quỳ trên nền gạch được? Lẽ nào đây cũng là quy chế trong lễ rước chính thất của Hoàng gia hay sao?”

Thấy Miên Thanh đang xúc động nên lời nói ra có phần lớn tiếng, Tử Chi cẩn thận giơ ngón tay lên ra hiệu, sau đó mới ngập ngừng, nhỏ giọng đáp “Quỳ ở điện Cần Chánh không lâu, cũng là quỳ trên gối gấm nên không sao. Chỉ là khi đi qua…cung Trường Sanh thì ta bị bắt quỳ trên nền gạch mà nghe giáo huấn, nên mới thành ra như vậy.”

Miên Thanh nghe xong lại càng kinh sợ, đè nén giọng nói “Cung Trường Sanh? Chẳng phải đó là nơi ở của đức Tiên Cung hay sao?” rồi nàng ta như hiểu ra điều gì, nghiêm trọng hỏi “Là lệnh bà bị đức Tiên Cung phạt quỳ trên gạch nên đầu gối mới ra nông nỗi này?”

Tử Chi chậm rãi hạ quần xuống, rầu rĩ nói “Khi ta vào cầu thỉnh an thì đức bà không lệnh cho ta đứng lên, chỉ để quỳ như vậy trong suốt cả giờ để giáo huấn mọi điều. Phải đến lúc cung nữ báo đến giờ dùng thiện thì đức bà mới để cho ta đứng lên ra về.”

Miên Thanh nghe như muốn khóc, phẫn uất nói “Đây là chốn cung quy nghiêm ngặt, lệnh bà lại ở ngay trước một người có quyền uy lớn nhất nhì nội đình, nên lệnh bà cũng không còn có thể làm gì ngoài việc nhẫn nhịn mà làm theo, tránh làm phật ý đức Tiên Cung. Thật là khổ cho lệnh bà quá.”

Tử Chi hơi cúi đầu xuống, trầm ngâm “Lúc trước ta cũng đã nghe rằng đức Tiên Cung là người khó tính, luôn thích phân biệt tôn ti rõ rằng, nghĩ ai trong nội đình cũng như vậy nên lòng cũng không để tâm lắm. Chẳng ngờ lúc thấy tận mắt, đau tận xương thì mới hiểu vì sao Thượng nghi viên sư khi nói về đức bà thì luôn miệng nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận như vậy. Quả thực những tháng ngày sau cũng không dễ dàng gì.”

Miên Thanh cũng không dám an ủi thêm, sợ rằng Tử Chi thêm tủi, chỉ khéo léo chuyển sang chuyện khác “Vậy còn đức Thánh Cung ở cung Diên Thọ thì sao? Em nghe nói đức bà là người hay đi chùa, lại ăn chay niệm Phật, tính tình đôn hậu nên khi vào thỉnh an chắc lệnh bà sẽ dễ chịu hơn.”

Nghe nhắc đến Thánh Cung, Tử Chi hơi mỉm cười, gật đầu nói “Đức bà là người sùng đạo Phật nên quanh điện bày trí rất nhiều tượng Phật và đài sen, xa hoa hơn một chút chỉ là mấy bình hoa huệ trắng cùng mấy quả Phật thủ đặt xung quanh, hương hoa huệ và Phật thủ thơm ngát nhưng thanh lệ hết mực, khi ta bước vào cũng cảm thấy thư thái vô cùng.”

Rồi cô kể tiếp “Lúc ta vừa quỳ xuống thỉnh an thì đức bà gọi người hầu đỡ ta dậy rồi ban ngồi lên kỷ để tránh đau chân, chỉ là ngồi nói chuyện được một chút thì đức Thánh Cung lại cảm thấy đau lưng. Ta biết đức bà là người từ lâu đã bị chứng bệnh đau lưng và khớp rất nặng nên cũng không dám ở lâu, liền khéo léo xin cáo lui để bà còn sớm vào trong nghỉ ngơi. Khi về đức bà còn dặn rằng sau này nhớ sang cung Diên Thọ mà hầu chuyện cùng đức bà, lòng ta vô cùng cảm kích.”

Miên Thanh liền lấy đó mà vui mừng, hồ hởi nói “Đức Thánh Cung có vẻ rất yêu thích lệnh bà, sau này chúng ta sẽ có chỗ để nương tựa rồi.”

Tử Chi thận trọng nói “Có phải như vậy hay không thì sau này ắt biết. Nội đình xưa nay là nơi chất chứa nhiều ân oán, cũng mong giờ đây có được chút thật lòng đối đãi để ta còn yên tâm mà sống, để làm tròn cái gọi là ngôi Nhất giai Phi này.”

Miên Thanh nắm chặt tay Tử Chi, khẩu khí mạnh mẽ “Lệnh bà đã quá lo rồi. Lệnh bà thông minh hiểu biết, lại có em luôn đi cùng lệnh bà, hai chúng ta luôn luôn giúp đỡ nhau, lúc trước cũng vậy, bây giờ cũng vậy mà sau này cũng vậy. Còn Tiệp dư Hạ Huyền nữa, cô ấy sẽ không để mặc lệnh bà chịu khổ.”

Nghe nhắc đến Hạ Huyền, Tử Chi như nhớ ra là vẫn chưa biết chị ấy ngụ ở đâu trong khu lục viện, vừa định lên tiếng hỏi thì một cung nữ bước vào trong, lanh lợi nói “Bẩm chị Miên Thanh, chẳng hay nước tắm của lệnh bà có pha thêm hương gì hay không ạ?”

Miên Thanh làm mặt suy nghĩ một khắc rồi ra lệnh “Cứ để thêm vài loại hương liệu từ Pháp mà Hoàng thượng ban tặng lệnh bà, hoặc mi cứ chọn mùi hương hoa dành dành là thích hợp nhất.”

Cung nữ kia vâng dạ một tiếng rồi liền lui ra, Tử Chi lấy làm lạ nên kéo tay Miên Thanh, tròn mắt lập lại “ ‘Chị’? Cô ta gọi em là ‘Chị’sao?”

Miên Thanh không đáp ngay, chỉ che miệng cười khúc khích “Chắc là lệnh bà vẫn chưa biết, đối với lệnh bà thì em không rõ như thế nào nhưng với em thì ngôi Nhất giai Phi của lệnh bà lại vô cùng hữu ích.” rồi nàng ta háo hức kể “Khi nãy khi lệnh bà đang làm lễ, cũng là lúc em vừa được đưa vào đây để sắp xếp việc trên dưới của điện thì tên thái giám kia nói rằng em được Hoàng đế phong làm cung nữ đứng đầu của điện Trinh Minh này, chuyện này trước nay lại cực kỳ hiếm. Bọn cung nữ kia vừa thấy em là liền cúi người chào, rủ nhau kêu em một tiếng “Chị”, còn nhất nhất nghe lệnh của em. Quả thực muốn làm người ta xấu hổ mà chết mất thôi.”

Dù là nói vậy nhưng nàng ta vẫn tỏ rõ nét khoái chí, tay che miệng cười không ngừng. Tử Chi nhìn không nhịn được, liền đánh vào hông Miên Thanh làm nàng ta ui da một tiếng, Tử Chi dù muốn bật cười nhưng cũng vờ trừng mắt “Nếu như đã được gọi bằng một tiếng ‘Chị’ rồi thì hãy bớt lí lắc lại đi, có như vậy thì người ta mới tâm phục khẩu phục mãi được.”

Miên Thanh xoa xoa cái hông, làm vẻ hối lỗi nói “Em chỉ dám lí lắc trước mặt lệnh bà thôi chứ còn với đám cung nữ kia trông em oai lắm, bọn chúng không ai là không sợ em. Ban nãy lệnh bà cũng đã thấy rồi còn gì.”

Tử Chi che miệng cười, sau đó liền ngưng lại mà trầm giọng “Nhưng dù sau này có nhiều cung nữ, thì em thì việc hầu hạ ta cũng vẫn phải do em đảm nhận đấy nhé, những người khác chỉ để làm các việc vặt bên ngoài thôi.”

Miên Thanh hếch mũi lên, quả quyết nói “Bẩm, dĩ nhiên là như vậy rồi. Em cũng không an tâm mà để ai hầu hạ lệnh bà được. Bọn kia chắc chắn sẽ làm theo lời của lệnh bà truyền xuống mà không chút thắc mắc.”

Tử Chi không nói thêm gì, chỉ cười hài lòng, cảm thấy những bước đầu tiên vào nội đình nhìn chung cũng không quá đỗi khắc nghiệt, nghĩ rằng với chút quyền lực và địa vị hiện tại dù sao cũng gọi là đắc lực trong nhiều việc, có thêm Miên Thanh với Hạ Huyền kề bên, cả ba cứ tương trợ nhau chăc 1 chắn những ngày sau sẽ không phải lo sợ điều gì. Nghĩ được vậy lòng Tử Chi mới yên ổn được một chút, liền bảo Miên Thanh dìu mình đi tắm để còn kịp trang điểm mà tham dự buổi yến.

Hoàng đế trước đó mấy ngày đã có lệnh, vì đây là lễ rước chính thất, lại trùng hợp với ngày nhập cung của các phi tần khác nên yến tiệc tối nay cũng được xem như là một mâm cổ rước dâu trong dân gian, cả cung đình nên cùng nhau ăn mừng. Phía nội đình phi tần sẽ do Hoàng quý phi chủ trì tiệc ở cung Khôn Thái, còn phía quan quân trong triều sẽ được ban yến ở điện Cần Chánh do Hoàng đế làm chủ.

Tắm rửa xong xuôi, Miên Thanh lại chọn cho Tử Chi một bộ gấm thêu hình đoàn phượng cùng hoa mai, kèm thêm chiếc trâm vàng cài sau tóc và đôi bông tai kết trân châu, trông cô giờ đây hết sức mỹ miều. Nhiều ngày nhốt mình trong nhà, không để tâm đến ăn vận lộng lẫy, hôm nay được dịp nên Miên Thanh liền tỉ mỉ lựa y phục, bỗng dưng Tử Chi như không còn nhận ra dung nhan chính mình ngày thường nữa. Vừa soi gương, cô vừa ngồi lên ghế để Miên Thanh vấn khăn thì một cung nữ chạy vào thưa “Bẩm lệnh bà, phía thị vệ có cho người đến hỏi, chẳng hay hôm nay lệnh bà sẽ đi đến chỗ bà Hoàng dự yến bằng xe kéo hay là bằng kiệu để họ còn chuẩn bị ạ?”

Miên Thanh vừa chải tóc cho Tử Chi vừa cao giọng “Dĩ nhiên là chuẩn bị kiệu cho lệnh bà rồi. Ngày đầu tiên lệnh bà ra mắt gặp các phi tần thì không thể nào xuề xòa được.”

Cung nữ kia lại lảnh lót “Dạ, lời của chị Miên Thanh thật đúng. Nếu hôm nay bao nhiêu phi tần nội đình lại thấy lệnh bà của chúng ta đi kiệu đến, có thêm đoàn từ giá tháp tùng phía sau thì quả thực không còn gì vinh hiển hơn được nữa.”

Nói rồi nàng ta lập tức đi ngay, nhưng chỉ vừa định lui ra thì Tử Chi như nhớ ra điều gì, liền bất giác gọi “Khoan đã.”

Nàng kia không biết chuyện gì, liền đứng lại mà thưa “Dạ bẩm, không biết lệnh bà còn có điều gì muốn sai bảo ạ?”

Tử Chi không đáp ngay, trên mặt vẫn còn phảng phất nét do dự, tay vuốt nhẹ tóc hỏi “Hôm nay…là ngày tất cả các phi tần hội tụ tại cung Khôn Thái có phải không?”

Miên Thanh liền đáp “Dạ thưa lệnh bà, em nghe tên thái giám ban nãy có nói rằng đây là tiệc lớn, mọi tần phi trong nội đình đều phải có mặt, không phân biệt cũ mới.”

Nghe xong Tử Chi trầm ngâm một khắc, xong lên tiếng nói với người cung nữ đứng sau lưng “Từ chỗ này đến cung Khôn Thái không xa, ta sẽ đi xe kéo đến chỗ bà Hoàng cũng được, em nói lại với các thị vệ là không cần đoàn từ giá tháp tùng gì cả.”

So với kiệu được vác lên cao thì xe kéo dĩ nhiên là không thể bằng, chưa kể ngôi Nhất giai Phi của Tử Chi lại là mười phần hiến hách, đi xe kéo đến dự yến lại càng có coi hơn, nên Tử Chi vừa dứt lời thì Miên Thanh tròn mắt nhìn cô như thể không tin, lại liền cùng cung nữ kia trao đổi ý khó hiểu, nhưng sau đó cung nữ kia cũng vâng dạ mà nhanh chóng lui xuống.

Đợi khi vắng người, Miên Thanh mới dám lên tiếng “Bẩm, em có nghe một cung nữ nói rằng, trên dưới nội đình cũng chỉ là người có địa vị như lệnh bà mới được đặc ân ngồi kiệu đi dự yến, đi xe kéo chỉ dành cho bậc Tiệp dư trở xuống.”

Tử Chi như không để tâm, tự tay mà đeo bông tai cho mình, nói “Chỉ là chút chuyện cỏn con, Nhất giai hay Tiệp dư gì chứ? Ta thấy đi xe kéo đến dự yến cũng không sao mà.”

Miên Thanh không chịu thôi, vẫn cố thuyết phục “Nhưng nếu lệnh bà đi xe kéo đến, những phi tần khác sẽ coi thường lệnh bà, nói lệnh bà rằng đường đường mang danh một Nhất giai Phi lại nhất mực bình dân hơn mình, chỉ e sau này mọi người sẽ không phục lệnh bà mất thôi. Thể hiện của lệnh bà là quan trọng nhất. Ngày đầu tiên gặp mặt phi tần mà lại bị xem thường, em quả thực không cam tâm cho lệnh bà.”

Tử Chi nghe vậy không đáp ngay, chỉ nhìn Miên Thanh đang làm mặt phẫn uất như sắp khóc, cô thở dài, sau đó cẩn thận liếc mắt ra ngoài rồi mới nhỏ giọng “Mấy ngày trước khi lên đường nhập cung cha có nói, vì chuyện phong Phi cho ta mà trong triều không ít người không thích, lại có phần ganh ghét ra mặt, trong số đó có Thượng thư Hoa Kiến Lục, là cha của Nhị giai Chiêu phi, là người cũ của Hoàng thượng. Buổi hôm nay nhất định có Chiêu phi đến dự, ta thực không muốn làm cho cô ta thêm chú ý đến ta.”

Miên Thanh than nhẹ một tiếng, nói tiếp “Chiêu phi là Nhị giai, lệnh bà lại là Nhất giai, chẳng lẽ lệnh bà sợ thua kém cô ta hay sao?”

Tử Chi chau mày, lắc đầu nói “Ta không sợ cô ta, nhưng ta không muốn chỉ vì ta mà cô ta có hiềm khích với ta, rồi đến ngay cả cha của cô ta cũng sẽ gây khó khăn cho cha ta trong triều. Bản thân Chiêu phi lại là người được sủng ái bấy lâu, chuyện Chiêu phi bị ta vượt mặt chắc chắc cô ta sẽ không thích, sau này nếu ta không cẩn thận, cô ta lại có cớ gây khó dễ cho ta thì khác nào ta tự rước hại vào thân? Quyền lực của cô ta trong nội định hiện tại không ai có thể xem thường, ngay cả khi dù ta có là Nhất giai đi chăng nữa thì trước mắt vẫn phải tự chịu thua cô ta một bậc.”

Miên Thanh nghe xong liền lo lắng, nén giọng như thở “Chiêu phi…quả thực là người dễ dàng gây khó dễ cho Hồ phủ chúng ta sao, lệnh bà?”

Tử Chi gật nhẹ đầu, lòng lại đầy ngổn ngang, nghĩ rằng chỉ sơ suất một khắc thôi là tự mình lại vì thói thích khoa trương thường tình mà quên đi lời cha dặn, tự gây sóng gió cho bản thân. Vội nhìn lại diện mạo của mình trong gương, cô suy nghĩ một hồi xoay sang Miên Thanh “Em mau đi vào trong cùng ta, bộ áo này không thể dùng được.”

Miên Thanh chưa kịp hiểu chuyện gì thì Tử Chi tự mình đi vào trong để thay một y phục khác. Sau khi xong xuôi, Tử Chi bước ra ngoài rồi hỏi “Em thấy như thế nào?”

Miên Thanh làm mặt khó hiểu, nhưng cũng thật thà mà nói “Bẩm, bộ gấm màu huyết dụ này dù trông cũng sang trọng, lại thêu hình hoa sen nở vô cùng duyên dáng nhưng rốt cuộc cũng không thể làm lệnh bà mười phần nổi bật như ban nãy.”

Tử Chi nghe vậy mới cười, nói ngắn gọn “Được như vậy mới tốt.”

Mặc cho Miên Thanh tròn xoe mắt, Tử Chi chậm rãi ngồi xuống ghế, thuận tay chọn cho mình một đôi bông tai bằng bạc đơn giản mà đeo lên rồi mới giải thích “Ta thấy bộ áo này tuy không hoàn hảo, nhưng lại đơn giản trầm mặc, cũng là may từ gấm của làng Vạn Phúc. Trên người có thêm mấy món trang sức bằng bạc này nữa, người ta nhìn vào sẽ thấy ta dù không nổi bật kiều diễm nhưng cũng không phải là người xuề xòa, thiếu thốn, làm mất gia phong của Hồ phủ. Những người khác cũng khó lòng mà xem thường ta, lại càng không thể vì chuyện ăn mặc của ta mà cố tình gây thị phi sau lưng, như vậy ta mới lại yên tâm được.”

Miên Thanh giờ như được khai thông, trầm trồ khâm phục nói “Không ngờ chỉ có một bộ áo mà lệnh bà lại có thể suy nghĩ thấu đáo như vậy.” rồi tự gãi đầu “Em thực sự nông cạn quá rồi.”

Tử Chi miễn cưỡng cười, nói “Cũng chỉ vì vinh hoa của Hồ phủ và cha mẹ của ta nên mới phải cẩn trọng từng chút như thế này. Đây chỉ mới là bước đầu mà thôi, từ nay chúng ta cứ yên lặng né xa mọi nhiễu sự là tốt nhất. Mọi người được bình yên thì ta cũng đã đủ mãn nguyện.”

Miên Thanh dạ một tiếng rồi im lặng tiếp tục vấn tóc cho Tử Chi. Cuối cùng nàng ta cài lên đầu Tử Chi một cây trâm nhỏ bằng vàng, trông hết sức đơn giản. Sau khi đã chuẩn bị xong, cũng vừa lúc có người đi vào báo rằng xe kéo đã đến, Miên Thanh cùng Tử Chi đi ra ngoài điện. Nhìn lên trời, giờ này nắng cũng đã không còn gắt, lại có chút gió mát thổi qua, Tử Chi hài lòng mỉm cười rồi nói “Nào, chúng ta đi thôi.”


"Chương 14" bởi theboyofschool
Ủng hộ truyện bằng cách like fanpage Hậu cung - Phượng hoàng bay cao nhé các bạn ^v^

Link blog chính của truyện: https://theboyofschool95.wordpress.com/2017/07/16/hau-cung-phuong-hoang-bay-cao-muc-luc/



Chương 14



Chiêu phi ngồi trước bàn trang điểm, tỉ mỉ xem từng góc trên khuôn mặt mĩ miều của mình trong gương, sau đó mới tự mình đeo vào tay một chiếc vòng bằng vàng chạm hình đóa lan nở, miệng trầm trồ nói “Đây là chiếc vòng Nhất Điểm Hoàng ta vừa mới được Hoàng thượng ban thưởng tuần trước, quả nhiên càng nhìn càng thấy tinh xảo, xứng được gọi hai chữ ‘cực phẩm’.”

Song Oanh đứng bên cạnh lanh miệng khen ngợi “Trên người của lệnh bà có khi nào không phải là đồ tốt nhất? Trước nay cũng là vì Hoàng thượng yêu thích lệnh bà nên không tiếc tay mà ban thưởng. Lễ yến này khi thấy lệnh bà xuất hiện, chắc hẳn phi tần lục viện ai ai cũng sẽ phải ngưỡng mộ.”

Được khen như vậy, Chiêu phi không nén được sự hài lòng, liền vờ ngại ngùng che miệng cười tủm tỉm. Khi cả hai đang nói chuyện thì một cung nữ đi vào, nghiêng người thưa “Bẩm lệnh bà, kiệu và lọng rước đã đến, mọi người đang đợi lệnh bà bên ngoài viện.”

Chiêu phi đưa mắt nhìn nàng ta trong gương, dửng dưng hỏi “Bọn họ đến sớm như vậy sao?”

Song Oanh cười nói “Nghe lệnh của Chiêu phi lệnh bà đây thì dù là thái giám hay thị vệ thì cũng không ai dám làm việc chậm trễ.” rồi xoay sang cung nữ kia “Đoàn rước có lọng che, cờ phướn đầy đủ, chuẩn bị sẵn cả quạt thêu hình song loan song phượng nữa chứ?”
Cung nữ kia đáp “Dạ thưa, đều có không sót một thứ gì ạ.”

Từ tốn nhẹ nâng tay vuốt lại tóc đằng sau một cái, Chiêu phi chậm rãi ra lệnh “Thế thì tốt. Ta đi thôi.”

Đi đến trước cửa viện, nhìn thấy đoàn tháp tùng hơn chục người từ đầu đến cuối đều nghiêm chỉnh đứng đợi, Chiêu phi cuối cùng cũng không giấu được nét đắc ý “Dù viện Thuận Huy cách cung Khôn Thái chỉ có một đoạn trường lang, với người khác thì đi như thế này quả nhiên là xa hoa quá mức, nhưng nếu còn Chiêu phi ta đã thích thì trước sau cũng không có gì đáng nói” rồi hướng về Song Oanh mà nói “Em bảo có phải hay không?”

Song Oanh vội nhún người “Dạ bẩm, em không biết có phải hay không, chỉ biết là trên dưới phi tần đều không ai bằng được lệnh bà.”

Ngẩng đầu lên cao, Chiêu phi nói giọng điệu vô cùng tự mãn “Đúng vậy, hôm nay chắc chắn Ân phi ở điện Trinh Minh kia cũng đến dự. Ta chỉ đang tự hỏi rằng cô ta sẽ bước vào dự yến với phong thái cao sang, nhan sắc kiều diễm đến mức nào mà lại có bản lĩnh lên nắm quyền nội đình như vậy, để Lan Dung ta sau này còn phải đi đến quỳ xuống chân mà xin học hỏi dài lâu.”

Lời nàng ta nói ra thì uyển chuyển như hát, nhưng ẩn ý thì lại đầy châm chích. Biết rằng Chiêu phi dù chưa từng gặp mặt nhưng từ lâu đã không thích Ân phi Hồ thị, nên bọn cung nhân đứng gần cũng không ai dám nói điều gì, cũng chỉ là Song Oanh lên tiếng “Ân phi mà so với lệnh bà thì chẳng khác nào quạ đọ với công? Lệnh bà thập toàn thập mỹ nhất nội đình này, cần gì phải sợ cô ta cơ chứ? Vẫn là chúng ta nên đi đến cung Khôn Thái để chúng phi tần còn sớm được chiêm ngưỡng nhan sắc của lệnh bà.”

Chiêu phi nghe vậy mới chịu ngưng liếc xéo về hướng điện Trinh Minh mà bước chân vào kiệu, nàng ta uể oải nói “Khởi hành đi.”

Mọi người không dám trái ý, liền nối đuôi nhau mà rời viện Thuận Huy. Đoàn tháp tùng Chiêu phi chỉ vừa mới đi qua khỏi trường lang thì xe kéo của Tử Chi cũng vừa đến trước chỗ của Hoàng quý phi, Miên Thanh vừa đỡ Tử Chi bước xuống xe, vừa nói “Bẩm, có lẽ chúng ta đến hơi muộn, bên trong em thấy mọi người đều đã ngồi kín hết, hẳn là đã đến đông đủ. Lệnh bà cũng mau đi vào thôi.”

Gật đầu đồng ý, Tử Chi nhẹ vuốt lại áo rồi cùng Miên Thanh đi vào cung. Chỉ là vừa mới bước mấy bước thì đã nghe có một tiếng gọi vang lên “Này, các người là ai mà lại cả gan mà bước vào lại không thưa với Chiêu phi lệnh bà một tiếng? Cả hai đều chán sống rồi phải không?”

Bất giác bị mắng, hai chủ tớ Tử Chi liền đứng lại, ngơ ngác nhìn nhau rồi dáo dát nhìn xung quanh, nhưng vẫn chưa kịp tìm xem giọng nói phát ra từ đâu thì liền thấy ở đằng xa, một đoàn kiệu rước với cờ phướn quạt thêu ngợp trời đang dần tiến lại gần. Nhìn lên cao, Tử Chi nhìn thấy một người ăn vận lộng lẫy, tay chống thái dương mà hướng ánh mắt lạnh lùng về phía trước, đi bên cạnh là một người cung nữ khuôn mặt đanh đá thấy rõ, đang quắc mắt nhìn Tử Chi. Cô thầm nghĩ bụng chắc hẳn ban nãy là chính nàng ta đã lên tiếng. Nghe trong lời nàng ta vừa mới nhắc đến hai chữ “Chiêu phi”, vậy ra phi tử được người người ca tụng về nhan sắc và sự sủng ái không ngừng chính là người đang ngồi trên kiệu cao đó sao?

Kiệu đến trước cung Khôn Thái, cách chỗ Tử Chi đang đứng khoảng mười bước chân thì được hạ xuống, một cung nữ đỡ tay Chiêu phi đứng dậy. Vừa bước ra thì nàng ta chỉnh nhẹ lại chiếc lắc trên tay rồi cất tiếng nói với người cung nữ bên cạnh:

“Em mau vào trong bẩm báo với Hoàng quý phi là ta đã đến rồi.”

Cung nữ kia liền cúi người tuân lệnh, hai chủ tớ từ lúc hạ kiệu thì trước sau vẫn chỉ nói chuyện với nhau, hoàn toàn không hề để ý đến Tử Chi cùng Miên Thanh đang đứng trước mặt. Tử Chi đang không biết phải làm sao, còn Miên Thanh thì hậm hực nói nhỏ “Dù có là Chiêu phi thì cũng là hàng Nhị giai, tôn ti trên dưới nếu cô ta không chào lệnh bà trước thì thôi, sao lại có chuyện lệnh bà phải chào cô ta trước?”

Thấy Chiêu phi chỉ mải sửa sang tóc tai và cùng trò chuyện với đám người hầu, Tử Chi cũng không muốn nán lại ở đây thêm, bèn xoay gót mà bước vào cung, thì thầm “Mặc kệ cô ta đi, chúng ta mau đi vào thôi.”

Nhưng chỉ vừa mới dứt mắt khỏi nàng ta thì người cung nữ bên kia đi nhanh đến trước Tử Chi cùng Miên Thanh mà trợn mắt “Ơ này, ta ban nãy là nói hai người đó, các người không biết đây chính là Nhị giai Chiêu phi của triều đình hay sao mà vẫn thèm chào hỏi?” rồi nàng ta bĩu môi “Nhìn dáng vẻ như vậy, lại còn đi xe kéo mà đến nữa thì đích thị không phải là người có địa vị cao trong cung rồi, bất quá cũng chỉ là một Tiệp dư mà lại không để Chiêu phi lệnh bà vào mắt, quả thực là quá sức hỗn xược.”

Đây đích xác là giọng của người lên tiếng mắng ban nãy, cách nói chuyện không biết trên dưới của nàng ta quả là làm cho người nghe khó chịu. Ngay cả đám tùy tùng đằng sau tuy không mở miệng nhưng lại tủm tỉm cười khi thấy Tử Chi bị mắng như vậy, quả là vì chủ được ân sủng không ngừng như vậy khó trách người hầu cũng chẳng thèm nể nang ai. Tử Chi dù để những lời khó nghe lọt vào tai, nhất thời chưa kịp nói gì, chỉ nhìn sang Chiêu phi bên cạnh, thấy nàng ta chỉ đang chăm chú dùng tay chỉnh nhẹ lại cái vòng đeo trên cổ, nhất quyết không thèm ngó ngàng đến Tử Chi, cũng không thèm nói tiếng nào dù là lời quở trách, cứ mặc cho cung nữ của mình buông lời nhục mạ người khác trước cung Khôn Thái, hệt như xem Tử Chi cùng Miên Thanh như một mớ cỏ ven đường.

Tử Chi vừa định lên tiếng thì Miên Thanh rốt cuộc cũng nhịn không được liền tiến lên trước mà đáp trả, nàng ta cúi người mà nói với giọng điệu tuy cung kính nhưng lại có tám chín phần mỉa mai:

“Dạ, bẩm Chiêu phi lệnh bà cùng đoàn tháp tùng, con xin được thưa rằng đây là Nhất giai Ân phi vừa được sách phong ban sáng. Con xin thay lệnh bà cúi người hành lễ với Chiêu phi lệnh bà, nếu lệnh bà của con có gì sơ suất mong Chiêu phi lệnh bà cùng cung nhân niệm tình thứ lỗi.”

Lời đanh đá như vậy cứ như muốn ăn thua đủ với cung nữ kia mà Miên Thanh cũng dám nói ra, Tử Chi nghe xong thì liền giật mình, hận mình không kịp bịt miệng nàng ta lại vì đã trót lỡ lời với Chiêu phi cùng tùy tùng. Nhưng không ngờ bọn kia khi Miên Thanh vừa dứt câu, liền không sấn tới mà ngược lại còn như bị đông cứng trong một khắc, sau đó không ai bảo ai câu nào chỉ mặt xanh mặt đỏ nhìn nhau rồi vội vàng quỳ xuống mà hô “Chúng con xin được thỉnh an Ân phi lệnh bà.”

Cung nữ chanh chua ban nãy cũng đứng như trời trồng một lát, hồn phách lên mây, chỉ kịp lắp bắp mấy chữ “Ân phi…” sau đó mới hoàn hồn mà luống cuống quỳ xuống, run người nói “Con xin được thỉnh an Ân phi lệnh bà. Mong lệnh bà tha cho tội ngu muội.”

Vì Tử Chi không quen được cúi chào trịnh trọng như vầy nên liền lệnh cho tất cả đứng dậy. Cung nữ kia vội tạ ơn rồi lùi lại về sau, khép nép rụt rè như một con mèo ngoan bên cạnh Chiêu phi, khác hẳn với vẻ đanh đá ban nãy. Bộ dạng nàng của nàng ta làm Tử Chi không nhịn được cười, liền vờ ho một cái để lắp đi để không ai nhìn thấy.

Uy thế địa vị của Tử Chi ban nãy làm mọi người xung quanh lúc nãy ai cũng đều kinh sợ, duy chỉ có nàng Chiêu phi kia là đứng im một chỗ, tay vẫn bình thản vuốt nếp áo, chỉ là khi nghe đến chữ “Ân phi” thì nàng ta có chút lúng túng, nhưng tức khắc sau đó thần thái vẫn điềm tĩnh, mặc cho bọn người hầu có luống cuống như gà mắc tóc.

Khi quần áo đã chỉn chu, Chiêu phi mới thong dong đưa mắt lên nhìn Tử Chi, thần sắc lãnh đạm, không chút cảm xúc, rồi từ từ bước ra khỏi kiệu, chậm rãi đi đến trước mặt cô. Có dịp nhìn gần mới biết, lời kể của Thượng nghi viên sư quả không sai, dung nhan cô nàng quả thật diễm lệ, ngũ quan như vẽ, sắc xảo yêu kiều, mặt hoa da ngọc. Thêm phục sức trên người kim sa lộng lẫy, phong thái lại càng quyền uy sang cả. Chẳng trách sao nàng ta được Hoàng đế bao năm thương yêu sủng ái không ai sánh bằng.

Chiêu phi dừng ngay trước mặt Tử Chi chừng nửa thước, ánh mắt vẫn nhìn thẳng không hề kiêng dè nể sợ. Tử Chi nhất thời bị ánh nhìn lạnh lùng đó làm nao núng nên chân liền lùi về sau trong vô thức. Sau đó nàng ta chợt đứng lại, nhìn Tử Chi trong chừng 3 khắc rồi chợt nhoẻn một nụ cười khó hiểu, đầu cúi xuống hành lễ như quy tắc “Chiêu phi Hoa thị ở Thuận Huy viện xin được thỉnh an lệnh bà Ân phi”.

Tâm tư hành động của cô nàng Chiêu phi này quả thực khó đoán, Tử Chi nhất thời chưa biết làm gì, miệng chỉ kịp lúng búng nói câu “Chào Chiêu phi, Chiêu phi hãy mau đứng dậy .” nhưng dù cho Tử Chi cố tỏ ra tự nhiên nhưng vẫn thấy giọng mình nói ra khô khan. Tay nàng nắm chặt, nhìn Chiêu phi sợ sệt như thể một con chuột đang co ro trước một gã hổ mang bạo chúa.

Ngay sau đó Chiêu phi lại trở về trạng thái kiêu ngạo ban đầu, mắt vẫn nhìn thẳng Tử Chi không khách khí “Bọn gia nhân của ta được nuông chiều từ lâu nên quen thói làm càn, hôm nay lỡ dại mạo phạm Ân phi, kính mong lệnh bà tha lỗi cho ta đây không dạy dỗ người hầu kỹ càng mà đừng trách phạt bọn chúng.”

Tử Chi chớp chớp mắt, nói giả lả “Không sao, không sao.”

Chiêu phi nhún gối tạ ơn “Cũng may lệnh bà dễ tính hiền lành. Hoàng đế phong một bước lên làm Nhất giai Ân phi âu cũng là điều dễ hiểu.”, rồi miệng lại cười tươi, trái ngược hẳn với ánh mắt châm chọc kia “Uy danh của lệnh bà, chắc hẳn sẽ lưu truyền sách sử. Ta nghĩ rằng cung nhân Đại Nội này từ hôm nay nên đặt lệnh bà cạnh gia tiên tổ phụ hằng ngày thắp hương để mà tưởng nhớ ân đức lệnh bà. Được như vậy mới xứng, có phải không thưa Ân phi?”

Tử Chi nhìn qua Miên Thanh đứng bên cạnh, cô nàng Chiêu phi này, lời đồn không sai, nhận ân sủng ngút trời bao năm làm nàng ta trước sau không coi ai ra gì.

Bọn tì nữ của nàng ta đằng sau nghe vậy liền che miệng cười khúc khích trông thật khiếm nhã, dù trước đó ai nấy còn đang làm mặt lo sợ. Chiêu phi đặc biệt ngân nga hai chữ cuối làm Tử Chi thêm thẹn thùng. Cô dù thừa biết nàng ta chỉ đang mỉa mai mình, nhưng nhất thời chẳng biết phản ứng sao cho phải, chỉ biết cười cho qua chuyện “Là Chiêu phi nói quá rồi.”

Không thể để cô nàng có dịp đứng đây tiếp tục giễu võ ra oai nữa, Tử Chi làm mặt lo lắng “Ta thấy rằng mọi người trong nội đình gặp nhau thường xuyên, cho nên sau này ắt có dịp cho ta cùng Chiêu phi đây hàn huyền tâm sự, chỉ là tiệc mừng các phi tần mới tiến cung có lẽ đã bắt đầu rồi, chúng ta mau mau đi vào kẻo Hoàng quý phi lệnh bà trách tội.”

Chiêu phi che miệng cười khiêm tốn rồi gật đầu tỏ vẻ đồng ý, tay giơ ra trước ý nói mời Tử Chi đi trước. Cô cũng không chần chừ, liền dẫn Miên Thanh bước vào trong cung Khôn Thái. Thoát được ánh nhìn đầy khiêu khích đó của Chiêu phi cũng làm cho Tử Chi nhẹ người đi phần nào, cô thở mạnh một cái như tự trấn an bản thân.

Bên trong chính điện cung Khôn Thái rộng gấp mấy lần điện Trinh Minh. Trên dưới đều sơn son thếp vàng, lộng lẫy tinh xảo nhưng bày trí lại vô cùng đơn giản, thanh nhã hiếm thấy. Đại yến đêm nay được tổ chức ở gần cửa, nhìn từ ngoài vào đã thấy náo nhiệt, âm thanh cười nói vang trời xen kẽ tiếng đàn hát vui tươi.

Khi vào đến thì Hoàng quý phi và các hậu phi khác đều đã có mặt. Hoàng quý phi ở trên ghế cao, mặc áo Nhật Bình, đầu vấn khăn lụa, nhìn hết mực uy quyền điềm tĩnh, đang ngồi ngay chính giữa đại yến cùng mọi người đợi đầy đủ mặt phi tần.

Tử Chi cùng Chiêu phi vội bước vào rồi cúi đầu nói “Chúng em cùng tì nữ vì có việc nên chậm trễ đến dự yến, mong bà Hoàng xá tội.”

Đại Hoa cười mát, nói “Không sao, đến là tốt rồi. Thực ra thì vẫn chưa đến thời điểm khai yến, Huệ tần đến giờ cũng vẫn chưa thấy xuất hiện, nên Ân phi cùng Chiêu phi mau đi vào chỗ của mình đi.”

Một vị thái giám đứng cạnh đó dẫn hai người ngồi vào hai bàn còn trống duy nhất ở bên hữu – nơi dành riêng cho các phi tần ngồi dự yến. Nhìn sơ cũng đủ biết vị trí ngồi của các mọi người được xếp theo thứ bậc từ cao đến thấp. Vì là Nhất giai Phi nên Tử Chi được xếp ngồi bàn đầu, gần sát Hoàng quý phi, bên cạnh là vị trí của Chiêu phi, kế đến là chỗ của các phi tần khác, còn ngay đằng sau lưng cô là là Hạ Huyền.

Hạ Huyền vừa nhìn thấy Tử Chi liền cười híp mắt, trách nhẹ “Sao em lại đến muộn như vậy, làm chị đợi mãi, cứ lo là em không đến.”

Tử Chi cười nói “Cũng là vì trời hơi nóng nên em mới ham mát tắm lâu, làm cho chị một phen lo sợ rồi.”

Nói rồi nhìn sang dãy đối diện, các phu nhân là vợ của Hoàng thân quốc thích cũng được mời đến dự yến, tất cả cũng đang trò chuyện với nhau, chỉ là ai cũng đều một lần ghé mắt nhìn Tử Chi rồi quay sang người bên cạnh bàn tán to nhỏ gì đó nên Tử Chi có chút không thoải mái, nên vừa ngồi xuống cô bèn xoay ra sau mà nói chuyện với Hạ Huyền cho khỏi phải bận tâm những người kia nữa.

Ngay lúc Chiêu phi vừa bước vào bàn, định an tọa thì cô nàng kiêu kì hôm nọ ở buổi học cùng Thượng nghi viên sư, đang ngồi bên cạnh Chiêu phi thì chợt che miệng mỉm cười, sau đó đứng dậy ngân nga nói “Bẩm bà Hoàng, vì bây giờ vẫn chưa khai yến, mà em thì lại vừa nhập cung nên có nhiều chuyện chưa rõ. Không biết em đây có thể mạn phép nhờ bà Hoàng cùng Ân phi và Chiêu phi giúp em làm sáng tỏ được không ạ?”

Mọi người đang râm ran trò chuyện thì chợt bảo nhau im lặng mà nhìn nàng ta như chờ đợi điều gì. Tử Chi nghe nói đến mình thì tim đập mạnh một cái, sau đó cũng liền ngưng nói, cùng với Chiêu phi lúc này còn chưa kịp ngồi xuống mà hướng ánh mắt nghi hoặc về nàng ta. Duy chỉ Đại Hoa ngồi trên cao, mặt vẫn ung dung mà nói “Phi tần vừa mới nhập cung, có nhiều chuyện không quen thì cũng là lẽ thường. Chức trách của chính cung là giáo huấn, làm gương cho phi tần. Hôm nay Cẩn tần nếu không ngại thì cứ hỏi tại đây đi vậy, ta cùng mọi người đang lắng nghe đây.”

Cẩn tần như đợi ai cũng đều im lặng hết rồi thì mới cất tiếng “Dạ bẩm, cũng không phải là chuyện gì lớn. Chỉ là em thấy hai lệnh bà Ân phi cùng Chiêu phi từ sớm trước khi nhập cung đều đã được chúng khuê nữ hâm mộ, ai cũng đều lấy hai lệnh bà ra làm tấm gương cho mình. Cho nên khi thấy hai lệnh bà dù đã được báo trước rằng hôm nay sẽ có đại yến ở cung của Hoàng quý phi nhưng cả hai không hẹn đều đến trễ, em tự hỏi phải chăng từ đây trở về sau đi dự yến trễ mới đúng là tấm gương dành cho đức phi tần hay sao?” rồi nhìn sang Chiêu phi như khiêu chiến “Cũng là em chưa quen quy tắc, vẫn mong Chiêu phi cùng Ân phi lệnh bà giải đáp giúp em.”

Trong điện lúc này chúng phi và các phu nhân không hẹn mà cùng nhau đưa mắt nhìn Cẩn tần, rồi lướt qua như chờ xem phản ứng của Tử Chi và Chiêu phi ra sao. Tử Chi chẳng ngờ Cẩn tần Dư thị cứ nghĩ trước đó hay nói lời chanh chua, khi vào cung sẽ khiêm tốn hơn, nào ngờ nàng ta chỉ mới vừa nhập cung chưa tới một ngày mà đã muốn diễu võ ra oai. Nghe nàng ta nhắc nhở mỉa mai trước nhiều người như vậy, Tử Chi mặt đỏ bừng xấu hổ, còn lúng túng chưa kịp phản ứng thì Chiêu phi lên tiếng trước, nàng ta vờ gật gù nói:

“Đây chẳng phải là Cẩn tần mới được phong đây sao? Quả thật người đúng như lời đồn, nói chuyện có khí phách lắm.” rồi lại đanh giọng, sắc lạnh không nể nang mà nói “Ta thấy ban nãy Cẩn tần có nhắc đến ba chữ ‘đức phi tần’, mà Cẩn tần đã là phi tần thì cũng phải nên biết rằng mọi chuyện trong nội đình này tất cả đều phải tuân theo phép tắc đi từ cao đến thấp, trên hết có Lưỡng tôn cung, dưới nữa là bà Hoàng. Chuyện đi dự yến trễ hay muộn cũng là như vậy, nếu bà Hoàng đã không chấp nhặt thì Cẩn tần cũng phải nghe theo mới phải, đằng này Cẩn tần lại một lời hai lời nói rằng ta đến dự yến trễ, vậy chẳng phải là Cẩn tần đây lại muốn nói bà Hoàng là người không công tâm phân xử, gây náo loạn nội đình hay sao?”

Cẩn tần không hề có ý nhượng bộ mà đáp lời “Nếu ai đã có tâm không phục lời của bà Hoàng thì người khác nói câu gì ra cũng đều nghe thành ý không phục. Riêng bản thân em đây không dám mạo phạm đến bà Hoàng, chỉ là đang lo rằng Hoàng thượng nếu nghe được lời người khác nói ra nói vào mà thay vì nghĩ bà Hoàng đôn hậu rộng lượng, lại cho rằng Chiêu phi hôm nay cố tình đến trễ để tỏ thị uy thì chẳng phải Chiêu phi lệnh bà gặp phải một phen vất vả rồi hay sao?”

Chiêu phi nghe thế liền che miệng cười mỉa mai một cái “Là Cẩn tần quá lo rồi, từ nhỏ ta đã được học rằng thân độc sủng là thân mang họa, ta văn chương không giỏi nhưng cũng thấu hiểu đạo lý đó, nên trước nay chưa bao giờ dám giành ân sủng cho riêng mình. Chỉ trách là Hoàng thượng quá yêu thương ta đây yếu đuối nên cứ thích sủng ái, ta cũng chỉ còn cách không dám cãi lệnh, thực là đã làm những người tài đức vẹn toàn như Cẩn tần đây sau này phải vì chờ Hoàng thượng đến mà mong ngày ngóng đêm rồi.”

Cẩn tần liền đáp trả, khóe môi cong lên thấy rõ “Xin cảm tạ sự lo lắng của Chiêu phi lệnh bà. Chúng phi tần trên dưới cũng đã nghe nhiều rằng lệnh bà độc sủng hậu cung, không ai sánh bằng. Chỉ là em từng nghe qua câu...‘Trèo cao té đau’ nhưng chưa từng thấy tận mắt. Chắc là Chiêu phi lệnh bà đây phải chỉ dạy em nhiều rồi.”

Chiêu phi liền biến sắc nhìn Cẩn tần đang vênh váo, mọi người xung quanh đang không ai dám nói gì, chỉ lặng lẽ mà xem khẩu chiến thì một phi tần ngồi đằng xa gần sát cửa lên tiếng “Cẩn tần đây là người mới hầu hạ Hoàng thượng nên chắc không biết, nếu xét ân sủng mà nói lên địa vị thì Chiêu phi lệnh bà trước giờ chỉ thua mỗi bà Hoàng. Thiết nghĩ Cẩn tần hầu hạ chưa lâu, nên kiệm lời mà nghe ngóng nhiều hơn, đọc lại cung quy về đức phi tần thì sẽ tốt hơn đó.”

Cẩn tần nhất định không chịu thôi, liền liếc sang người vừa nói câu ban nãy mà nói “Ta đa tạ mỹ ý của Ngô Tiệp dư. Đúng là ta đây như Tiệp dư nói, ta chỉ mới nhập cung hôm nay nên cung quy chưa rõ. Ta chỉ nhớ rằng xét theo thứ bậc, thì dưới Hoàng quý phi sẽ là Nhất, Nhị giai Phi, dưới nữa là Tam, Tứ, Ngũ giai Tần, sau đó là mới tới bậc Tiệp dư. Nhưng ta cũng xin lấy ba chữ “đức phi tần” ban nãy của Tiệp dư, rằng chẳng hay trong cung quy có dạy rằng các phi tần bậc cao hơn đang trò chuyện, thì một phi tần ở bậc Lục giai có quyền lên tiếng xen ngang ư? Ta học trước quên sau, mong Tiệp dư đây chỉ rõ tận tình.”

Chiêu phi và Ngô Tiệp dư kia còn chưa kịp phản pháo thì Đại Hoa nãy giờ ngồi im nghe cự cãi, rốt cuộc cũng phải lên tiếng giảng hòa “Thôi được rồi. Chúng ta sau này ắt còn nhiều dịp để hàn huyên. Đã đến rồi thì đừng cứ đứng mãi, Chiêu phi, em mau ngồi xuống đi. Còn Ngô Tiệp dư, ta thấy rượu của em cũng đã cạn. Hồng Lam, mau rót thêm rượu cho Tiệp dư đi.”

Nghe Hoàng quý phi nhắc nhở, Chiêu phi cũng không dám nói thêm lời nào, chỉ gườm Cẩn tần một ánh sắc lẹm rồi miễn cưỡng ngồi xuống bàn, mặt đăm đăm khó chịu. Cẩn tần làm vẻ mặt hả hê, ngẩng cao đầu mà chỉnh lại tóc rồi ung dung uống một chung rượu. Mọi người sau cuộc đấu khẩu vừa rồi cũng không còn im lặng nữa mà dần dần xoay sang nhau để tiếp tục nói chuyện, âm thanh lại huyên náo cả cung, chỉ riêng Tử Chi là vẫn còn ngượng ngùng trước mặt các mệnh phụ nên nhất thời không còn hứng trò chuyện, cô cười trừ với Hạ Huyền rồi quay người lên ngồi nghiêm chỉnh.

Một cung nữ từ ngoài chợt bước vào tâu “Bẩm Hoàng quý phi, người bên Đoan Huy viện vừa sang báo, nói rằng do Huệ tần lệnh bà còn đang trong thời ở cữ nên từ sớm đã mệt nhưng vẫn cố đến dự, chỉ là đến cùng trong người vẫn không khỏe, tối nay Huệ tần lệnh bà vẫn không thể đến dự đại yến, kính mong bà Hoàng không trách tội.”

Tử Chi đưa mắt nhìn sang những chỗ bên cạnh, quả thực vẫn còn một ghế trống bên cạnh Cẩn tần. Đại Hoa ngồi trên cao nghe tâu như vậy liền nói “Nếu không khỏe thì không nên đi ra ngoài nhiều, dưỡng sức mới là điều tốt. Em nói lại với người của Đoan Huy viện rằng Huệ tần cứ an tâm ở cử, lát nữa ta sẽ sai người đem cháo tổ yến hầm cá chép sang.”

Người kia cúi đầu tuân mệnh, khi rời khỏi chính điện rồi Đại Hoa mới lên tiếng ra lệnh khai tiệc mừng các tân phi tần nội đình, mọi người cung cẩn đáp ứng. Ngay sau đó sơn hào hải vị được mang ra, trên bàn từng người đầy ắp nem công chả phượng, xa hoa tột đỉnh. Tiếng cười nói giờ lại thêm âm thanh muỗng đũa va nhau làm náo nhiệt một góc hoàng cung.

Độ chừng khoảng một giờ sau thì Tử Chi nhìn ra bên ngoài, thấy trời cũng đã bắt đầu sập tối, lúc đó cô mới nhớ từ sáng đến giờ quả là một ngày dài mà vẫn chưa được nằm nghỉ, chẳng trách bây giờ cũng đã bắt đầu thấy buồn ngủ. Sau khi thấy mọi người hai bên tả hữu đang lục tục ra về, Tử Chi cũng bèn kéo tay Hạ Huyền để xin cáo biệt Hoàng quý phi. Biết Hạ Huyền cũng đi bộ mà đến đây nên Tử Chi cũng quyết định sẽ cùng nàng ta đi về. Cả hai vừa nắm tay nhau đi ra đến cửa thì chợt nghe giọng của Chiêu phi vang lên lanh lảnh ở ngoài sân:

“Các vị đã quá khen rồi. Bất quá ta cũng chỉ là một Nhị giai thấp bé, một tháng chỉ nhìn mặt Hoàng thượng được vài lần, đâu thể nào so được với bà Hoàng hay Ân phi mới được phong? Chưa kể Cẩn tần Dư thị lại là cháu của đức Tiên Cung, nàng ta mà nghe được lời này của các vị chắc sẽ giận lắm.”

Hạ Huyền nghe vậy bất chợt dừng bước, liền nắm tay Tử Chi mà nép vào sau bụi cây gần đó, Miên Thanh cùng cung nữ của Hạ Huyền thấy vậy cũng đi theo chủ. Bốn người không nói gì, chỉ lắng tai mà nghe. Một người khác đang cất tiếng “Chiêu phi lệnh bà quá sức khiêm tốn rồi. Bà Hoàng là chính cung thì không nói, nhưng Ân phi kia ban đầu em cứ nghĩ là phải sắc sảo, vững vàng lắm cơ, nào ngờ chỉ là một người chết nhát, im lặng như thóc, dung mạo hôm nay lại tầm thường, không thể so được với lệnh bà. Cha của Ân phi cũng chỉ là Thượng thư bộ Học, dù làm quan mấy đời vua nhưng cũng là một chức tầm thường. Còn Cẩn tần bất quá cũng chỉ được cái miệng, chúng em đều biết lệnh bà tuy không phải là cháu của Lưỡng tôn cung, nhưng thân phận lại là con của Thượng thư Hoa Kiến Lục mà Hoàng thượng luôn trọng dụng, đến ngay cả người trong Hoàng tộc cũng phải nhường trước một bước, chính vì vậy mà một lòng hâm mộ lệnh bà, tuyệt đối trước sau người trong nhà có muốn thưa với Hoàng thượng chuyện gì thì cũng phải thủ thỉ với lệnh bà một tiếng, các chị bảo tôi nói có đúng hay không?”

Những người khác nghe hỏi vậy lập tức lên tiếng đồng ý để phụ họa, có người còn bồi thêm vài câu xu nịnh Chiêu phi, làm nàng ta phải vờ e thẹn “Thôi được rồi. Cứ đứng đây nói mãi thì bà Hoàng sẽ trách ta làm náo loạn cung Khôn Thái mất. Ta nghe nói cách đây vài ngày sen nở rộ ở Liên trì (ao sen) trong Thiệu Phương viên, nếu đứng nhìn từ điện Hoàng Phúc sẽ thấy rất đẹp. Bây giờ trời vẫn còn chưa tối hẳn, nếu các vị có hứng thì đi cùng ta dạo một vòng Thiệu Phương viên một lát rồi hẳn về.”

Một người khác ủng hộ “Chỉ sợ làm phiền đến Chiêu phi lệnh bà chứ nếu lệnh bà đã lên tiếng thì chúng em vui mừng còn không kịp nữa. Các chị, chúng ta mau mau đi thôi.”

Chờ khi tất cả đã đi hết, tiếng nói huyên náo cũng dần vọng lại từ xa thì Tử Chi cùng Hạ Huyền mới bước ra. Lòng trĩu nặng tâm tư, Tử Chi đứng yên lặng trong mấy khắc rồi mới nhìn Hạ Huyền, gượng cười một cái rồi nói “Người cũng đã đi rồi, chúng ta về thôi chị.”

Hạ Huyền không nói gì, chỉ im lặng gật đầu bước theo. Đợi khi hai người đi qua mấy hàng tùng kiểng trước cung Khôn Thái, Hạ Huyền mới lên tiếng “Chắc em cũng đã biết, Chiêu phi dù gì cũng là ân sủng của Hoàng thượng, quyền lực của nàng ta trong nội đình thực không đơn giản. Bọn người kia gió chiều nào theo chiều nấy, dù mới vừa ngày đầu gặp Chiêu phi nhưng cũng phải lên tiếng lấy lòng một chút cũng là chuyện thường, em đừng để bụng.”

Tử Chi thở dài, sau đó lại nói “Em nào không biết đó chỉ là những lời xu nịnh không đáng để tâm hả chị? Chỉ là, đột nhiên phải rước những lời khó nghe lọt vào tai, lòng có một chút không quen.”

Hạ Huyền lắc đầu, nói “Ta thì thấy miệng em bảo rằng không hề để tâm nhưng ta biết thực lòng em không làm được. Thử hỏi làm sao mà lại vờ như chưa từng nghe gì chứ? Nếu đổi lại là ta, có lẽ cũng sẽ giống như em bây giờ, không cam tâm khi phải chịu cảnh nghe người ta bàn luận, mỉa mai sau lưng về mình và người nhà như vậy.”

Tử Chi nhoẻn cười nhẹ “Cũng là chị nhìn thấu em rồi. Phải, đúng là lòng em không dễ chịu, cũng không dễ quên.” rồi cô dừng bước, nói tiếp “Nhưng có một điều em không hiểu, đó là những người kia dựa thế của Chiêu phi mà tán dương, nịnh bợ nàng ta thì chớ, đằng này bọn họ còn chỉ vì việc em không dám đáp trả lời của Cẩn tần ban nãy mà nói lời đụng chạm đến em và cha. Em chẳng lẽ cứ phải cố tỏ ra kiên cường, phải nói lời thóa mạ lẫn nhau trước bao người như Chiêu phi và Cẩn tần thì bản thân mới được yên ổn hay sao?”

Hạ Huyền khoác tay Tử Chi, nhẹ nhàng khuyên nhủ “Ta hiểu em cảm thấy không phục. Nhưng rõ ràng không phải em không thấy, ngay cả Cẩn tần cố sức tỏ ra mồm năm miệng mười như vậy, thân thế không phải hạng tầm thường như vậy mà bọn họ cũng có thèm nể nang đâu? Bởi vì người quyết định cô ta có được nể trọng hay không thì không phải là đức Tiên Cung hay là gia thế đằng sau của cô ta.”

Tử Chi ngơ ngác, hỏi “Vậy thì đó là ai, là cái gì thưa chị?”

Nhìn Hạ Huyền lúc này đứng dưới trắng khuya lại càng thêm thanh tú tao nhã, nàng ta mỉm cười mà nói từ tốn “Là Hoàng thượng. Người có quyền quyết định một phi tử có được người ta trọng vọng hay không đó chính là Hoàng thượng. Bọn người ban nãy dám phỉ báng em hay Cẩn tần mà không phải là Chiêu phi, đó là vì rốt cuộc bọn họ vẫn thấy đến thời điểm này, người duy nhất đang nhận được ân sủng không ngừng đó là nàng ta, nên bọn họ phải tranh thủ mà xu nịnh. Vì vậy nên cho dù em có thu mình, ít nói đến đâu thì nếu em không nhận được thánh ân thì cũng sẽ có những lúc uất ức như ban nãy thôi, không thể tránh được.”

Im lặng một lúc, Tử Chi mới lên tiếng “Vậy thì…chị bảo em phải làm sao đây? Tìm mọi cách lấy cho được sủng ái của Hoàng thượng mới là yên ổn hay sao?”

Hạ Huyền lắc nhẹ đầu, nói “Ta cũng không biết, vì ta cũng như em, chỉ vừa nhìn thấy tận mắt nội đình này trong ngày đầu tiên, đến Hoàng thượng ta còn chưa được gặp mặt nên cũng không biết chắc rằng việc nhận được sủng ái của ngài là cách duy nhất để bản thân được bình an hay không. Nhưng ta chỉ biết một điều, rằng nhận được thánh sủng là con đường mà ta hay em hay bất kỳ ai trong nội đình này đều phải một lần đi qua, vì chẳng phải chúng ta đều là những người bước vào trong cung với danh nghĩa là một người thê thiếp của Hoàng thượng hay sao? Nên chuyện lấy được ân sủng hay không theo ta không phải là một điều chúng ta có thể lựa chọn, mà đó là trách nhiệm, trách nhiệm của chúng ta với Hoàng tộc và trách nhiệm của chúng ta với gia đình.”

Tử Chi nghe vậy, suy nghĩ một lúc mới gật gù “Những điều chị nói quả thật đều đúng. Chỉ là…” rồi cô không nói nữa mà chợt mỉm cười, chuyển sang chuyện khác “Chị bảo rằng đây mới là ngày đầu tiên vào nội đình, vậy mà thoáng nghe qua cứ nghĩ chị hẳn là một người sống lâu năm trong cung lắm rồi vậy.”

Hạ Huyền nghe vậy mới hừm một tiếng “Em nói vậy ý bảo ta giống một bà cô già phải không? Đúng thật càng lúc càng xấu miệng, không thèm nể nang ai mà.”

Tử Chi che miệng cười khúc khích, nắm tay Hạ Huyền nói “Thôi, cho em xin lỗi đi vậy. Là chị lớn không nên chấp nhặt em út mới phải.” rồi chỉ về hướng trước mặt “Chị nhìn xem, đằng kia là điện Trinh Minh, là nơi ở của em, mấy ngày sau khi nào rảnh cứ đi đến đó mà trò chuyện cùng em.”

Hạ Huyền nhướn cao cổ lên nhìn rồi trầm trồ “Đúng thật là một nơi tốt, nhìn từ xa cũng đã thấy bên ngoài lộng lẫy hơn phần người khác.” rồi xoay sang Tử Chi “Còn em cũng vậy, lúc rảnh cứ sang Đoan Hòa viện của ta, hiện tại chỉ có một mình ta ở đó, suốt ngày nếu cứ quanh quẩn chắc sẽ buồn lắm.”

Nghe vậy Tử Chi liền gật đầu đồng ý. Cả hai đi một đoạn ngắn nữa thì chia nhau ra thành hai hướng để về. Vừa đi đến trước cửa điện thì thấy ở phía điện Cần Chánh còn sáng đèn, dù điện Trinh Minh nằm đằng sau nhưng từ đây vẫn nghe được loáng thoáng chút âm thanh náo nhiệt vang vọng đến, trong lòng cô đoán chắc hẳn là tiệc chiêu đãi các quan vẫn chưa kịp tàn. Cô cùng Miên Thanh bước vào trong, đóng cửa lại thì trong điện liền yên tĩnh, có chút tối tăm. Sau đó Miên Thanh hầu cô chải tóc, thay quần áo rồi mới hạ màn, tắt đèn để đi ngủ.

Đặt lưng lên tấm đệm sau một ngày quá dài, Tử Chi vẫn chưa kịp nghĩ ngơi nhiều về những lời Hạ Huyền nói bên nãy, về Hoàng đế, về Chiêu phi hay Cẩn tần hay những người khác, thì cơn buồn ngủ kéo đến, mọi thứ trong đầu giờ đây lại nhưng ngừng lại, đôi mắt cô dần khép lại rồi cô chìm vào giấc ngủ khi nào không hay.