Thỏa thuận sử dụng Liên hệ Thông tin bản quyền
(Bao gồm nhiều oneshot và short fic)

Thể loại: Truyện > Series Rating: K Hoàn thành: Không
Phân đoạn: 6 Độ dài: 21106 từ Đọc: 11737 lần Phản hồi: 9 Yêu thích: 10
Đăng: 28 Feb 2011 Cập nhật: 29 Oct 2017

Ngàn xưa không lạnh nữa Tần Phi (6) bởi ciapika
Cậu Anh lần lượt sắp xếp cái loại giấy tờ, khế ước vào một chiếc cặp táp nhỏ. Đoạn, cậu gần như thở phào rồi cười với tôi. “Rồi, giờ xưởng dệt và căn nhà này là của cháu.”

Cậu đứng xoay lưng về phía cửa sổ, tay chống lên cạnh bàn. Ánh nắng chiều chạy dọc một đường vàng rượm từ đỉnh đầu cho tới gót chân khiến cậu trông có một vẻ thư thái lạ thường. Cứ như thể thứ mà cậu cho tôi chỉ là một chiếc bánh chứ chẳng phải thành quả bao lâu nay cậu cố công gầy dựng.

“Từ ngày mai, sau buổi lên lớp thì chịu khó theo anh Nguyên mà học hỏi. Cũng chỉ còn có bốn tháng thôi

“Cậu, cháu nghĩ cậu nên suy xét lại. Quan toàn quyền vẫn còn ở đây kia mà.”

Cậu Anh không nhìn tôi mà đưa mắt trông về một khoảng không vô định nào đó. Được một lúc, cậu từ từ nói “Sẽ có đảo chính.”

“Thật vậy?” Tôi nhỏ giọng hỏi.

“Hiện tại, tuy là trào Pétain (1) thân Đức đang thịnh, nhưng cháu xem, mới năm kia (2), người Nhật chỉ mới được phép đóng quân ở phía Bắc sông Hồng, mà sang năm nay (3), lính Nhật đã ở khắp Đông Dương. Bây giờ không đi thì e sẽ muộn.”

“Vậy thì cậu cũng không nên giao xưởng lại cho cháu. Việc làm ăn vẫn là anh Nguyên tỏ tường hơn cả”

“Sao được” Cậu nhìn tôi rồi cười lém lỉnh “Nguyên phải theo cậu về Pháp”

Trong chốc lát, tôi sững người ra nhìn cậu. Chợt thấy gương mặt anh Nguyên lấp ló phía xa thoáng đỏ, tôi cười khẽ.

“Thế cuối cùng cậu cũng biết tấm chăn đắp trên người cậu là từ ai rồi”

“Cái thằng khỉ gió này” Cậu khẽ cốc lên đầu tôi, rồi bỗng như có suy nghĩ gì, cậu trở nên nghiêm túc “Hoài này, về chuyện du học của cháu, cũng chỉ sợ là…”

“Thôi cậu ạ, con người có phúc có phần”

Tôi đáp lời cậu, cũng không rõ trong lòng mình có dư vị gì. Mới Tết đây, tôi còn hăng hái tính chuyện tương lai, rằng tôi sẽ đi tới Ba Lê (4) để lấy cho được cái bằng Đốc-tờ, mà ngày hôm nay, cuộc đời tôi bỗng chốc cũng giống như ánh nắng chiều ở bên ngoài. Đã qua cái phút chói lọi huy hoàng, còn ở lại chỉ là bóng tối.

Tôi cúi đầu, lặng thinh nhìn những mảng nắng đang dần nhạt đi. Có ai đó đã bật đèn, hẳn là anh Nguyên. Thứ ánh sáng vàng nhờ nhạt trộn lẫn với ánh nắng trên nền gạch bông khiến mọi thứ trở lạc lõng.Bên ngoài cửa sổ, ráng chiều đỏ quạch ngự trị một vùng trời rồi cũng mau chóng bị nền xanh ảm đạm xua đi. Tôi nghĩ đến những con sông: con sông Hồng, con sông Thu Bồn, con sông Cửu Long hay bất kỳ con sông nào ở ngoài kia; chúng vẫn đang rì rào vỗ sóng. Rồi tôi nghe thấy những thứ âm thanh xô bồ rục rịch nhổm dậy. Đã đến giờ tan tầm. Xen lẫn tiếng cười, tiếng nói, tiếng tranh cãi, tiếng rao hàng tiếng gọi nhau í ới là tiếng xe ô tô, tiếng leng keng của tàu điện. Tôi bước ra ban công nhìn xuống phố. Một nhóm các cô thiếu nữ đi ngang qua, tà áo lụa của các cô lơ thơ bay trong gió như thể đang khiêu vũ.
Tà áo lụa đã vẽ ra một vệt ngăn cách thật dài. Tôi bỗng nhiên thấy mọi thứ đã trở nên xa lạ. Những con sông lấp lánh, những tiếng ồn ríu rít thơ ngây, dưới cái buổi chập choạng này, đã không còn dành cho tôi nữa.

“Cậu Hoài”

Tiếng gọi của anh Nguyên cắt ngang đi nỗi buồn mờ mịt của tôi.

“Có chút quà tôi muốn tặng cậu” Trong tay anh Nguyên là tập Thi Nhân Việt Nam (5)của anh
Hoài Thanh và anh Hoài Chân.

Tôi vội vàng đón lấy, giở ra. Bên trong còn có lời đề tặng và chữ ký của anh Hoài Thanh.

“Ôi, sao anh…”

“Cũng nhờ có chút quen biết” Anh mỉm cười

“Thật là cám ơn anh quá”

“Lần này sang Pháp, cũng không biết là tới khi nào mới có thể quay lại… Cậu thích là tôi mừng lắm”

Tôi miết miết quyển sách, chợt nhớ tới anh Hoài Thành. Chuyện vốn cũng là nghe được từ anh họ tôi, vốn là bạn đồng học với anh ở trường Bưởi. Anh họ tôi kể, năm 1930, khi đang học thì anh Hoài Thanh bị bắt, bị kết án treo và bị trục xuất khỏi Bắc Kỳ, giải về quê ở Nghệ An. “Cái anh Nguyên (6) ấy, nghe nói từ năm 1927 đã theo Tân Việt Cách Mạng Đảng rồi kia.” Sau đó nghe đâu anh vào Huế làm công cho một nhà in, đi dạy học nhưng mộng văn thơ, báo chí vẫn chưa nguôi bao giờ.

Tôi đọc lướt qua phần mục lục, thấy những cái tên quen thuộc: anh Xuân Diệu (6), anh Huy Cận (6), anh Nguyễn Nhược Pháp, anh Hàn Mặc Tử. Tôi thoáng có chút thương cảm khi nhớ tới hai anh Mặc Tử và Nhược Pháp. Thơ thì còn đây mà người nay đã sớm vùi thân nơi đất lạnh.

Tôi nhớ anh Pháp. Ông thân sinh của anh, bác Nguyễn Văn Vĩnh (6), là một người cao lớn, bệ vệ, nhưng anh lại là một người thấp bé, duy có cái miệng duyên, hay mủm mỉm cười. Anh ưa nói chuyện khôi hài với cái giọng mà theo anh Nguyễn Vỹ (6) là “rủ rỉ dịu dàng như cô gái bẽn lẽn trên đường đi chùa Hương.” Có buổi tôi được theo các anh ngồi ôn chuyện, mới biết thủa thiếu thời, anh Nhược Pháp hay bày lắm trò: có khi là tổ chức đội kịch gia đình, có bán vé hẳn hòi, có khi lại thành lập đội xiếc…

Anh bặt thiệp, sôi nổi, tươi tắn như nắng của một buổi xuân. Mà nắng của một buổi xuân, trong thời cuộc này, cũng chóng tắt.

Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ (7)

Tôi chạm vào dòng chữ cuối, cảm thấy sống mũi cay cay.

Rồi tôi lại nghĩ tới hai anh Xuân Diệu và Huy Cận.Tưởng như mới ngày hôm qua, tôi còn theo anh Hải, anh họ tôi đến thăm hai anh, thủa ấy còn sống cùng vợ chồng anh Lưu Trọng Lư ở số 40 phố Hàng Than. Anh Huy Cận lành như một chiếc lá, anh ít nói, lắng nghe nhiều. Anh Diệu thì tôi không biết lúc thường anh thế nào, nhưng khi bàn về thơ, anh sôi nổi, hào hứng lạ thường. Đôi lúc, anh lại như trẻ con, hồn nhiên khoe chuyện viết một bài thơ mới, hay đi uống nước mà không phải trả tiền. Rồi có khi anh đọc một bài thơ mới làm rồi nhoẻn miệng cười “Hay đấy chứ!” Những lúc ấy, anh Cận đều mỉm cười tán thàn anh. Trông khăng khít, ăn ý như răng với môi.

Đầu năm ngoái, tôi có tình cờ gặp anh Lưu Trọng Lư(6) ngoài phố. Khi ấy, anh đang xăm xăm đi rồi bỗng dưng đứng lại, ngơ ngẩn. Dường như anh không biết mình đang định đi đâu. Tôi lại gần chào anh, rồi hỏi thăm đôi chuyện, mới biết anh Diệu đã được bổ nhiệm làm Tham Tán Thương Chánh ở Mỹ Tho còn anh Cận….

“Nghe nói hắn (6) tham gia Việt Minh” Anh Lư nói điềm nhiên, rồi như chợt nhớ ra mình cần đi đến nơi nào, anh liền vội chào từ biệt tôi, rảo bước sang đường.

Năm kia, tôi cũng nghe được tin các anh Hoàng Đạo (6), Khái Hưng (6) và Nguyễn Gia Trí (6) đã bị bắt và đày lên Sơn La. Không rõ Đại Việt Dân Chính Đảng của anh Nhất Linh (6) rồi đây sẽ thế nào.

Trong thời buổi hỗn mang này, tôi thấy mình như lạc vào một trận sương mù, chẳng biết đi đâu là phải.

“Cậu Hoài này…”

“A…xin lỗi anh. Tôi mải nghĩ quá.”


“Cậu Hoài…cậu đừng làm cách mệnh” Anh Nguyên ngập ngừng, rồi anh tiếp như thể đã cẩn thận lựa chọn từng từ “Người làm cách mệnh sợ khó được chết già”

Nói đoạn, anh rời đi.

Tôi đứng dựa người vào lan cang, nhìn chằm chằm vào những sợi tóc đang khẽ chờn vờn theo cơn gió đầu thu. Dưới phố đã bắt đầu lên đèn.

“Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế” (8)

Cuộc đời nào có khác gì một quyển tiểu thuyết chương hồi.

Tôi nhìn gió đang nổi lên, giở tới bài Vạn Lý Tình của anh Huy Cận.

“Người ở bên trời ta ở đây;
Chờ mong phương nọ, ngóng phương nầy
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây.” (9)

Vạn lý sầu lên núi tiếp mây. Tôi khe khẽ nhẩm lại câu thơ, cảm thấy như thể trước mặt tôi kia là đồi núi chập chùng, là những cánh đồng trải dài xa tít tắp, là những con sông mênh mang không biết đến bến bờ, và tôi, hay anh Huy Cận, đều bơ vơ.
Chúng tôi gọi tên người yêu dấu, gọi mãi, gọi mãi. Chúng tôi khụy ngã, chúng tôi chết gục.
Cớ anh Nguyên cũng sẽ theo cậu Anh sang Pháp, một mình tôi sợ không cáng đáng nổi công việc, tôi đánh một bức điện về cho cậu mợ tôi xin cho Thanh lên ở cùng tôi để tiện đỡ đần. Ngày đón em ở ga, suốt cả buổi, tôi chẳng làm được gì nên thân. Sốt ruột quá, tôi bèn nhờ bác Báo đánh ô tô đưa tôi ra ga cho xong dù biết là hẵng còn cách giờ tàu đến tận một tiếng đồng hồ. Và khi nghe tiếng còi hụ báo tàu đã vào ga, trái tim tôi mới chịu thôi bực giọc. Dòng người túa ra như ong vỡ tổ. Họ gọi nhau í ơi, họ khóc, họ cười. Những chiếc xe kéo chen lấn nhau chào mời khách. Mùi đồ ăn vặt của gánh hàng rong, mùi người, mùi thuốc lá, mùi gió. Rồi tôi thấy em, em mặc bộ đồ nâu, ánh mắt hơi nhìn xuống, trông cô đơn, bé mọn và đột nhiên, tất cả đứng yên. Đôi con ngươi của chúng tôi tìm thấy nhau. Trong một khoảnh khắc, chỉ còn em và tôi ở đó.

Tôi đã mơ thấy em không biết bao nhiêu lần. Tôi thấy tôi theo em đi hái sen về ướp trà cho thầy. Tôi thấy tôi cùng em làm cốm. Em thoăn thoắt dùng đũa cả để tuốt lúa rồi em cho hạt thóc đã được tuốt vào nồi đất để rang. Rang xong lại cho vào cối giã. Tôi giận cối, em ngồi mõm cối đảo cốm. Hương cốm thanh sạch như mùi của em. Tôi thấy tôi chạm vào em. Tôi thấy tôi hôn lên bờ môi mỏng mảnh của em. Tôi thấy tôi ghì lấy em, siết chặt để em và tôi tan vào nhau làm một.

Và khi tỉnh dậy, trên bờ môi vẫn còn vương vít làn hơi.

Tôi nghĩ hẳn là mình sẽ không kiềm được mà chạy tới ôm em. Nhưng không, tôi run rẩy tiến lên, chầm chậm bước tới, se sẽ nắm lấy cổ tay Thanh.

“Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần Phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian”

Em để yên trong tay tôi rất đỗi ngoan hiền.

(Cont)

Ghi chú:

(1) Pétain tức Henri Philippe Benoni Omer Joseph Pétain (1856 - 1951), thường được biết đến với tên Philippe Pétain, là thống chế quân đội Pháp đồng thời là thủ tướng trong chính phủ Vichy từ năm 1940 đến năm 1944. Ông là anh hùng dân tộc của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng đến cuối đời lại bị kết tội phản quốc vì đã hợp tác với Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Do đó, những chiến công của ông trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã bị che lấp bởi sự "bán nước" của ông trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai.

(2) Tức năm 1940

(3) Tức năm 1942, thực ra vào năm 1941 Nhật đã đưa quân sang toàn bộ Đông Dương, thời điểm hiện tại của nhân vật là năm 1942, sau đó một năm.

(4) Ba Lê: là cách người Việt xưa gọi Paris.

(5) Thi Nhân Việt Nam là tên cuốn sách vừa là hợp tuyển vừa là nghiên cứu, phê bình về phong trào thơ mới Việt Nam, do hai anh em nhà văn Hoài Thanh và Hoài Chân biên soạn. Đây là một hợp tuyển thơ đầu tiên của thời kỳ thơ mới, ghi nhận lại những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ giá trị trong khoảng 1932-1941. Cuốn sách bình luận theo phương pháp chủ quan, được nhiều nhà văn đánh giá rất cao về giọng bình và trình độ cảm nhận của tác giả. Viết năm 1941, hoàn thành năm 1942, in lần đầu năm 1942 tại nhà in tư nhân Nguyễn Đức Phiên.

(6) Hoài Thanh (1909 - 1982) có tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên (ngoài ra ông còn sử dụng các bút danh khác như Văn Thiên, Le Nhà Quê), là một nhà phê bình văn học Việt Nam, đã có những đóng góp về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ 20. Tác phẩm Thi nhân Việt Nam do ông và em trai Hoài Chân viết đã đưa tác giả lên vị trí một nhà phê bình lớn của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Nguyễn Văn Vĩnh (chữ Hán: 阮文永; 1882 – 1936) là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Việt Nam, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ 20, ông là cha của nhà văn Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Vỹ (1912-1971) là nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Các bút hiệu khác của
ông là: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền.
Ông là tác giả hai bài thơ: "Gởi Trương Tửu" và "Sương rơi", từng gây tiếng vang trong nền thơ ca đương thời.

Xuân Diệu (2 tháng 2 năm 1916 – 18 tháng 12 năm 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942).
Sau khi theo Đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh, thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước.
Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học

Huy Cận (1919 – 2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận; là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới. Ông là bạn tâm giao của Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng khác của Việt Nam.

Lưu Trọng Lư (19 tháng 6 năm 1911 – 10 tháng 8 năm 1991), là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam.

Về việc Lưu Trọng Lư gọi Huy Cận là “hắn” không phải là có ý xấu, đây chỉ là do cách gọi của vùng miền. Lưu Trọng Lư vốn là người Quảng Bình.

Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam (1906 - 7 tháng 7 năm 1963) là một nhà văn, nhà báo và cũng là chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20.
Ông là người thành lập Tự Lực văn đoàn và là cây bút chính của nhóm, và từng là Chủ bút tờ tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay. Về sau, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng) và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Hoàng Đạo (1907-1948), tên thật: Nguyễn Tường Long, là một nhà văn Việt Nam, trong nhóm Tự Lực văn đoàn. Ngoài bút danh Hoàng Đạo, ông còn có những bút danh khác: Tứ Ly, Tường Minh.

Khái Hưng (1896 - 1947) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng. Ông là một trong ba cây bút chính của Tự Lực Văn Đoàn.

Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993) là một hoạ sĩ, nhà đồ hoạ, biếm hoạ Việt Nam. Ông cùng với Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn tạo thành bộ tứ họa sĩ nổi tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn).

(7) Trích trong phần giới thiệu về Nguyễn Nhược Pháp trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh

(8) Đôi câu đối này là của cụ Đặng Trần Thường và cụ Ngô Thì Nhậm

Đặng Trần Thường có tài văn học, lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Ngô Thì Nhậm thét bảo Thường:
Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.
Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi mang khăn gói vào Nam, phụng sự Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long), làm đến Binh Bộ Thượng thư.
Khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường.
Vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:
“Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”
Ngô Thì Nhậm khẳng khái đáp:
“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”
Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo thế" (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông. Nhậm về nhà thì chết.
Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Th%C3%AC_Nh%E1%BA%ADm

(9) Bài thơ Vạn Lý Tình nằm trong tập Lửa Thiêng, xuất bản năm 1940 của nhà thơ Huy Cận

Thành viên
Bút danh: 
Mật khẩu: 
Chọn lọc Xem hết »
[HP] It's all about Logic
Logic của Gryffindor hoạt động rất đơn giản. Mà Harry Potter thì lại là một Gryffindor. Nên logic của cậu cũng rất đơn giản. HPDM. Non-slash. Nonsense. Humor. Oneshot. Completed.
Trực tuyến
10 Khách, 0 Thành viên