Thỏa thuận sử dụng Liên hệ Thông tin bản quyền
Câu chuyện về một cô bé mồ côi và con quỷ hút máu.

Thể loại: Truyện Rating: T Hoàn thành: Không
Phân đoạn: 41 Độ dài: 434406 từ Đọc: 7167 lần Phản hồi: 3 Yêu thích: 1
Đăng: 25 Apr 2016 Cập nhật: 15 Oct 2017

Phần 22. Những đêm trước Giáng sinh 2 bởi iamDage
Âm thanh rin rít vang lên theo cái kéo cửa. Mùi ẩm mốc và hôi rình khiến Renato vội bịt mũi; hôi đến nỗi con mèo Fitz cũng phải chạy biến, chẳng thèm đuổi theo vờn đám gặm nhấm chuyên chạy toán loạn khi thấy có người. Mái đầu tóc đen bồng bềnh cúi xuống, trước mắt hắn là một cái xác bé nhỏ nằm co ro dưới sàn.

– Livie, Livie… – Renato gọi khẽ, tay nâng lấy đứa trẻ, ôm nó vào lòng. Ngón chân Olivia có một vết cắn rơm rớm máu, chắc là do mấy bạn chuột nhắt vừa mới gửi tặng. Chếch cao thêm chút nữa, phía đầu gối của con bé, là một vệt xước dài vẫn còn đỏ tươi.

– Mamo? – Olivia nheo mắt lại. Việc tiếp xúc đột ngột với ánh đèn thật khó chịu.

Renato mỉm cười, ngón tay miết nhẹ lên đôi môi bé yêu của hắn. Đôi môi nhợt nhạt ấy bắt đầu run lên, bé con rấm rứt khóc.

– Chán phải làm bạn với chuột chưa? Chỉ có Mamo là người yêu em nhất, phải không? Mamo không bao giờ chê em xấu, đúng không Livie?

Olivia khóc to hơn, cấu chặt lấy hai cánh tay hắn. Olivia đúng là một đứa con gái mất nết, yếu đuối đến hèn mạt!

Renato hôn lên cái đầu rối bù ấy. Hắn vuốt ve, hắn vỗ về, nhưng Bồ câu nhỏ chẳng chịu nín đi. Từng hơi thở nóng thoảng qua cánh tay đỡ lấy Olivia. Những rung động dịu êm truyền từ cổ họng bé tới vai hắn, cảm giác nhồn nhột.

– Mamo… – Olivia khóc tức tưởi.

Renato mỉm cười. Hắn chỉ cần nghe được những lời này thôi.

Cô bé mít ướt được Mamo bồng trong tay, bỏ lại sau lưng cái hầm gớm ghiếc ấy, hướng thẳng tới nhà tắm đã được “anh yêu” chuẩn bị sẵn nước nóng, cánh hoa, những động tác massage khiến cơ thể co quắp của bé con thả lỏng dần, và những lời thì thầm ngọt ngào dành cho đôi tai mới lờ mờ biết phân biệt đúng sai.

Đằng sau cánh cửa đóng kín, đứa trẻ ngả lưng xuống lớp đệm trắng êm ái, tay che lấy mắt. Xung quanh giường được phủ màn voan vàng nhạt, ánh đèn chiếu mờ mờ. Mamo muốn không gian phải lãng mạn và dễ chịu để bé yêu bớt căng thẳng, vậy mà Livie chẳng bình tĩnh thêm chút nào.

Một người hầu gái của ngài Innamorato đang dọn dẹp trên hành lang tầng hai. Cô có nghe thấy những âm thanh kỳ lạ phát ra từ phòng ngủ của ngài, nhưng cô tảng lờ. Việc của cô là dọn dẹp chứ không phải tò mò. Cô nên làm tốt nếu muốn được trả lương; và khi được trả lương rồi, cô sẽ tặng cho đứa con gái bé nhỏ của mình ở nhà một món quà.

Buổi tối muộn hôm ấy, Livie lại mặc lên mình bộ váy phớt hồng có viền ren phía dưới, chân đi tất trắng, xỏ giày đen đế vuông. Từ phía bên kia bàn, Mamo say đắm ngắm nhìn bé yêu. Biết bao nhiêu đồ ăn ngon được bày ra: nào là trứng cá muối, tôm hùm nhúng sốt bơ, gà tây nhồi; rồi tráng miệng có kem sô cô la và bánh ngọt kiểu hoàng gia — tất cả đều dành cho Olivia.
Olivia cũng đói lắm rồi, có muốn chống đối cũng chẳng đủ sức, bèn lấy thìa nếm thử một chút. Thức ăn vừa mới đi qua thực quản, cô bé đã nôn thốc. Bữa tối vẫn còn nóng hổi và thơm ngon, vậy mà đứa trẻ thấy sao thật khó nuốt.

Bé con tội nghiệp gục đầu xuống bàn, khóc nức nở. Những gì nó đã làm thật là kinh tởm! Nó nghĩ chỉ có tự tử mới giúp được mình, nhưng nó không muốn chết chút nào!

Nước mắt Olivia lại trào ra. May mắn làm sao nó đã trốn thoát thành công.
Sau một thời gian sống ở đây cùng Reginald, nó nhận ra là nó mến ngài ấy, và đời này kiếp này không bao giờ nó chấp nhận quay về với Renato bất kể hắn có mời gọi ngon ngọt tới mức nào. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nó vẫn tự: hỏi liệu tình cảm của nó có phải là một sự ngộ nhận, như nó từng ngộ nhận rằng mình đã muốn ở bên “Mamo”?

* * *

Sau khi bắt gặp Allan trong tình trạng không-còn-một-giọt-máu theo đúng nghĩa đen, Reginald đem cậu ta vào trong rồi trở ra, lần theo dấu vết của cặp đôi đã tấn công Seth. Với bộ dạng vừa đi vừa lết như vậy, chúng chắc chắn không thể bỏ chạy được xa. Đúng như dự đoán, Reginald đứng lại khi nhìn thấy phía trước là hai xác người co quắp trên nền bê tông. Có lẽ Stacey và bạn trai của ả chạy được hơn hai trăm thước (khoảng 200m) trước khi cơ thể chúng hấp thu hoàn toàn chất độc và bỏ mạng. Đây là nơi đồng không mông quạnh, khả năng bị phát hiện không cao. Anh quyết định tạm thời giấu nốt chúng trong nhà máy đường, như đã làm với Allan.

Gã ma cà rồng kéo chỗ xác vào sâu trong khu đóng gói. May mắn sao, vẫn còn dây buộc hàng ở đó. Anh trói chúng lại, ném vào cái xó tường đầy mạng nhện và bụi của nhà kho rồi khép chặt tấm cửa sắt. Trước khi rời hẳn, anh ghé qua chỗ băng truyền để chắc chắn rằng Allan vẫn ổn.

* * *

Reginald đi xuống phía đông thị trấn, cố gắng tìm một bóng dáng hơi thấp ôm túi đựng chồng báo, đầu đội mũ beret. Còn khá lâu nữa mới tới giờ ăn trưa, Seth chắc chắn chỉ đi bán dạo quanh đây. Ở phía bên kia đường có cậu bé đang đưa báo cho một người đàn ông và trả lại vài xu thừa. Chờ người kia đi hẳn, Reginald vẫy tay ra hiệu, rảo bước về phía cậu.

– Chào nhóc.

– Chào ngài. – Seth ái ngại, không dám gọi Reginald bằng tên. – Ngài làm gì ở đây vậy?

– Ta cần nói chuyện với ngươi một chút. Ngươi muốn dùng bữa trưa cùng ta chứ?

– Thưa ngài, tôi rất muốn. Nhưng, tôi chưa bán xong…

– Một ngày bán báo của ngươi được bao nhiêu? Hai trăm bảng…?

Biết thằng bé sẽ từ chối, Reginald mở ngay ví lấy ra hai tờ một trăm bảng Anh đưa cho Seth.

– Thưa ngài, hai trăm là…

– Không đủ? Vậy, bốn trăm thì sao? Ta sẽ mua hết chỗ báo này. Chúng ta có thể nói chuyện riêng được chứ?

– Thưa ngài, ý tôi là, số tiền hai trăm bảng ngài đưa quá thừa rồi. – Seth bối rối. Chưa bao giờ trong đời cậu dám cầm nhiều tiền đến thế từ một người mình chẳng quen biết là bao.

– Đằng nào ta cũng đưa cho ngươi rồi, cầm lấy đi. Cứ coi như ta bù cho ngươi cả những lần không bán được, được chứ?

Seth gật đầu, lén cuộn chỗ tiền lại vào trong túi. Cậu đưa cho Reginald một tờ báo, vội vã bước theo sau ông ta. Nhóc bán báo không hẳn có ý định từ chối lời đề nghị của ngài “Bá tước”; chỉ là cảm thấy hơi lúng túng vì không ngờ cơ hội tiếp cận ông ta lại đến nhanh và dễ dàng quá mức, làm cậu không kịp chuẩn bị gì.

Reginald đưa Seth tới nhà hàng của thị trấn. Anh mở cửa và đứng sang bên trái, nhường cho Seth vào trước để bày tỏ thiện chí. Họ chọn một chiếc bàn nhỏ cho hai người ở góc khuất sau bình hoa hồng cỡ nhỡ.

– Xin chào quý ngài và cậu. Hai người muốn dùng gì ạ? – Người phục vụ tới bàn họ.

Seth chúi mũi vào cuốn thực đơn. Số tiền từ Reginald đủ khiến cậu thấy áy náy không yên; giờ lại tới những thứ đồ ăn, đồ uống này.

– Seth, làm ơn thoải mái lựa chọn. Hay ngươi để ta chọn?

– Vâng. – Seth gật đầu.

– Cậu ấy sẽ dùng bít tết, còn ta, Absinthe.

– Cảm ơn ngài. Đồ sẽ được đem ra nhanh thôi. – Người phục vụ nói với Reginald, sau đó rời đi.

“Absinthe?” – Seth nghĩ thầm. Cậu mở lời:

– Thưa ngài, ngài muốn nói với tôi chuyện gì?

– À, phải rồi… – Reginald hơi nhấc cặp lông mày lên. Có rất nhiều thứ anh muốn nói với Seth, nhưng có quá ít thời gian để anh có thể nói và thuyết phục thằng bé hiểu được cho mình. – Tên ngươi là gì?

– Seth Coffin.

– Chờ một lát nữa người phục vụ đem đồ tới nhé, có lẽ lúc đó ta sẽ nghĩ ra được chuyện gì đáng bàn.

Kết thúc lời của Reginald là nụ cười nửa vời trên khóe môi anh. Seth không rõ người đàn ông đó nói sự thật hay đang muốn đùa cợt.

Chờ cho đồ được đem tới, Reginald cảm ơn nhân viên và trả chút tiền boa. Trong lúc chờ Seth thưởng thức xong miếng đầu tiên, anh nhấp chút rượu rồi mới lên tiếng:

– Ngon chứ?

– Vị của nó cũng được, nhưng không bằng mẹ tôi làm. – Seth thành thật trả lời.

– Ngươi thích bít tết?

– Khá thích ạ.

– Ta cũng đoán vậy. Lâu rồi ngươi không được ăn nó?

– Vâng…

– Kể từ khi cha ngươi bị bệnh?

– Vâng. – Seth gật đầu. – Trước đó gia đình tôi thường ăn bít tết vào mỗi thứ tư và Chủ nhật hàng tuần, vui lắm.

Ánh mắt của Reginald hơi trùng xuống, anh hiểu tại sao đứa trẻ ấy lại tiếc nuối quá khứ của nó. Nhà Coffin có vẻ là một gia đình hạnh phúc và giản dị.

– Trước đây ông Coffin làm nghề gì vậy? Ngươi có thể nói cho ta biết?

– Bố tôi là cai ngục.

– Chuyện gì đã xảy ra? – Reginald hỏi, hơi ngập ngừng.

Gương mặt của Seth chợt trở nên chán chường đến mức u ám. Khẽ thở dài, Seth bặm cặp môi đỏ mọng lại rồi cúi gằm xuống, lí nhí:

– Nếu ngài thật sự muốn biết…

* * *

Olivia gằn giọng đầy bực bội, gục mặt xuống quyển sách vẫn còn đang mở trên bàn. Bài tập Hình học này thật là khó, vậy mà nó chẳng biết phải giải thế nào. Đã gần tới bữa trưa mà Reginald vẫn chưa thấy trở về. Giá như ngài ấy ở đây thì tốt, con bé đã có thể hỏi; nhưng vì anh ta không có, chẳng ai quản lí hay giúp nổi đứa trẻ vốn ham chơi này. Việc học đã khó khăn lại còn nhàm chán, Olivia thì chẳng còn chút động lực nào.

Đứa nhóc lúc nào cũng cảm thấy buồn ngủ, không rõ nên đổ cho thời tiết u ám, do chỗ bài vở quá chán, hay do mất ngủ. Cũng có lý. Rất nhiều đêm Olivia đâu có ngủ được. Có thể vì những lần giật mình tỉnh dậy, thấy người ướt vã mồ hôi; có thể vì những cơn ác mộng triền miên khiến nó phải ghì chặt mặt mình xuống gối, mong từng tiếng khóc và tiếng thở hổn hển đừng bị Reginald nghe thấy. Gần đây, Olivia không còn mơ về Renato nữa; mà là đôi bàn tay của những “người mới” trực chờ tóm lấy mình, cùng hàng đống xác trẻ sơ sinh dập nát bò ngổn ngang. Cô bé chẳng biết làm gì ngoài chạy, chạy tới khi kẹt lại trước lối cụt. Đứa trẻ gào khản cả cổ để tìm Reginald nhưng vẫn chẳng thấy anh đâu.

Những giấc mơ đó đều mập mờ và đơn sắc, nhưng chúng khiến Olivia phát hoảng đến thót tim, ám ảnh cô bé tới cả sáng hôm sau và những hôm sau nữa.

Cặp mắt Olivia mỗi lúc một mỏi hơn. Cánh tay con bé buông thõng, chiếc bút máy trượt khỏi năm đầu ngón, rơi “độp” xuống sàn.

* * *

Cảnh sát trưởng nhấc bàn tay trái khỏi chiếc trán hơi nóng của con gái. Được ở bên Gina là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nho nhỏ mà Joseph mong muốn mình có thể nắm giữ mãi, nhưng ông không thể. Jules và gã cầm thanh kiếm kỵ binh như hai chiếc gông nặng trịch ghì cảnh sát trưởng chặt xuống mặt đất, nhắc nhở ông rằng: thứ tình cảm yêu đương chỉ khiến ông thêm mơ mộng và xao nhãng, điều tối cần thiết lúc này chỉ có gia đình và công việc mà thôi.

Gió đập rung cả khung cửa sổ, theo sau là vòng lặp lộp độp nặng nề của những hạt mưa. Chúng thu hút sự chú ý của Joseph. Nhìn về phía bầu trời mang ánh xanh lơ pha xám thẫm của buổi chiều tà, ông cài cửa lại, không quên rót cho Jules một cốc nước trước khi rời khỏi phòng con.

Joseph bước xuống tầng trệt, ra ngồi trước hiên. Những giọt nước bắn lên khóm hoa cẩm chướng lùn mỗi lúc lại thêm gấp gáp. Cảnh sát trưởng châm điếu thuốc, nhìn những vũng nước tràn khắp bãi cỏ trong vườn. Cơn mưa mùa đông luôn làm ông cảm thấy lạnh lẽo và vấn vương buồn, khác hẳn với sự tình tứ lâng lâng mà cơn mưa mùa thu đem tới. Lúc nào cũng là cái cảm giác nôn nao nỗi hoài niệm. Vào một buổi chiều thu ba năm trước, trời cũng mưa nặng hạt như thế này…

“Thôi nào!” – Joseph tự đánh vào đầu mình.

Cảnh sát trưởng lại nghĩ tới thanh kiếm đó. Một kẻ chỉ ngụy trang khéo léo vũ khí của mình khi đã có ý đồ ám sát và muốn che giấu tội ác. Có vô lý không nếu người hắn ta sau khi ra tay xong lại không thu dọn kỹ càng hiện trường?

Cầm điếu thuốc đã cháy tới quá nửa, cảnh sát trưởng thầm cảm ơn ngày rằm tháng tám (âm lịch) đã trở thành mốc thời gian hoàn hảo đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của người hàng xóm kỳ lạ. Reginald tới Forest Hill vào khoảng giữa tháng Chín; cách đó không lâu, Croydon xuất hiện lác đác vài vụ giết người ở khu đèn đỏ và Allan vẫn còn trong thị trấn này. Thi thể John-Michael được phát hiện vào một tháng sau đó, nhờ có Seth.

“John-Michael, nhờ sự hi sinh của ngươi giờ ta đã biết lũ ma cà rồng không đoàn kết như ta vẫn nghĩ.” – Joseph hút một hơi dài.

Nhưng, đâu phải Croydon là điểm xuất phát duy nhất của Reginald. Hắn ta có thể tới từ bất cứ đâu. Hiện tại cảnh sát trưởng không có nhiều dữ kiện xác đáng, mọi suy nghĩ của ông chỉ có giá trị ngang với những phỏng đoán mơ hồ và thiếu cơ sở. Dù nóng lòng đến mấy, Joseph chẳng thể mời hai kẻ tình nghi về đồn, hỏi họ và tìm điểm mâu thuẫn trong lời khai của họ cho tới khi có bằng chứng chỉ ra rằng một trong hai người dính dáng chút gì đó tới vụ án. Suy nghĩ theo chiều hướng bi quan hơn nữa: sẽ thật nhục nhã nếu giả thuyết của Joseph sai một li đi một dặm, khiến ông bị mang danh kẻ vu khống.

* * *

– Tôi biết bố tôi không còn trẻ nữa, nhưng… – Seth nói tới đó thì dừng lại, chớp đôi mắt hơi đỏ. Cậu sợ rằng tiếng nói the thé đầy xúc động do vỡ giọng chưa hết của mình nghe sẽ không được “mạnh mẽ” cho lắm.

– Seth, ta biết điều ngươi định nói với ta là gì, nhưng ta rất xin lỗi, ta không thể thực hiện được.

– Thưa ngài, tôi mong ngài hãy hiểu cho tôi. Bố đã rất vất vả vì gia đình tôi, tôi không muốn phải nhìn ông đau đớn mỗi ngày!

Reginald nhìn nhanh ra xung quanh. Anh cúi đầu lại gần Seth, nói nhỏ:

– Nhóc, ta hiểu nỗi đau của ngươi, nhưng, có những thứ vốn đã xảy ra rồi và ngươi chẳng thể nào thay đổi được nó cả.

– Ông ấy không xứng đáng phải chết… – Seth nói lầm rầm. – Cha tôi không có lỗi.

– Ta rất tiếc.

– Hy vọng ngươi chết cháy trên giàn thiêu, đồ hút máu người!

Nhận ra mình đã sai lầm đến nhường nào khi cho rằng có thể cầu xin sự khoan dung từ một kẻ nhẫn tâm giết người, Seth kết thúc mọi sự nhún nhường bằng lời chửi rủa đầy thù hận. Cậu đứng bật dậy, nhanh chóng rời đi, để mặc Reginald ngồi ẩn mình sau chiếc bình hoa.

* * *

Olivia ngồi co ro, gục mặt lên đầu gối mà khóc nức nở bên cái xác lạnh ngắt tanh tưởi mùi máu. Từng giọt mưa rào tới tấp bắn lên khung cửa sổ căn gác cầu thang. Chốc chốc lại có vài tia chớp xanh lóe lên, chiếu sáng chiếc cổ áo trắng loang lổ những vệt đỏ thẫm. Có một đôi chân khổng lồ đứng lặng trước mặt đứa trẻ bất lực.

– Reginald… – Olivia nói thầm.

“Nhóc, dậy đi.”

Olivia giật mình bởi tiếng ngón tay Reginald gõ nhịp lên mặt bàn.

– Reginald, ngài đi đâu về vậy?

– Giải quyết một số chuyện thôi. – Reginald đáp cụt lủn.

– Vậy à… Tôi vừa mơ về ngài đấy.

– Mệt hả? – Reginald nói lảng. Tất nhiên anh biết Olivia vừa mơ về mình, con bé chỉ vừa mới gọi tên anh trong cơn mê.

– Uh huh. – Olivia gật đầu.

– Vậy thì ăn chút gì đó rồi nghỉ đi.

Vừa định bước qua cửa, Reginald chợt nhớ ra và quay đầu lại nói với Olivia:

– Ta mượn dao găm của ngươi một lúc được không?

– Chờ một chút…

Reginald nhìn Olivia nói trong lúc nó cúi người, rút dao ra từ tay áo. Vậy là, đứa trẻ ấy dù đang ở bên cạnh anh vẫn không hề cảm thấy an toàn.

– Mà, tại sao ngài lại hỏi nó vậy? – Olivia đưa dao cho Reginald, không quên thắc mắc.

– Ngươi đâu cần phải biết.

Gương mặt Olivia hơi cúi xuống, cố giấu đi cảm giác hụt hẫng vì bị phớt lờ. Nhận ra mình lại lỡ lời, Reginald chữa lời:

– Nó hơi cùn nên ta mang đi mài thôi. Đấu sĩ La Mã bé nhỏ không thể chiến đấu bằng một con dao cùn, phải không?1

– Phải rồi… – Olivia bẽn lẽn cười, cho rằng mình lại kịch tính hóa vấn đề lên. – Vậy, ngài đi luôn bây giờ?

– Ừ, ta đi luôn.

1 Reginald trêu Olivia. “Đấu sĩ La Mã” được ám chỉ ở đây là Retiarius-Net fighter, người có một con dao găm (pugio) được giấu sát trong tay.

* * *

Cảnh sát trưởng hơi nghiêng người vào trong cửa, với lên cây treo đồ. Khoác áo lên người, Joseph băng qua cơn mưa to để tới đồn cảnh sát. Trong lúc đi qua lối rẽ vào quảng trường, ông nhìn thấy Seth, đầu trần, chạy vụt qua. Chắc nó về nhà sớm, giờ này làm gì còn ai ở ngoài đường để mua báo. Thằng bé vội đến mức chạy mà chẳng để ý thấy sự hiện diện của chú Joe và chào hỏi ông như mọi khi.

* * *

Đứng trước cửa chính của dinh thự nhà Goldman, Reginald thu gọn chiếc ô và vẩy nó đi cho bớt nước, chỉnh lại bộ áo khoác của mình. Sau ba cái gõ, anh nghe thấy có tiếng bước chân ai đó chạy ra mở cửa.

– Bác Reg! – Robert Jr mừng rỡ.

– Chào Robert. – Reginald mỉm cười. – Bác vào được chứ?

– Tất nhiên rồi. Bác vào đi cho khỏi ướt.

Reginald cùng Robert Jr vào trong nhà. Như thói quen, hành động đầu tiên của anh là ôm chầm lấy Robert khi nhìn thấy ông. Dù có là một người ít bộc lộ cảm xúc, anh vẫn không thể giấu được nụ cười mừng rỡ trước người bạn già thân thiết như anh em ruột của mình.

– Cậu đến rồi. – Robert nói, vẫn chất giọng đục và run rẩy của người già ốm bệnh lâu ngày.

– Tớ đây.

Reginald ngồi vắt tréo chân, đối diện với Robert và con trai ông ấy. Robert nhìn vào ánh mắt bối rối và khóe miệng chếch xuống vì ngại ngùng của bạn, bất đắc dĩ lên tiếng:

– Thôi nào Reg, có chuyện gì nào? Trông cậu cứ như đứa con bị cha mình bắt quả tang làm gì đó nghịch ngợm vậy.

– Gần như thế đấy.

– Vậy cậu tới đây là vì chuyện của Bá tước?

– Và vì cậu nữa, Robert. Tớ gặp một thằng nhóc này, nó bị ma cà rồng cắn. Điều kỳ lạ là, sau khi cắn xong, kẻ phải bỏ mạng là hai tên kia.

Cặp mi mắt trùng xuống theo tuổi tác của Robert chợt nhấc lên. Kể từ sự nổi lên và thống trị của nền hóa học hiện đại vào thế kỉ mười bảy, ngành giả kim tưởng như đã rơi vào quên lãng. Và giờ, Reginald đang ngồi đây, nói rằng có một cậu bé sở hữu “bàn tay vàng” như Robert đã từng?

– Cậu chứng kiến tận mắt điều ấy? – Robert hỏi, không khỏi bàng hoàng. – Cậu có chắc thứ cậu thấy là đúng? Không nhiều người…

– Tớ nhìn thấy tận mắt mà, Robert! – Reginald chau mày. – Lúc ấy phản ứng của tớ không khác gì cậu bây giờ đâu. Tớ chưa từng thấy thằng bé biến thứ nó chạm thành vàng, nhưng chỉ có máu của nhà giả kim mới độc hại với loài ma cà rồng đến vậy.

* * *

Hôm ấy, vào một trời chiều thu đầy những cụm mây xám nặng nề, từng cơn gió mùa xào xạc thổi như thì thầm qua những tán cây sồi. Gió cuộn ào tới làm nghiêng cả những cành lớn, cuốn lớp lá khô và bụi đường bay mù mịt. Joseph đặt vài đồng tiền lẻ lên chiếc bàn quầy tạp hóa rồi nhận lấy bao thuốc lá. Từng giọt một tí tách rơi, những hạt nước nhanh chóng rải đều ra khắp nơi. Cảnh sát trưởng khẽ chửi thề vì bị mắc kẹt dưới mái hiên quầy, chẳng biết làm gì lúc này ngoài lấy một điếu thuốc ra hút, hy vọng cơn mưa sẽ qua đi thật nhanh.

Vừa rời tay vẩy tàn thuốc, Joseph chợt nhìn thấy phía bên kia mặt đường ướt át lấp ló một đôi giày cao gót đen dưới lớp váy đen đang tiến về phía mình. Ông ngước lên, liếc theo đôi chân của quý cô.
Ánh mắt cô gái cũng lướt qua cảnh sát trưởng rất nhanh khi cô bước tới quầy. Joseph chỉ ngắm cô được từ phía sau, ngắm nét người mảnh khảnh của cô. Cô cầm ô đen, khoác bên ngoài chiếc áo kép cứng với cổ cồn dựng cao. Cô ấy vừa mới trở về từ một đám tang? Sao cô trông nghiêm trang và đượm buồn vậy?

Cô ấy hơi giơ ngón trỏ lên, hình như muốn nói gì đó, rồi nhẹ nhàng lấy ra từ túi áo một mẩu giấy đưa cho người bán hàng. Nhận lọ mật ong và túi trà, cô trả tiền, mỉm cười thay cho cảm ơn.

– Chúc cô mau khỏe. – Joseph lên tiếng và nhìn vào cô gái khi cô đi qua. Một nước da trắng đến xanh xao.

– … – Khóe miệng cô ấy hơi chếch lên. Cô nghiêng đầu về phía Joseph và tự trỏ vào mình, ngỏ ý hỏi có phải ông định nói với cô?

– Xin lỗi, tôi không có ý tọc mạch gì đâu. Chỉ là tôi thấy cô mua trà và mật ong nên mong cô sớm hết đau họng. – Joseph mỉm cười ngại ngùng. Vào thời điểm mưa nắng thất thường như lúc này, cũng đâu quá khó hiểu nếu cô gái gầy gò với sức khỏe kém bị viêm họng nặng đến mức mất tiếng.

Nét mặt của cô từ ngạc nhiên chợt chuyển sang hơi buồn. Cô mấp máy môi chậm rãi, rồi giơ tay làm vài ký hiệu. Cảnh sát trưởng chợt nhận ra ông đúng là một kẻ ngu ngốc thiếu nhạy cảm: Người phụ nữ trẻ này bị khuyết tật!

– Tôi rất xin lỗi vì đã không nhận ra. – Joseph lúng túng.

Cặp mày đậm của cô thả lỏng. Cô gái cất chỗ hương liệu vào trong túi, lấy ra cuốn sổ nhỏ và viết lên đó, đưa cho cảnh sát trưởng đọc:

‘Không sao đâu, cảm ơn anh vì đã quan tâm tới tôi.’

Joseph gãi đầu. Ông nhìn ra vỉa hè, thấy mưa vẫn còn khá to.

– Quên mất, xin tự giới thiệu, tôi là Joseph Phan — cảnh sát trưởng. Và cô là?

‘Mọi người gọi tôi là Gina. Anh định đi đâu à?’

– Tôi không rõ… – Joseph bối rối. Đôi mắt xám như sắc trời mây u ám và nụ cười nhẹ ấy của Gina khiến ông gần như mê mẩn đến mức đãng trí.

‘Lúc nãy anh có vẻ không vui vì trời mưa. Tôi đoán là anh vội.’

– À! – Joseph thốt lên và bật cười.

Gina ngập ngừng trong vài giây, nhưng cuối cùng vẫn tiến về phía cảnh sát trưởng, hơi nghiêng chiếc ô ra như một lời đề nghị.

‘Vậy anh định đi đâu? Nếu cần tôi có thể cho anh mượn chiếc ô này.’

– Tôi định về đồn thôi, cô không cần phải…

Lúc ấy, Joseph chỉ từ chối cho có, bởi ông đã thật sự muốn được đi cùng cô. Cảnh sát trưởng biết suy nghĩ của mình thật tầm thường và giả tạo, nhưng ông đâu thể cư xử vồn vã. Ba mươi tám tuổi, góa vợ đã được bảy năm — phải chăng vì quá cô đơn mà Joseph lại dễ dãi và tuyệt vọng đến mức trúng ngay thứ được gọi là “tiếng sét ái tình” này?

‘Vậy hả. Thôi thì, tạm biệt cảnh sát trưởng.’

– Tạm biệt, Gina.

Joseph đứng lặng trong quầy tạp hóa, nhìn theo dáng cô gái đi xa dần tới khi khuất hẳn. Ông hơi cúi đầu, cảm thấy xấu hổ và bẽ bàng hơn bao giờ hết.

“Mày đúng là đồ đần!”

* * *

– Chào con trai, buồn ngủ hả? – Joseph hơi lớn giọng trong lúc cởi áo mưa treo lên mắc, cốt để Brook tỉnh ngay khỏi trạng thái vờ vật gật gù.

– Trời mưa to như này, được nằm trên giường đắp chăn ôm người yêu có phải tuyệt không. – Brook mỉm cười ngượng ngùng, vội lấy tay lau vệt nước ở khóe miệng. Dù sao thì cảnh sát trưởng cũng đã nhìn thấy rồi.

– Tôi cần cậu đi làm một việc này.

– Việc gì vậy? Có nhất thiết phải làm ngay bây giờ không? – Brook ngập ngừng hỏi, nhìn chếch về phía ô cửa sổ bị nước mưa hắt nhòa.

– Tất nhiên là chờ tới khi trời tạnh rồi, ngốc ạ. Cậu có quen biết với hiệu trưởng trường học ở thị trấn, phải không?

– Vâng, đó là bà cô bên mẹ tôi. Joe, ông có việc gì?

– Nói ra thì không tiện cho lắm, nhưng…

Cảnh sát trưởng cúi đầu lại gần Brook, nói thầm vào tai cậu ta. Thỉnh thoảng, cậu cảnh sát trẻ lại cau mày trước những yêu cầu của cấp trên.

– … hiểu chứ? Và sau đó, làm ơn gửi fax cho người ở Croydon.

– Tôi đã rõ. – Brook gật đầu.

– Tốt.

Joseph vỗ nhẹ lên vai Brook. Ông nhấc ống điện thoại và quay số.

“Xin chào? Cảnh sát Croydon xin nghe.” – Tiếng nói từ đầu bên kia phát ra.

– Chào, là tôi — Phan — cảnh sát trưởng của Forest Hill đây. Nghe này, tôi cần anh xem lại hồ sơ của tất cả những vụ việc có liên quan tới vết thương trên cổ, nhất là những vụ xảy ra trong khoảng tháng Tám đến Mười. Anh làm được, phải không?

“Được chứ, mới gần đây thôi mà…”

– Tuyệt, tuyệt. Có những khu vực nào đặc biệt John-Michael Arlington hay lui tới không?

“Để tôi xem…”

Joseph có thể nghe thấy rõ tiếng lật giấy sột soạt trong điện thoại. Hẳn là người ở Croydon đang rà soát.

“Đây rồi. Những bữa tiệc nhà kho và phố đèn đỏ ở phía Nam Croydon là nơi hay xảy ra án mạng nhất. Nhiều người nói rằng họ đã nhìn thấy gã John-Michael này lai vãng ở đó cùng một hai tên đồng bọn. Hành tung của chúng thật ra cũng không rõ ràng cho lắm, nay đây mai đó. Nhưng hầu như tụ điểm nào cũng có hắn tới góp vui.”

Nghe tới đây, Joseph vô cùng ngạc nhiên.

– John-Michael có đồng bọn? Gã không “đánh lẻ” à?

“Không. Mà này, anh không định nói rằng John-Michael là kẻ giết người đấy chứ? Đúng là những nơi đó có nhiều án mạng, nhưng cách thức thực hiện không giống nhau đâu. Đó là lý do chúng tôi không thể kết luận rằng John-Michael là hung thủ.”

– Cách thức thực hiện? Ý anh là sao? Còn nhiều kẻ cắn xé khác nữa? – Joseph hơi cúi đầu xuống, cảm thấy nhiễu loạn trước mớ thông tin.

“Ý tôi là, có những vết thương là do bị cắn, cũng có thể do bị chém.”

– Tại sao lại không nghĩ ra… – Joseph thất thần nói với chính mình. Từ trước tới nay, ông vẫn luôn ngầm định rằng tất cả những vết thương ấy đều là vết cắn. Ông đã nhầm.

“Sao vậy?”

– Không có gì, không có gì. Nghe này, tôi biết việc này không được đúng cho lắm, nhưng anh làm ơn fax cho tôi tất cả chỗ tài liệu đó, được không? Tôi không muốn làm phiền các anh quá nhiều, anh biết đấy. Trao đổi qua điện thoại thế này cũng đâu có tiện, chẳng thà tôi tự làm lấy. Có gì tôi sẽ gọi lại sau, anh thấy sao?

“Được thôi. Còn gì nữa không?”

– Cảm ơn rất nhiều, vậy là đủ rồi. Tạm biệt.

“Tạm biệt.”

Joseph gác máy. Ông liếc nhìn sang Brook, mỉm cười nhẹ nhõm. Nụ cười của ông khiến Brook không khỏi lấy làm nghi ngờ.

“Vết chém hả?” – Cảnh sát trưởng thầm nghĩ. – “Này Kỵ binh (Horseman, cũng ám chỉ thanh kiếm), mọi chuyện ngày càng thú vị rồi đấy.”

* * *

– Nếu đúng như những gì cậu nói, Reg, bằng mọi giá, chúng ta phải thuyết phục được cậu bé.

– Đừng lo, cậu gặp may đấy. Cha của nhóc đó sắp chết rồi. Đó sẽ là một cú huých rất lớn, đủ để thay đổi nó mãi mãi.

Khuôn mặt đăm chiêu của người bạn già chợt tối sầm lại. Đây đúng là cơ hội hiếm có giúp gây dựng và duy trì nghệ thuật giả kim đã bị mai một quá nhiều, nhưng ông không muốn lấy cái chết của người cha nào đó ra làm thứ lôi kéo đứa con ông ta. Lời nói của Reginald làm ông hơi khó chịu. Robert mím môi lại, giọng ông run run:

– Sao cậu lại nói thế?

– Sao? “Nói như thế” là sao? Tớ không rõ ý cậu.

– Cách cậu nói ấy, cứ như là cha cậu đang nói với tớ vậy. – Robert liếc nhìn đôi mắt Reginald, bạn ông có vẻ đang xao động.

– Cha tớ? Cha tớ nói gì? Ông ta đâu nói chuyện với cậu mấy? – Giọng Reginald đẩy lên một chút vì mất kiên nhẫn. Anh chưa bao giờ thấy Arthur và Robert nói với nhau quá lâu, hoặc nói với nhau điều gì ngoài những lời hỏi thăm xã giao.

Robert nuốt khan, mười ngón tay gầy guộc của ông co lại. Dù biết bạn bè không nên giấu giếm nhau điều gì, nhưng có những bí mật nên mãi mãi là bí mật thì hơn. Như vậy là đi ngược lại với quy tắc của ông, nhưng sẽ giúp bạn ông tránh được nhiều đau đớn.

– Robert! Có chuyện gì cậu giấu tớ? – Reginald gằn giọng.

Nhà giả kim già không biết làm gì khác ngoài thở dài, buộc lòng tiết lộ:

– Ngày hôm đó, cha cậu đã bí mật gặp riêng tớ… Ông ta đã lợi dụng lúc tinh thần tớ đang hoảng loạn nhất — khi cha mẹ tớ bị bắt giam và chuẩn bị đem đi hành quyết — để dụ dỗ tớ rằng có một miền đất hứa, để cậu mang Mona tới.

– Cậu nói sao? – Reginald chau mày. Anh không hiểu lý do tại sao bạn mình lại chuyển chủ đề đột ngột như vậy.

Robert tiếp tục, giọng lạc dần đi vì sự bức bối bị dồn nén không biết nao nhiêu năm qua:

– Reginald, tớ đã giấu cậu bí mật về lý do tớ bỏ rơi Desdemona. Có thể vì tớ hèn nhát, có thể vì tớ chỉ muốn bảo vệ tình bạn này… Tớ biết tớ và Mona có vị trí quan trọng như thế nào trong tim cậu. Tớ biết một nửa con người cậu đã chết cùng vợ tớ vào ngày cô ấy qua đời. Chúng tớ lúc ấy còn trẻ, chúng tớ đã dại dột, tớ đã dại dột… Nhưng, cha cậu mới là người đã âm mưu tống khứ tớ đi và chia rẽ chúng ta.

– Cha tớ?
– Reginald ngả mạnh lưng vào ghế, tay buông thõng, hai mắt hết nhìn Robert rồi lại nhìn xuống đất. Chuyện này thật khó tin!


– Bá tước đã lợi dụng cái chết của cha mẹ tớ, Reginald! Có khác gì cậu lợi dụng việc đứa bé kia sắp mất bố nó không? Điều gì đã khiến cậu trở thành như vậy?

Không thể tin một người mình coi như anh em ruột thịt lại giữ kín bí mật này suốt từng ấy năm, Reginald ôm lấy đầu mình.

– Nhưng, tớ, và cậu—và Mona…

– Tớ biết cậu hận tớ, Reginald! – Robert chợt gắt lên. – Cậu hận tớ vì đã ngủ với Mona, khiến cô ấy có thai. Nếu không vì mang thai, Mona đâu phải từ biệt cuộc đời này khi mà cuộc đời phía trước của cô ấy vẫn còn dài!

Reginald nhắm chặt đôi mắt lại. Khóe miệng anh hơi mở ra, chuẩn bị cho một lời uất ức nơi đầu lưỡi lại sắp sửa bột phát. Đã không biết bao nhiêu lần lời tự vấn “Nếu như…” ám ảnh trong tâm trí Reginald, rằng mọi thứ bây giờ sẽ ra sao nếu như Desdemona không phải chịu đựng nỗi đày ải ấy, rằng mọi thứ sẽ ra sao nếu như
Reginald chưa bao giờ gặp hai con người đó và chấp nhận an phận trong tòa lâu đài? Anh ta sẽ trưởng thành và kết hôn? Anh ta sẽ sống một cuộc đời “trọn vẹn” bên vợ và cả tá đứa con — hệt như cha mình đã làm, hệt như đã được định đoạt?
Robert đâu biết đã bao nhiêu lần Reginald tự giam mình lại, khóc lóc và trách móc bản thân. Rồi khi nỗi đau chạm tới giai đoạn cuối cùng, Reginald buông xuôi tất cả. Chỉ tại Reginald kết thân với hai người ấy! Bạn bè đã làm Reginald biết hy vọng để rồi rơi vào tuyệt vọng, biết yêu thương để rồi đau đớn nhận ra mọi thứ mình hằng nâng niu vẫn sẽ có ngày tan vỡ.

Robert nói không sai, nhưng suy nghĩ ấy Reginald chỉ giữ cho riêng mình, bởi sức nặng của tình bạn và sự nể nang vẫn ngày ngày đè nặng trên vai anh. Nhưng giờ mọi thứ đã khác. Giờ Reginald đã có Olivia. Tất cả tình yêu và sự quan tâm, mọi niềm hy vọng mong manh còn lại, anh chỉ muốn dành hết cho đứa trẻ ấy. Nếu có một phép màu nào đó đảo ngược thời gian và ngăn những bi kịch trước đây khỏi xảy ra, Reginald không rõ liệu anh còn cần nữa không. Nếu mọi thứ đảo ngược thật, anh sẽ chẳng còn cơ hội nào để được gặp và chăm sóc Olivia.
Lời uất ức nơi đầu lưỡi đã có thể bùng nổ, nhưng rồi Reginald cố hít thở sâu. Anh siết chặt chén trà đã nguội trong tay, nói với bạn mình:

– Cậu hiểu lầm rồi. Tớ không trách cậu.

– Không, là cậu, Reginald. Cậu mới là người đáng trách.

– Cậu không hiểu được đâu! – Reginald gắt gỏng. Nhận ra mình lại sắp sửa đi quá giới hạn, anh hạ giọng, gục đầu lên hai bàn tay. – Tớ không muốn trở thành một con quái vật khát máu!

Robert ôm bạn mình vào lòng, đưa tay vuốt nhẹ lên lưng Reginald. Ông giấu giếm chuyện mình đã bị Bá tước lừa gạt như thế nào bởi ông đâu muốn bạn thân phải chịu thêm tổn thương, đâu muốn Reginald tự đày đọa mình vì những lỗi lầm không phải do cậu ấy. Reginald sẵn sàng làm mọi thứ để mang lại điều tốt đẹp tới những người anh ta yêu quý, bất kể cái giá phải trả đắt tới đâu – đó là điều khiến Robert yêu bạn mình, cũng là thứ khiến ông sợ hãi. Tấm lòng của Reginald rõ ràng đang dần bị tha hóa, sự chân thành và tự nguyện hi sinh ấy từ khi nào đã trở thành thái độ bất chấp đầy toan tính và ích kỉ? Những lời nói kia đã tố cáo sự vô tâm và cơ hội của Reginald, Robert không biết phải làm sao để giúp bạn mình tỉnh ngộ.

– Tớ biết, tớ biết. – Robert an ủi. Nhưng, tận sâu trong tâm can, ông biết mình muốn đổ lỗi cho ai vì đã hủy hoại Reginald. – Không phải là lỗi của cậu đâu.

Reginald ôm lên vai Robert.

* * *

Con trai của Robert tiễn Reginald. Đứng trước cổng, anh ta cầm vào cánh tay của bác, ngỏ lời:

– Bác Reg, có điều này cháu muốn nói với bác.

– Cháu cứ nói.

– Cha cháu không còn sống được bao lâu nữa, chắc bác cũng biết điều đó.

Reginald hơi nhấc cặp lông mày lên, tỏ ý không ngạc nhiên. Dạo gần đây có vẻ nhiều người muốn nhờ cậy anh, chính xác phải là nhờ cậy con quỷ hút máu bên trong anh.

– Cháu cần bác giúp bố cháu trở nên bất tử.

– Ta… – Reginald ngập ngừng. – Nhưng, chẳng phải cha cháu luôn mong muốn tự lực phát triển thêm công dụng của hòn đá Triết gia. Nếu biến ông thành ma cà rồng, chẳng phải như thế là đi ngược lại mong ước của cậu ấy?

– Cháu xin bác đấy. Cháu, cháu không thể kế thừa di sản của bố cháu. Bác hiểu cháu, phải không. Ngành giả kim sắp sửa bị tuyệt diệt, nhưng, cháu không muốn tham gia hay có bất cứ liên quan gì tới thế giới vàng thau lẫn lộn ấy cả. Nếu bố cháu sống lâu hơn, tự ông ấy có thể xoay sở mà không cần đứa con này.

Reginald hơi cúi xuống đất, che giấu nét mặt lộ rõ sự rối bời của mình. Những kỉ niệm thời niên thiếu ùa về, vẫn vui tươi và sống động như ngày nào mà giờ làm tim anh đau nhói. Anh rất muốn Robert và Desdemona được sống bên nhau, hạnh phúc mãi mãi; anh đã hứa là sẽ giúp cho hai người ấy được hạnh phúc bên nhau mãi mãi, nhưng rồi anh thất hứa. Kể từ khi Mona ra đi, không một ngày nào Reginald ngừng cảm thấy day dứt và hổ thẹn với lương tâm. Reginald muốn bù đắp cho Desdemona, cho Robert; chỉ không biết phải bù đắp làm sao cho đúng, bù đắp tới bao giờ cho đủ.

Nhận ra tâm trạng đầy mâu thuẫn của Reginald lúc này, Robert Jr đặt tay lên vai bác, an ủi. Hơi mỉm cười cốt để giấu đi nỗi buồn, Reginald nghiêng người lại gần cháu, nói nhỏ:

– Nếu muốn cha cháu sống, ta cần cháu làm cho bác những việc sau…

Khi ánh mặt trời yếu ớt cuối cùng vừa tắt cũng là lúc Reginald tạm biệt gia đình Goldman. Anh không về Forest Hill mà đi ra thung lũng. Bắt gặp một cô gái đang chuẩn bị trở về cùng mấy cô bò trắng, Reginald giấu con dao găm đã được mài sắc của Olivia, lặng lẽ tiến lại gần.

* * *

Reginald gạt chỗ máu trên miệng mình đi, nhúng con dao xuống dòng nước để làm sạch. Gã kéo cô gái tới gần bờ suối, quay đầu cô hướng về phía như lúc cô mới chuẩn bị về nhà, sau đó thì rời đi.


Trời tối mịt, Reginald xuất hiện trước cổng nhà máy đường bỏ hoang. Giờ này hẳn Allan cũng đã tỉnh giấc và bắt đầu thèm máu.

– Dậy rồi hả, Bí Ngô?

Allan nghe thấy giọng của Reginald khi vừa mới mở mắt, nhận ra hai tay mình bị trói. Cậu thấy mọi thứ đều mờ mờ, cổ họng thì khô rát đến đau đớn, và mùi máu của gã luôn gọi mình là “Bí Ngô” đang bốc lên ngùn ngụt.

– Đừng có cắn ta. – Reginald cởi trói cho Allan, vừa nói vừa nghiêng đầu về phía cái ô đen như lời nhắc nhở cho cậu ta nếu dám tấn công. Allan hiểu sự đe dọa, cậu bặm môi lại, dù rất muốn xông tới Reginald mà nhai nát cổ hắn.

Reginald trông Allan thật thảm hại, co ro như nhiễm bệnh sốt rét châu Phi. Khẽ nâng đầu cậu lên, Reginald lấy ra một lọ nhỏ đựng thứ dung dịch đỏ thẫm bắt đầu quánh lại, kề lên môi cậu ta.

– Uống đi. – Reginald nói nhỏ, thầm cảm ơn cảnh sát trưởng vì đã dạy cho mình cách bảo quản “tiết canh”.

Allan vội vã nhấp lấy.

– Ngài cho tôi máu?

– Ngươi có biết kẻ nào đã tấn công mình không? – Reginald hỏi, dù biết việc đó thật thừa thãi.

Allan im lặng.

– Vì đây là vấn đề sống còn, ta sẽ nêu ngắn gọn: Ngươi chẳng sống được lâu nữa đâu, khi cái chết tới cũng không thoải mái chút nào.

– Cái gì…? – Allan thở hổn hển.

– Máu là nguồn sống của mọi sinh vật, không loại trừ ma cà rồng. Ngươi vốn không phải là một ma cà rồng bẩm sinh, sự bất tử ngươi có được là vay mượn từ ta. Giờ một ma cà rồng khác đã cướp nó đi, ngươi sẽ chết.

Nghe tới đó, Allan mỉm cười đau đớn.

– Tôi còn cầm cự được bao lâu?

– … Lâu nhất là khoảng hai ngày, nếu ngươi may mắn. Những cơn thèm máu sẽ tới và hành hạ ngươi. Trong khoảng thời gian đó, hy vọng ngươi còn có ích với ta.

Biết mình không còn nhiều thời gian, Allan vội vã đem điều cậu thấy thắc mắc với Reginald bấy lâu nay ra:

– Reginald, Renato từng nói với tôi rằng trở thành ma cà rồng không phải là dấu chấm hết. Có một loại máu đặc biệt giúp những kẻ như chúng ta đi lại tự do vào ban ngày và duy trì nòi giống. Điều đó chính xác chứ?

Reginald hơi sững lại. Anh không muốn trả lời câu hỏi đó một chút nào, hay là không biết nên trả lời sao cho phải.

Vẻ bối rối và sự im lặng của Reginald càng làm Allan nghi ngờ hơn. Cậu nhắc lại câu hỏi:

– Điều đó chính xác chứ?

– … Đúng, nhưng không hẳn.

Biết những điều mình sắp sửa nói ra sẽ khá dài dòng, Reginald ngồi xuống, tựa vào băng truyền.

– Tuổi thọ trung bình của con người khoảng năm mươi năm2, tuổi thọ trung bình của ma cà rồng khoảng ba thế kỷ. Sau gần hai thế kỷ đầu, dấu hiệu lão hóa sẽ xuất hiện rải rác, rồi dần trở nên nhanh và ồ ạt hơn, cuối cùng là cái chết. Ma cà rồng bất tử có thể sống lâu hơn rất nhiều, quá trình lão hóa của chúng diễn ra cũng vô cùng chậm và khó nhìn thấy bằng mắt thường.

– Điều đó tôi đã biết.

2 Tuổi thọ trung bình của người Anh thời đó.

– Ma cà rồng bất tử bọn ta có thể đi ngủ vào ban đêm, có thể mơ ngủ như con người. Không giống như đám thế hệ thứ hai, bọn ta vẫn có thể tạo ra ma cà rồng, và giúp đám tay sai không bao giờ bị điều khiển bởi ma cà rồng chủ.

– Ngài nói cho tôi những điều ấy để làm gì? – Allan chau mày.

– Bởi ngươi, là một ma cà rồng thế hệ thứ hai, tức những kẻ vốn là người thường nhưng bị biến đổi. Các “tay sai” luôn phải chịu sự ảnh hưởng từ kẻ đã tạo ra mình, không bao giờ có được thứ gọi là “sự tự do về ý chí”, chưa kể những khả năng phục vụ cho việc săn mồi cũng bị giới hạn đi rất nhiều. Thứ duy nhất có thể thay đổi được số mệnh cho các ngươi là máu của một ma cà rồng bất tử.

Tới đây, Reginald ngừng lại. Anh thoáng nghĩ tới Earlene và John-Michael.

Allan hồi tưởng những lời mệnh lệnh vang lên văng vẳng trong đầu cậu mỗi khi đêm xuống, khiến cậu như hóa rồ, buộc lòng phải ngoan ngoãn tuân theo nếu muốn chúng dừng lại. Tất cả những lời thì thầm ấy đã biến mất ngay lập tức khi cậu được Reginald tặng cho máu của ông ta.
Căn cứ vào ánh mắt và biểu cảm của Allan, thấy cậu ta cuối cùng cũng hiểu ra và chịu giữ im lặng, Reginald mới tiếp tục nói:

– Nhưng, lòng tham của con người làm gì có giới hạn. Một khi đã trở thành ma cà rồng bất tử, ngươi lại muốn hơn nữa. Ngươi sẽ dần cảm thấy nhàm chán khi phải tự cầm tù bản thân. Ngươi nhớ ánh mặt trời và mọi người, ngươi thèm khát cảm giác được ăn thức ăn của con người. Ngươi ước được trở lại làm người, nhưng ngươi không chịu nổi sự yếu ớt và đoản mệnh nữa. Ngươi vẫn muốn bất tử. Ta nói đúng chứ?

– Đúng vậy. – Allan thừa nhận.

– Vấn đề đó vẫn có thể giải quyết được bằng loại máu mà Renato đề cập tới. Đáng tiếc là…

– Đáng tiếc là gì? – Allan cảm thấy khó chịu vì sự lập lờ của Reginald.

– Đáng tiếc là không có gì tồn tại mãi mãi. Ngươi thấy đó, ngươi không phải là ma cà rồng bất tử bẩm sinh, tác dụng từ máu của ta cũng chỉ là tạm thời. Dù không bị kẻ khác cướp mất thì một ngày nào đó, ngươi cũng sẽ trở lại làm một ma cà rồng thế hệ hai tầm thường. Ngươi sẽ lại cần máu của ta để duy trì sự bất tử-tự do; tương tự, ngươi cũng cần tìm thêm người có loại máu đặc biệt kia nếu muốn được tiếp tục ra ngoài mặt trời.

Trông Allan buồn bã gục đầu xuống, Reginald cảm thấy hơi có lỗi vì đã bỏ rơi cậu. Nhưng, anh chẳng thể làm khác đi được. Chuyện xảy ra với Desdemona là đã quá đủ, anh không muốn Olivia dính dáng tới những việc này một chút nào. Lùa tay lên trán để gạt mái tóc dài, Reginald nói nhỏ:

– Trở thành ma cà rồng đồng nghĩa với việc ngươi đã rơi vào một vòng xoáy luẩn quẩn, luẩn quẩn và đẫm máu. Tốt nhất ngươi hãy trân trọng những thứ mình có và đừng tham lam.

– Ý ngài là, tôi nên chấp nhận cái chết này? – Allan nuốt khan.

– Dù ngươi có được cứu hay không, sẽ có thêm rất nhiều kẻ khác tìm tới ta, chắc chắn không phải để cùng ta uống chút trà.

– Reginald, ngài vẫn chưa giải thích cho tôi về loại máu thứ hai. Tôi cần biết về thứ máu có thể giúp ma cà rồng nhìn thấy ánh sáng.

– Đằng nào ngươi cũng sắp chết rồi, Bí Ngô. Khỏi cần quan tâm đến nó.

“(…)ngươi cũng cần tìm thêm người có loại máu đặc biệt kia nếu muốn được tiếp tục ra ngoài mặt trời.”

Allan liếm môi, cảm thấy có cái gì đó không ổn trong cách nói chuyện của Reginald.

– Đợi đã… Nếu ngài là ma cà rồng bất tử, và bị đồng loại của mình săn lấy máu, đó là bởi máu của ngài có giá trị. Giờ tôi đã là ma cà rồng, tôi đã hiểu được tại sao những ma cà rồng khác lại cảm nhận được sự đặc biệt trong máu ngài.

– Bí Ngô, ngươi đang nói sảng đấy. – Reginald cố ngăn Allan lại. Anh vẫn biết không sớm thì muộn cậu ta cũng sẽ phát hiện ra, chỉ không ngờ lại nhanh đến thế.

“Người có loại máu đặc biệt. Vậy, tức là không phải máu của ma cà rồng?”

– Olivia… Tại sao Renato và cả ngài đều muốn giữ con bé lại bằng được? Có phải vì Olivia cũng giống như ngài?

– Không. Ta giữ Olivia vì ta muốn con bé làm gái hầu phòng ngủ cho riêng mình.

– Trả lời tôi! – Thái độ đùa cợt của gã ma cà rồng bất tử đã lấy đi nốt nỗ lực kiên nhẫn cuối cùng của Allan.

– Nếu ngươi muốn được làm người trở lại đến thế, lần sau hãy cân nhắc kĩ trước khi bắt tay với quỷ dữ, biết đâu ngươi lại đổi ý.

– Reginald, tôi không hề có ý định trở thành ma cà rồng! – Allan gắt lên. Cậu không thể chịu đựng được thái độ khinh thường này nữa. Reginald không hề biết về cậu, về những gì đã xảy ra, vậy mà gã tự cho mình cái quyền phán xét về con người Allan.

Hơi nhướn cặp lông mày lên, Reginald tỏ ra ngạc nhiên trước sự thanh minh của Allan.

– Vậy tại sao ngươi lại tiếp tay cho John-Michael hại Olivia?

– Vì…

– Vì sao?

– Vì… tôi yêu anh ấy.

– Ngươi yêu hắn? Yêu cái thứ bạo lực ấy?

Ánh mắt Reginald đảo sang phía khác, tự hỏi sao trên đời vẫn tồn tại thứ “tình yêu” méo mó này. Allan đang trong cơn giận, không biết làm gì hơn ngoài gào thật to để giải tỏa nỗi bức xúc:

– Ông không hề biết John-Michael như tôi! Nếu phải đổ lỗi, sao không đổ cho Renato vì đã cứu mạng tôi và biến tôi thành ma cà rồng? Nếu không, tôi đã chết từ năm mười chín tuổi vì bị ngựa đá rồi, khốn kiếp!

Reginald có hơi mủi lòng, nhưng rồi anh nhớ lại, và nhận ra việc Allan trở thành như bây giờ không phải là lỗi của anh ta.

– Ồ… Vậy là: ngươi đáng ra đã phải chết, nhưng Renato cứu ngươi, và giờ ngươi muốn tiếp tục sống?

– Tôi nợ Renato! Tôi yêu John-Michael, và tôi thấy đau đớn vì ông đã giết anh ấy!

– Ngươi nhớ hắn? – Reginald hỏi, dù anh chẳng quan tâm tới câu trả lời, cốt chỉ để kéo dài thời gian.

– Mẹ kiếp! Tôi sắp chết này! Tôi thề, nếu ông không giúp tôi, tôi sẽ giúp đám cảnh sát!

Allan gào lên, xông về phía Reginald. Chiếc cán ô bật ra, kề sát cổ cậu thanh niên hung hăng. Reginald đã quá mệt mỏi với tất cả mọi chuyện. Thằng nhãi Allan đã không cảm ơn được lấy một câu, giờ nó còn bày ra yêu sách. Reginald ghì lưỡi kiếm lại gần hơn, nói bằng thứ giọng không quá to, nhưng đủ để chì chiết:

– Nghe đây Bí Ngô, ta không phải là cái kho máu di động để lũ tham lam các ngươi muốn đến lấy lúc nào cũng được, và khi không lấy được thì bắt đầu xúc phạm đâu. Vì vậy ta khuyên ngươi bình tĩnh lại trước khi khiến ta nổi giận và mất cả chì lẫn chài!

Allan hậm hực lùi lại. Reginald thu cán ô về phía mình.

– Thứ ngươi cần là máu của một nhà giả kim.

– Một nhà giả kim? Tìm đ** đâu ra một nhà giả kim bây giờ?

Khóe miệng rộng của Reginald nhếch lên nụ cười nửa miệng đáng ghét với Allan. Anh vươn thẳng lưng, trỏ về phía cậu, tỏ vẻ vui mừng:

– Cho ngươi hay, ta tình cờ quen biết một nhà giả kim già. Xem ra ngươi gặp may đấy, Bí ngô. Nhưng ngươi nên nhanh lên, ông ta không còn sống lâu được nữa đâu.

– Ông ta ở đâu?

Nghiêng đầu về phía trước, Reginald gọi lớn:

– Robert, lại đây đi.

* * *

Sau chuyến đi tuần, Joseph hỏi thăm anh chàng Brook và ra về. Trên đường rẽ vào nhà, cảnh sát trưởng bị một bàn tay bí ẩn bịt lấy miệng, lôi đi rất nhanh về phía công viên.

– Ả a! (Thả ra!) – Joseph nói, húc cùi chỏ vào mạn sườn kẻ hành hung.

– Ối! – Hắn kêu lên, buông tay ngay lập tức.

– Allan? – Cảnh sát trưởng quay đầu lại, kinh ngạc nhận ra đó là người quen. Khắp người cậu ta loe loét máu, trông thật gớm ghiếc! – Cậu bị làm sao thế này?

– Mau lên, tôi không còn nhiều thời gian! – Vừa nói, Allan vừa kéo Joseph xềnh xệch, mặc cho ông cảnh sát lúng túng không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

* * *

– Reginald! Reginald! Tỉnh lại đi!

– …

Nghe thấy tiếng gọi và cảm giác bị ai lay mạnh hai vai, Reginald chống tay lên nền đất lạnh ngắt, ngồi dậy một cách khó khăn. Mọi vật xung quanh anh ta lúc này đều quay cuồng, nhòa lẫn vào nhau và nhân lên thành ba. Gã ma cà rồng lấy tay ôm lên gáy, cảm thấy đau nhói.

– Chuyện gì xảy ra vậy? – Reginald hỏi nhỏ.

– Thằng Allan đó đã đánh ngất bác và cháu rồi chuồn êm mất rồi. – Robert Jr trả lời.

– Cái gì? – Reginald chau mày lại. Tai anh lúc này hơi lùng bùng.

– Sau khi cắn cha cháu, nó đánh gục bác và cháu. Khi cháu tỉnh dậy thì nó đã trốn mất, còn bác thì nằm đây, trên vũng máu.

– THẰNG PHẢN BỘI CHÓ CHẾT! – Reginald túm lấy cán ô, lắp nó lại rồi nói với Robert. – Chăm sóc cha cháu đi, bác có việc quan trọng hơn cần phải giải quyết đây.

Reginald lao qua cổng nhà máy, cố chạy hết tốc lực để đuổi theo Allan và trừ khử nó trước khi nó làm điều gì nguy hiểm tới mình. Anh biết Allan sẽ gặp ai đầu tiên nếu nó muốn trả thù. Mặt Reginald chợt tối sầm lại. Anh ngã gục xuống đất, cảm thấy toàn bộ phần thân trên nặng trịch, tưởng như không thể gượng dậy nổi.

“Đứng dậy mau, khốn kiếp!” – Reginald tự nguyền rủa cái cơ thể kiệt quệ. Anh không tức Allan vì sự vô ơn hay phản bội, điều này anh đã đoán được và quyết định ra tay trước bằng cách lừa cậu ta uống máu của Robert. Thứ anh lo sợ là những gì sẽ được tiết lộ với đảm cảnh sát kia.

* * *

– Joseph! Ông đã đúng! Chúng có ở khắp nơi! Chúng đã khiến tôi thành ra thế này! Chúng sẽ giết ông! Chúng sẽ giết hết chúng ta!

– “Chúng”? Chúng là những ai? – Joseph gắt lên. Thái độ cuống cuồng của Allan khiến cảnh sát trưởng cũng mất bình tĩnh theo. – Nói đi! Có phải là ma cà rồng không?

Một cơn co thắt nơi lồng ngực chợt tới làm tim Allan đau nhói. Cậu không hiểu chuyện gì đang xảy ra với cơ thể mình.

– Allan! Nói cho tôi! – Cảnh sát trưởng hối thúc. – Có phải cậu đã bị biến thành ma cà rồng?

– Đúng, đúng… – Giọng Allan chợt nhỏ đi bất thường.

– Cậu đau à? Có phải cậu dùng ma túy không?

Allan lắc đầu, thở gấp:

– Gã giết John-Michael là ma cà rồng bất tử. Hắn đi tới đâu, ma cà rồng sẽ kéo theo đến đấy vì chúng muốn đoạt lấy sự bất tử từ hắn. Để tự bảo vệ mạng sống, hắn luôn mang theo một cây kiếm dùng chém cổ những kẻ tấn công mình…

– Còn gì nữa không?

– Chắc chắn giờ này “hắn” đã tỉnh dậy và biết được mọi chuyện rồi. Hắn sẽ truy giết tôi. Ông nên chạy đi trước khi bị bắt gặp ở đây với tôi!

– Cậu chưa nói cho tôi biết “hắn” là ai! Kiếm của hắn trông như thế nào? Tôi, tôi không hiểu! – Joseph ôm lấy đầu, cảm thấy rối rắm hơn bao giờ hết.

– Ông không biết “hắn” là ai? Joseph, đó chính là Regi…

Máu từ miệng Allan trào ra, cậu ta đổ rụp xuống đất, co giật liên hồi.

Đúng lúc đó, Reginald đang từ phía chân đồi chạy tới. Nhìn thấy cảnh sát trưởng, anh dừng lại.

– Ôi không! Allan! Cậu làm sao vậy? – Joseph hoảng hốt đỡ lấy cậu thanh niên hoảng loạn.

– Hắn đã làm gì tôi thế này… – Allan thổn thức trong vô vọng.

– Allan! Allan!

Cảnh sát trưởng lay mạnh chàng trai xấu số, bất lực nhìn cậu ta nôn ọe và thoi thóp dần tới khi tắt thở.

– Allan. Tại sao? – Joseph cúi đầu, tay đấm liên tục xuống đất. Giọng ông run bật vì đau khổ và phẫn nộ. – TẠI SAO?

Cảnh sát trưởng ngước lên, trước mặt ông là gã hàng xóm mặc áo trong gắn cổ cồn đỏ màu máu đang cầm chiếc ô to trên tay. Reginald tiến lại gần, quỳ một chân xuống bên Joseph. Gã đặt bàn tay lên đầu cảnh sát trưởng, nhẹ nhàng nói:

– Quên chuyện này đi.

Joseph lặng lẽ đứng dậy, bước đi như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Một cảm giác nóng bừng phía sau gáy chợt tới, Reginald quay đầu lại. Cách đó không xa, Randolph đang đứng nhìn anh với cái miệng há hốc, không thể tin nổi những gì vừa xảy ra.

– Đi theo tôi, nhanh! Cậu nhà báo túm lấy khuỷu tay Reginald, khẩn khoản nhìn anh. Đang trong trạng thái ức chế và căng thẳng tột độ, Reginald không biết làm gì hơn ngoài đi theo sau.

* * *

Trở lại nơi Allan nằm xuống, Reginald cầm theo chai rượu, nốc gần hết một nửa. Trò thôi miên ấy tác dụng chẳng được bao lâu, rồi Joseph sẽ dần lấy lại được ý thức và tiếp tục điều tra mớ dữ kiện nửa vời này. Reginald cần phải ngụy tạo cho Allan một cái chết khác thay vì lại giấu xác cậu ta đi như đã làm với thằng John-Michael. Đằng nào thì cảnh sát trưởng cũng đã cho gã ma cà rồng bất tử vào tầm ngắm rồi.

Reginald đổ một ít rượu vào miệng và áo Allan, cùng đó lấy ra một túi nhỏ đựng bột trắng, rắc vào hai lỗ mũi và má cậu tóc đỏ. Xong xuôi, anh nhét túi vào người Allan, thả chai xuống cho rượu văng tung tóe ra đất, rồi bỏ đi trong chán nản.

Reginald cố bước thật nhanh. Đợt gió từ hướng Bắc ào ào cuộn tới, anh ôm lấy hai cánh tay, rùng mình vì lạnh. Cổ Reginald được quàng một chiếc khăn lớn để che đi vết cắn và cái cổ áo.

Lại một lần nữa Reginald sơ sẩy. Cái chết của Allan sẽ giúp ích không nhỏ cho cảnh sát trưởng điều tra. Có phải lương tâm của Reginald đang trên bờ vực của sự mục nát như Robert đã cảnh báo, rằng anh ta không xứng đáng là một hình mẫu tốt mà Olivia ngây thơ vẫn luôn ngưỡng mộ và noi theo? Sẽ ra sao nếu mọi chuyện vỡ lở? Sẽ ra sao nếu Olivia biết được tất cả sự thật? Hẳn Arthur và Renato sẽ hả hê lắm, cuối cùng thì gã Reginald này cũng đã đầu hàng con quái vật bị cầm tù bấy lâu nay. Người ở thị trấn sẽ phỉ nhổ vào cái xác đen thui của Reginald khi gã ma cà rồng man rợ đó chết cháy trên giàn thiêu.
Giờ, Reginald chẳng thiết tha làm gì nữa, anh chỉ muốn uống và quên đi hết.

Câu lạc bộ đêm đón gương mặt rầu rĩ và u ám của Reginald. Anh bước qua cánh cửa, không buồn đóng nó lại.

Đã từng có một thời gian mà sau khi giết hại đồng loại, Reginald thấy mọi cảm xúc thi nhau cuộn lên như bầy dòi bò nhung nhúc trong tim, trong phế quản và mạch máu mình. Dù đang nằm ngủ, thoáng nghe thấy tiếng động rất khẽ thôi gã đã hoảng hốt bật dậy. Giờ thì gã chẳng buồn đắn đo nữa. Nếu cần thiết, gã sẽ giết. Reginald không thể để lũ ma cà rồng đói khát điên cuồng nào đến xé xác mình ra, đến phá hoại cuộc sống yên ổn của gã với Olivia. Gã không còn quan tâm đến tính mạng của chúng hay cảm giác của chính mình; nhưng gã lo rằng, chẳng chóng thì chầy, con bé sẽ bị ảnh hưởng vì những chuyện không hay của gã.

– Absinthe, không pha. – Reginald nói với nhân viên khi ngồi ở quầy pha chế, đôi mắt thẫn thờ nhìn xuống nền đất.

Nhấc li rượu lên, Reginald nhấp một chút rồi nhanh chóng đặt nó xuống. Tới Nàng tiên xanh giờ cũng nhạt nhẽo và chẳng đem lại chút cảm giác giải phóng phiêu bồng nào cả. Reginald cần hút thuốc.

Làn khói vừa rời khỏi môi, Reginald quay đầu lại. Sức nặng của bàn tay đeo nhẫn vàng đặt trên vai chưa bao giờ khiến anh phải mất công suy nghĩ xem đó là ai.

– Renato.

– Chào Reginald. – Renato nhếch môi cười.

* * *

Giữa bãi cỏ xanh thưa thớt của khu nghĩa trang, cảnh sát trưởng đi lang thang vật vờ một mình trong cơn mộng du.

* * *

Tỉnh dậy bên bờ suối, cô gái ngơ ngác nhìn ra xung quanh, cảm thấy khó chịu và lạnh toát vì bộ đồ ướt sũng. Cho rằng mình đã làm việc quá sức dẫn đến ngất xỉu, cô đứng dậy, phủi váy. Trên đường về nhà, cứ chốc đi được vài bước, cô lại ôm lấy vùng lưng dưới đau nhói. Có lẽ, điều duy nhất cô nên làm lúc này là trở về nhà, ăn một bữa thật no và dành trọn vẹn cả ngày mai để ngh�

Thành viên
Bút danh: 
Mật khẩu: 
Chọn lọc Xem hết »
2AM Silence
2AM Silence Tác giả: HwangSaek (Carolyn) Dịch: November Rain Tonhyuk.To Sou: fic này dành cho cô, bởi trước hết, nếu như không có cô thì tôi cũng không thể nào dịch hoàn chỉnh nó. Chưa bao giờ tôi gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn từ như trong fic này (may mắn là nó chỉ là shotfic). Vì vậy, cô đừng khắt khe quá với nó nếu như nó không được như cô mong muốn khi cô đọc bản gốc tiếng Anh.
Trực tuyến
18 Khách, 1 Thành viên
theboyofschool