Thỏa thuận sử dụng Liên hệ Thông tin bản quyền
Trăng cứ tò mò dõi theo từng bước chân của chúng tôi trên con đường bình lặng chốn làng quê yên tĩnh, sao trong ánh nhìn đó lại có gì đó reo lên tanh tách như một bà lão xem kĩ càng không hề bỏ tập nào của một bộ phim truyền hình dài ngoằng, lê thê, ủ dột...

Thể loại: Các cuộc thi > Mini Contest 1 Rating: K Hoàn thành:
Phân đoạn: 1 Độ dài: 9024 từ Đọc: 189 lần Phản hồi: 0 Yêu thích: 0
Đăng: 28 Jul 2017 Cập nhật: 28 Jul 2017

[Mini Contest 1] Ánh trăng trông theo bởi Anyone
Ánh trăng trông theo


Thể loại: Kỳ ảo, đời thường.
Rating: K



Năm tôi năm tuổi, lần đầu tiên thấy những thứ mà sau này tôi tự định nghĩa chúng là “thần” và “ma”. Đó là một đêm trăng non nhọn hoắt, mỏng manh như một cái lưỡi câu sắp xé toạc bầu trời đêm đầy sao, tôi có thể thấy nó mong manh lạc lõng từ ô cửa sổ nhỏ để mở. Tôi bị đánh thức bởi một tiếng khóc rấm rứt đâu đó bên ngoài cửa sổ, nếu không phải vì mẹ đang nằm ngay bên cạnh thì tôi đã lầm tưởng là bà rồi. Những ngày này, bà cũng hay khóc, chỉ một lúc không để ý, tôi đã thấy mắt bà ngấn nước, rồi một lúc sau đã thấy tràn đầy cả đôi mắt vốn đỏ hoe. Nghe kĩ hơn tôi có thể thấy sự khác biệt, tiếng khóc này nhẹ nhàng như gió mùa hè thổi qua khe cửa sổ, êm ái như gió thu lướt trên bụi cây trước nhà. Bị tò mò, tôi bước xuống giường mò mẫm theo ánh sáng tỏa ra từ ngọn nến thờ bên ngoài gian buồng. Khi đó, ban thờ của bố đặt ngay gian chính của nhà, thấp bên dưới bàn thờ tổ tiên, có một ngọn nến đặt trong cốc đã vơi đi gần hết, mẹ thắp nó từ tối trước khi đi ngủ, cùng một nén hương vòng le lói cũng sắp tàn đến nơi rồi. Mẹ sẽ tỉnh sớm, bà dường như luôn biết lúc nào thì hương hết để mà thức dậy thắp lại một nén mới.

Tôi rón rén mở cửa he hé nhìn ra bên ngoài… ngơ ngác. Tôi phải ngay lập tức quay lại ngó bức ảnh trên ban thờ nhỏ rồi nhìn lại cái người đang đứng ngoài sân tới mấy lần. Tôi khi đó không hề hiểu rằng hình ảnh ngoài kia thật không bình thường một tí nào, cũng không hề cảm thấy cần phải chạy ào ra bên ngoài vì nhớ người cha đã mấy ngày không gặp. Một bên mặt bố tôi được ánh đèn đường vàng vọt chiếu tới, một bên lẩn khuất trong bóng tối. Ông chắc chắn không phải là kiểu bố khiến đứa con trai năm tuổi cảm thấy thật sự luyến tiếc khi không còn được gặp lại nữa, nghe có vẻ vô tình nhưng đúng là như thế. Người ta nói rất nhiều về tình cảm gia đình trên TV hay những cuốn sách, nhưng để tạo được ấn tượng đó cần có thời gian và tâm huyết muốn xây dựng một mối liên hệ thật bền chặt và gần gũi. Còn bố tôi, ông rất ít nói, ngay cả với mẹ, ông lúc nào cũng có một việc gì đó để làm, ngoài những khi ra đồng thì ông còn nhận bất kì công việc nào người ta nhờ vả, từ trèo dừa, hái nhãn, đến lợp lại mái nhà, phụ hồ, khuân vác… bất cứ việc gì khiến ông có việc để làm. Đến cả những khi rảnh, ở nhà ông cũng cố tìm ra những chỗ hỏng hóc, hay kiếm vài ống tre về làm lạt mày mò đan cái này cái nọ. Tối ông thường chỉ lùa vội bát cơm rồi lại đi qua nhà hàng xóm uống chén chè xanh, hút điếu thuốc lào đến gần khuya thì về.

Bởi vậy, cái duy nhất làm đứa trẻ năm tuổi khi đó thấy ấn tượng là rõ ràng nó thấy bố mình đã được người ta cho vào quan tài và chôn xuống nghĩa trang bên kia cánh đồng và đắp lên một nắm mộ tròn trĩnh, nhưng đứng ngay dưới sân kia lại chẳng thể nhầm lẫn vào đâu được là người trong bức ảnh đặt trên ban thờ vẫn được ánh nến chiếu rọi, giống đến cả cái nụ cười hiền buồn tênh thả rơi nhẹ nhàng.

Bỗng, tôi thấy hình ảnh của ông khi đó mờ dần, cái nhìn vốn đã lay lắt càng trở nên đau đớn hơn cứ chằm chằm về phía hiên nhà ngay trước cửa sổ gian chính, cũng là nơi tiếng khóc rấm rứt đang ngày một lớn hơn. Bố tôi cứ thế nhẹ nhàng từng chút một nhạt nhòa dần trong không khí như hòa tan vào màn đêm bên ngoài, hòa tan vào cơn gió nhẹ thoảng qua và bay đi đâu đó chẳng thể nào biết được, cũng có thể ông đã hòa vào ánh đèn đường ung ủng trên cái sân bê tông. Còn lại chỉ là tiếng khóc nghe não nề hòa cùng tiếng dế đang rên rỉ, tiếng cóc nhái bứt rứt phụ họa. Tôi hé cửa rộng hơn để nhìn qua bên hiên nơi mà tiếng khóc đang phát ra. Ngồi đó, vùi mình vào bàn tay nhỏ nhắn, bộ tóc đen dài không chừng bằng cả chiều cao của cô được vén sang một bên để lộ ra gương mặt trắng nõn tỏa sáng nhờ nhợ trong bóng hàng cây tỏa xuống.

Tôi tiến lại gần, ngồi xuống bên cạnh. Làm một đứa trẻ cũng có cái hay ở đó. Khi còn năm tuổi, con người chỉ biết cảm giác sợ ông ba bị, ông ngáo ộp được miêu tả với hình thù quái dị độc ác chứ chẳng sợ gì những người lạ mặt đang khóc rầu rĩ cả. Mỗi lần mẹ khóc, tôi lại tới ngồi bên cạnh, bà sẽ ôm lấy tôi và nở một nụ cười trong hàng nước mắt. Vậy nên tôi cũng áp dụng với cô gái khi đó. Cô liền lau vội nước mắt và nhìn tôi thật kĩ. Chúng tôi cứ ngồi cạnh nhau một lúc thật lâu, tôi thì nhìn chằm chằm đám kiến đang lang thang dưới chân, con này đang nhanh chân đi về một phía, con khác thì vác theo một chiến lợi phẩm đi theo hướng ngược lại, tự hỏi chúng thức quá khuya hay là dậy quá sớm? Còn cô gái thì nhìn chằm chằm lên mảnh trăng mỏng dính trên bầu trời đang khuất dần nơi chân trời.

Khi mẹ tôi thức dậy, bà hốt hoảng đi tìm, thấy tôi ngồi ngoài hiên thì cằn nhằn.

- Sao không ngủ mà dậy ngồi đây một mình giờ này thế hả?

*

Năm tôi năm tuổi, lần đầu tiên thấy những thứ mà sau này tôi tự định nghĩa chúng là “thần” và “ma”. Bố tôi và nhiều nhiều những người nữa có họ hàng cũng từng có khả năng như vậy. Đó là theo lời những vị thần trong làng mà tôi có dịp nói chuyện những người đã sống rất lâu, quen biết rất nhiều người khác cùng dòng máu với tôi.

- Không phải đời nào cũng có, mà mỗi lần có là lại thêm phiền phức!

Ông lão thần cây ngồi trên một cái cành đa sát mặt đất, vừa phì phèo tẩu thuốc vừa cằn nhằn với tôi như vậy.

Sau khi tiếp xúc nhiều với những sinh vật siêu nhiên đó, tôi đã rút ra kết luận, có thể chia các sinh vật siêu nhiên ra làm hai loại. Loại thứ nhất là những sinh vật sống rất lâu, được sinh ra từ một thực thể tự nhiên hoặc một niềm tin sâu đậm của con người. Tôi gọi họ là “thần” mặc dù nhiều khi tôi nghĩ họ giống yêu quái hơn ấy, có nhiều kẻ khá bạo lực, nhiều kẻ ám các gia đình gây ra bệnh tật, hoặc ám cây cối làm chúng mất mùa, khô héo. Tất nhiên chỉ là một phần thôi, đa số các vị thần chẳng quan tâm lắm đến con người, hoặc là ghét đám làm hại con người. Loại thứ hai là những linh hồn thoát ra khỏi cơ thể sau khi chết, có thể là con người, thú vật, hay cây cối, tôi gọi họ là “ma”. Không phải tất cả linh hồn sau khi chết đều thành ma, bố tôi là một ví dụ, ông đã chọn bước đi tiếp trong hành trình sự sống, mặc cho cô gái có níu kéo, những linh hồn ở lại vì sự níu kéo của trần thế đều không mấy tốt đẹp và thường bị các vị thần trừng phạt, tôi gọi những kẻ đó là “ác ma”. Cũng bởi thế, trong số các ma, cũng có những kẻ độc ác chuyên ám người hay linh hồn còn sống, nhưng cũng có kẻ hoàn toàn vô tư lự, chẳng quan tâm gì khác ngoài việc tìm cách thành thần.

Sở dĩ tất cả những tên gọi đó đều do tôi đặt ra là bởi vì chẳng có một tên gọi nào chính thức cho việc phân chia các sinh vật siêu nhiên như vậy cả, còn chính bản thân các sinh vật đó cũng chẳng thèm dịch nó sang tiếng Việt làm gì cả. Tôi đặt tên cho họ chỉ để dễ dàng nói chuyện mà thôi.

Tôi chỉ kể chuyện này với một người duy nhất, là bạn thuở nhỏ của mình. Khi mới năm tuổi, tôi chẳng có khái niệm về việc mình có thể bị kì thị nếu kể những câu chuyện kì quặc về những thứ chỉ mình mình nhìn thấy, nhưng tôi được cô gái hôm đó bảo phải giữ bí mật. Vậy nên nó trở thành một bí mật nho nhỏ của tôi mà nhiều khi vẫn được lấy ra để làm nguồn giải trí sau những ngày lao động nhọc nhằn. Những lúc đó tôi sẽ tự nhủ rằng mình cũng có một cái gì đó thật đặc biệt đấy chứ! Và sẽ tự cười với bản thân như một đứa trẻ được tặng cho một món quà nhỏ xinh đáng yêu dù chẳng biết làm gì với nó ngoài thỉnh thoảng lôi ra ngắm.

- Đâu phải là không thể làm gì với nó đâu, chẳng phải mày giúp cho ruộng vườn cả cái làng này tươi tốt hơn hẳn đấy còn gì.

Thằng Hiệp – bạn thân nhất của tôi - gay gắt khi nghe tôi than thở.

- Đâu ra. Tao làm gì có cái quyền năng đó.

- Mấy vị thần chẳng phải rất hài lòng về hương khói rồi đồ thờ cúng của mày còn gì. Nhớ hồi mười lăm tuổi có dịch rầy nâu làm cả làng suýt trắng tay, mày đến cây gạo bên kia sông nhờ thần giúp đỡ, thế mà hết đấy còn gì.

Vụ đó chỉ kể sơ sơ với Hiệp như vậy, nhưng thực ra là cũng khá nhọc công. Ngày xưa vị thần trú ngụ trong cây gạo vốn từ ma mà thành nhờ được con người thờ phụng. Vậy nên ngài thường diệt trừ ác ma hay đánh đuổi những vị thần chuyên ám vào cây lúa trên cánh đồng. Nhưng càng ngày con người càng ít thờ phụng vị thần nữa, ngài trở nên chán nản và như phần đa các vị thần khác, ngài mặc kệ con người muốn làm gì thì làm. Khi tôi đến nhờ, cũng chỉ mang theo chút gạo muối như lời chỉ dẫn của vị thần trên cây đa thôi, thế mà lại có hiệu quả. Vị thần ngay lập tức vui vẻ trở lại và tiến hành diệt trừ các ác ma. Cái nhọc công ở đây là lũ ác ma lại quá đông nên chúng tấn công cả tôi nữa, cái cảm giác bị những hình bóng giống người trợn mắt nhe răng, những con chó giương nanh giương vuốt lao tới tấn công thật đáng sợ. Những cú cắn hay cào của ác linh không gây ra vết thương hay chảy máu gì cả nhưng vẫn tạo ra một nỗi đau đớn khó quên được.

- Nếu không có khả năng đó chúng ta cũng đâu có thể thân với nhau đến thế này được. Từ hồi đấy đấy.

À! Cái này thì Hiệp hoàn toàn đúng, tôi phải rất cảm ơn khả năng này của mình.

Lần đầu tôi gặp Hiệp là một mùa hè bỏng rát khi tôi lên mười. Ngôi nhà lớn chếch một chút so với nhà tôi có người chuyển đến sau một năm trời không ai ở. Chủ cũ của nó là một cặp vợ chồng già, con cái ở xa, nhưng họ lần lượt qua đời, cho đến năm ngoái thì nó hoàn toàn bị bỏ hoang. Tôi hay qua đó chơi vì cả ma và thần đều thích đến, thậm chí là trước khi bị bỏ hoang. Dường như có một truyền thống trong gia đình đó khiến họ có rất nhiều chỗ đặt đồ thờ cúng, nào bên con chó đá trước hiên nhà, dưới cây cột chính chạm trổ rất đẹp, dưới cái cây nhãn cổ thụ cả trăm năm tuổi, và cả một cái ban thờ nhỏ nằm giữa vườn dành cho bất cứ thần ma nào có nhã hứng đi qua. Mỗi buổi sáng thức dậy, họ (khi cả hai vẫn còn khỏe mạnh) lại cùng nhau mang chút cơm, chút hoa quả đi vòng quanh khắp những nơi đó kính cẩn dâng hương. Nó như một thói quen mà cho dù đôi mắt có trở nên mờ đục, họ vẫn không thể nhầm lẫn được con đường mỗi ngày. Thế rồi khi cả hai ông bà qua đời, chẳng còn ai cho những linh hồn lang thang đồ cúng. Gia đình Hiệp chuyển đến chẳng hề biết đến cái tục lệ đó, họ mua lại căn nhà từ con trai cả ông bà, chỉ đơn giản thấy đây là một căn nhà cũ kĩ mà to lớn, có rất nhiều thứ thừa thãi cần dọn đi. Và công việc dọn dẹp đó đụng chạm đến rất nhiều thần ma vốn trú ngụ hoặc chỉ đi ngang qua ngôi nhà, cộng với việc vị thần tổ tiên – tôi gọi là như vậy bởi vì họ đại diện cho những thế hệ xưa cũ đã bước tiếp trong hành trình sự sống được thờ tại bàn thờ gia tiên – của nhà họ chưa đến để thay thế vị thần cũ được. Hậu quả là Hiệp và cả bố mẹ bắt đầu trở nên ốm yếu.

Tôi nghe được mấy vị thần kể cho về việc đó, nhưng đâu thể đến nhà và bảo họ đang bị mấy thế lực huyền bí nào đó nghe viễn tưởng và siêu thực đến kì quái ám, rồi đề nghị hãy cúng đồ ăn để được yên bình. Tất nhiên là một đứa trẻ mười tuổi cũng có thể thấy cách đó hoàn toàn không khả thi. Tôi đành phải đi thuyết phục thần ma nơi đó tha cho gia đình nhỏ. Nhưng cũng như con người có hàng bao nhiêu những kẻ cứng đầu chỉ biết bảo thủ bảo vệ điều mình tin là đúng chẳng chịu hiểu chút nào lời người khác nói, với thần ma thì còn cứng đầu hơn nữa, tại sao họ phải nghe lời một con người nhỏ bé đoản mệnh thế này kia chứ Thậm chí chính tôi cũng bị đe dọa nữa, tôi vẫn luôn nghĩ các vị thần dù sống cả trăm, cả nghìn năm cũng có tính cách giống trẻ con đến lạ lùng.

Tôi đã định nhiều lần đến làm quen và cố nói chuyện với Hiệp ở lớp nhưng rốt cuộc lại chẳng được, tôi vốn là một kẻ nhút nhát, còn Hiệp dù cho liên tục ốm đau phải nghỉ học nhưng cũng đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong trường. Cậu ấy đã từng sống ở thành phố, biết đánh ghitar và lại còn hát rất hay. Cậu ấy có kiểu tóc xoăn xoăn buông xuống che cả trán và gần như chạm tới đôi mắt nâu lớn long lanh mơ màng, khiến ai nhìn vào cũng có một cảm giác dễ chịu như một cốc nước mát lành cho ngày nắng nóng. Lần đó, Hiệp ốm cả nửa tháng không thể đi học, có một vị thần đã lâu không trở lại căn nhà khá hùng mạnh ám cậu ấy. Một đêm trăng tròn thật sáng, ngay rằm tháng tám, tôi lẻn vào nhà Hiệp vì nghe phong thanh có vẻ như vị thần muốn đưa ra cảnh báo cuối cùng cho những con người nhỏ bé vô lễ dám bỏ việc thờ cúng ngài, tôi chỉ có duy nhất một suy nghĩ là phải làm hết sức mình để giúp đỡ họ, tôi còn năn nỉ một vài vị thần đến giúp mình nữa, họ cũng không hề muốn có hành động gì thái quá phá vỡ cân bằng.

Nửa đêm hôm đó, tôi trốn ra khỏi giường, chui qua cái hàng rào mắt cáo có một lỗ thủng vừa đủ chui qua của nhà Hiệp, rón rén đi tìm vị thần đang ám vào cậu bạn. Nhưng tôi lại thấy Hiệp đang thơ thẩn đi trong vườn trước, mắt cậu ấy vẫn nhắm nghiền, từng bước chân thả chầm chậm trên lối vào khu vườn rộng. Ánh trăng bàng bạc chiếu rọi lên khuôn mặt trắng trẻo chuẩn công tử thành phố của cậu ta. Vị thần đang đừng đợi Hiệp bên bờ ao, ngài có hình dạng một con mèo với bộ lông dày cui trắng muốt như mặt trăng, hàng ria dày và dài hơn bình thường đỏ sẫm như máu, đôi mắt đen tròn xoe liên tục đảo qua đảo lại mà chẳng ăn nhập gì với nhau, đặc biệt là ngài to bằng cả một con bê. Với cả tôi, dù đã tiếp xúc với nhiều vị thần nhưng người có thể toát ra một bầu không khí áp chế đáng sợ như vị thần này thì cũng thật hiếm, các vị thần thời nay nhìn chung đều trở nên yếu đi cùng với sự lan rộng của những tòa nhà, xe cộ, lối sống hiện đại. Những vị thần như ở cây đa trong đình làng, hay cây gạo bên kia sông cứ ngày qua ngày thu mình lại dần trong cuộc sống nhỏ hẹp bên cái nơi mình từng một thời được người ta nhớ đến và thờ phụng, rồi sẽ có ngày cái cây bị chặt đi, đền miếu bị phá sập, tượng bị xô đổ nhường chỗ cho biết bao thứ tiện lợi hơn mà không ngấm màu cũ kĩ làm đám thanh niên phát ngán. Vị thần mèo này lại có kiểu cách phản ứng dữ dội hơn, ngài thấy mình bị coi thường, và ngài muốn trừng phạt.

Tôi chưa từng oán trách những vị thần khi làm như vậy, nếu có một ai đó bỏ rơi tôi trong nỗi cô đơn hàng chục năm, liệu tôi có còn bình tĩnh tha thứ?

Đêm hôm đó, vị thần mèo chỉ chút xíu nữa là đã dìm chết Hiệp dưới cái ao nhà cậu. Hiệp đã nhảy xuống ao trước khi tôi kịp chạy đến, cậu thức tỉnh ngay lúc đó nhưng miệng chỉ có thể mở to cùng đôi mắt sợ hãi mà không thốt ra được một tiếng nào, cậu chỉ còn biết vùng vẫy trong tuyệt vọng. Ánh trăng rót từng giọt óng ánh bạc trên mái tóc, trên gò má, trong đôi mắt mở thật là lớn của Hiệp. Vị thần mèo nằm trên thành ao, đôi mắt chăm chú vào cậu, miệng rít lên những tiếng thê lương như một khúc tang ca đưa tiễn một linh hồn rời khỏi trần thế. Tôi tất nhiên không thể để như vậy, chạy thật nhanh đến, nhảy ào xuống làn nước mát rượi đêm thu, bơi thật nhanh về phía đứa trẻ đang ngày càng đuối dần sức vùng vẫy. Trong lúc vừa túm không cho Hiệp chìm nghỉm, vừa khỏa nước để vào bờ, thì một cái đuôi thình lình đưa xuống dứ dứ trước mặt như muốn nói “Hãy mau tóm lấy tôi đi”, tôi tóm lấy.

- Lần đó đúng là may thật, mày gần như bất tỉnh khi tao lôi lên được bờ, người đâu mà yếu xìu.

- Tại tao không biết bơi thôi, vùng vẫy được đến mấy phút rồi còn gì!

- Thôi đi cha, một phút là cùng, tao chạy đến nhanh lắm.

- Hồi đó chân ngắn ngủi, lấy đâu ra mà chạy nhanh được, đừng phóng đại lên nữa…

Tôi không khỏi mỉm cười, đó chắc chắn là hạnh động tuyệt vời nhất mà tôi từng làm, để bắt đầu và duy trì tình cảm của chúng tôi đến ngày hôm nay.

*

Năm tôi năm tuổi, lần đầu tiên thấy những thứ mà sau này tôi tự định nghĩa chúng là “thần” và “ma”. Cái đêm đó tác động đến tôi rất nhiều sau này, chỉ cần bất kì ai tưởng tượng ra cảnh bản thân khi lên năm tuổi nhìn thấy bóng ma của bố mờ dần mờ dần và một cô gái có vẻ ngoài ma mị đang ngồi khóc trước hiên nhà thì cũng đủ để thấy rõ ràng cuộc đời sau đêm đó đã sang trang mới.

Cô gái đó trẻ lắm, tôi có thể khẳng định, nhưng lại không dám chắc cô bao nhiêu tuổi, đến cả bây giờ cũng vậy. Có một cảm giác áp đảo bảo rằng cô ấy chẳng trẻ trung gì đâu, đối lập hoàn toàn với sự khẳng định kì quái hoàn toàn ngược lại của vẻ bề ngoài. Mái tóc cô dài một cách bất thường nhưng lại không tạo cảm giác nóng bức ngột ngạt ngay cả trong những ngày hè oi ả, mà thậm chí nhiều khi tôi có cảm giác những sợi tóc đang trôi nổi trên một lớp chất lỏng vô hình nào đó. Đôi mắt nho nhỏ với đuôi mắt dài và hàng lông mi dày tỏa ra một thứ ánh sáng cũ kĩ như những người đã phải trải qua quá nhiều chuyện trên cuộc đời, vui buồn ngấm sâu vào làm ánh nhìn xa xăm. Ngay cả trong lúc cười, chúng hít tịt lại, vẫn chẳng biết được đâu mới là điểm dừng thật sự.

Hôm đó không phải lần cuối cùng chúng tôi gặp mặt. Mà trong kí ức tuổi thơ của tôi, cô luôn luôn ở trong tình trạng ngấn nước mắt. Ngay cả cái đêm cô thò đuôi cáo của mình xuống để kéo tôi cùng thằng bạn đang chật vật lên bờ, tôi cũng thấy nước mắt cô lưng tròng.
Một lần, tôi bắt gặp cô đang ngồi trên bờ ao nhà tôi mà khóc nức nở. Ánh trăng tròn trịa tràn đầy từ bầu trời cao dải xuống mặt ao những gợn bạc lăn tăn, dát lên mái tóc đen tuyền những đường sáng óng ánh. Thấy tôi bước đến, cô vừa chùi vội nước mắt bằng ống tay áo rộng rinh vừa cười cười.

- Xin lỗi nhé! Chị lại như thế nữa rồi.

Hôm đó, tóc cô buông xõa xuống mặt nước, bộ trang phục vốn trắng tinh đã lấm lem bùn đất, có lẽ cô đi xuyên qua khu vườn. Năm ấy tôi mười tám tuổi, đã cao lớn và trưởng thành hơn rất nhiều so với hồi lên năm, còn cô thì vẫn vậy, thời gian hoàn toàn chẳng có một chút ảnh hưởng nào trên khuôn mặt xinh đẹp đó. Có chăng thì có lẽ là ở một nơi nào đó xa xăm trong đôi mắt của cô, ngày tháng đang chất chồng nỗi cô đơn. Tôi chỉ biết nở một nụ cười ruồi trước nó. Tuổi mười tám, tôi hiểu được nỗi cô đơn là gì, cảm giác cái ngày mẹ qua đời khi tôi mười sáu, vẫn đang còn hồn nhiên thơ dại, đột ngột mất đi người thân cuối cùng, cảm giác những bữa cơm một mình muốn khóc mà chẳng thể nào khóc được, cảm giác chia tay người bạn thân nhất lên đại học còn mình tiếp tục vùi mặt vào ruộng vườn.

Sau này cô nói, cô đã vì cái nụ cười hiền thương cảm của tôi năm đó mà dừng những cuộc du hành của mình.

- Cũng y như hồi trước!

Cô ấy lại xa xăm nhìn thật lâu về đâu đó trên bầu trời xanh trong chỉ có vài cụm mây lãng đãng tránh thật xa nhau, đổi hình đổi dạng để rồi lại tách thành nhiều mảng, như thể chúng chẳng thế nào yên ổn sống chung với nhau được.

Tôi gọi cô ấy là Hiên, chỉ đơn giản là chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên bên mái hiên nhà, và phải đặt tên là bởi tên của cô bằng ngôn ngữ của thần ma thực sự khó bắt chước.

Hiên ở lại nhà tôi từ đó, cũng không có gì là phiền hà cả, thêm một người để trò chuyện vào những đêm trăng sáng, thêm một người để cùng nhau ăn cơm, thêm một người để tạo cái không khí như thể tôi không còn cô đơn nữa, hay ít nhất thì không còn hoàn toàn như trước. Tôi có cảm giác mình ngày càng dựa dẫm vào cô như với một người mẹ thứ hai, mặc dù trông cô rất trẻ. Tôi chưa từng hỏi tuổi của cô, dù đó là một vị thần thì hỏi tuổi một người phụ nữ cũng thật bất lịch sự, nhưng có lẽ chính cô cũng chẳng nhớ rõ nữa. Tôi từng hỏi rất nhiều vị thần tuổi của họ, ông thần ở cây đa trong đình nhớ rõ vì đó là ngày đình bắt đầu được xây, người ta làm lễ cúng rước ông về; nhưng vị thần mèo (sau lần suýt dìm chết Hiệp đã bị các vị thần trưởng lão của làng rầy la, vả lại Hiệp cũng hứa sẽ dâng đồ cúng cho ông nên đã trở lại hiền hòa) thì chẳng thể nào nhớ được, chỉ giống như một còn người nhớ lại thời tuổi trẻ của họ, chỉ còn lại những kí ức lờ mờ về một giai đoạn nào đó mà ý thức bắt đầu được hình thành, còn cái thời nằm nôi bú mẹ thì hoàn toàn chẳng đọng lại gì.

Việc tôi coi Hiên như một người mẹ, thì chắc chắn không thể nào nói với cô được rồi. Đâu có ai có thể mở miệng nói với một cô gái trẻ măng điều đó được. Phụ nữ, dù sao cũng chẳng muốn bị coi là già, một ai đó đã nói với tôi như thế, có lẽ một vi ma trung niên nào đó. Vả lại, với Hiên, cô cũng có một thứ tình cảm khác với tôi, khác hơn rất nhiều so với tình mẫu tử. Cô ấy yêu tôi…

Các vị thần yêu theo kiểu của chính họ. Khi yêu cha tôi, Hiên chỉ dịu dàng âm thầm bên ông, cô chỉ yêu và đón nhận tình cảm của ông mà chẳng hề nghĩ đến việc giữ người ta lại cho riêng mình, cô vẫn mỉm cười khi ông vì áp lực của bố mẹ mà phải kết hôn, cô vẫn kiên nhẫn ở bên ngay cả khi ông có con và phải dành thật nhiều thời gian bên vợ con. Tôi đoán được điều đó qua những câu chuyện nhỏ Hiên kể về bố tôi, lúc nào cũng là một giọng nói dịu dàng, lúc nào cũng là một ánh mắt mênh mang, và cả khuôn mặt toát lên vẻ cam chịu. Nhưng với tôi, có lẽ đã khác, do cô đã không chấp nhận mối tình đầy mất mát với bố tôi sẽ lặp lại, hay là do tôi đã không còn người thân nào bên cạnh để tạo áp lực nữa?

Và năm tôi hai mười hai, cô đến ở nhà tôi như một người trong gia đình thực thụ. Bằng một cách nào đó mà tất cả hàng xóm, bạn bè thân thích đều coi như đó là chuyện đương nhiên khi thấy tôi bỗng có một người vợ hoàn toàn xa lạ với họ. Cứ mỗi lần gặp tôi ở đâu đó, đám trai cùng làng sẽ buông lời trêu chọc đại loại như tôi may mắn có được một cô vợ xinh đẹp, dịu hiền. Tôi hoàn toàn không phủ nhận Hiên rất đẹp, dù cho cô đã cắt ngắn mái tóc của mình để giống con người hơn, bỏ xuống bộ xiêm y lộng lẫy mà mặc những bộ đồ quê mùa, dù làn xa trắng phi thường của cô đã trở nên đen hơn cùng những buổi trưa làm đồng, cùng những bùn lấm. Chỉ có duy nhất một điều, tình cảm của tôi lại không như vậy…

Tôi không nói thẳng ra với Hiên, nhưng có lẽ cô hiểu. Nó thể hiện qua những đêm sáng trăng cô hay ngồi trên mái nhà ngắm thật lâu, bởi tôi không thể leo lên một cách dễ dàng được, nên có vẻ đó là một chốn riêng tư của cô, nơi cô đang mơ màng suy nghĩ điều gì đó mông lung và không hề muốn chia sẻ với bất kì ai, chỉ giữ chặt lấy nó trong lòng.

Và theo một cách nào đó, tôi cũng trở nên giống bố mình, công việc cuốn hút tôi một cách đáng ngạc nhiên. Những cánh đồng mời gọi với đủ thứ cỏ dại không ngừng làm tôi ngứa mắt, khu vườn mời gọi với đủ loại sâu bọ ăn dần ăn mòn đám rau mới lớn, những vị thần mời gọi với đủ những trò đùa tinh quái mỗi khi cảm thấy không khí nông thôn quá nhàm chán. Những lần tôi về nhà khi trời đã tối mịt, Hiên đang ngồi ngay đúng chỗ cô ngồi khi lần cuối thấy cái bóng ma của bố tôi tan dần vào trong không khí, và đôi mắt cô cũng chỉ hướng về đúng chỗ đó, không hề cố gắng tập trung vào bất kì điểm nào. Cảnh đó làm tôi nhớ đến mẹ, trong những kí ức ít ỏi còn lại hồi lên năm, tôi từng thấy mẹ đứng bên ngưỡng cửa dõi ra ngoài cổng, nơi mà tấm lưng của chồng mình khuất dạng mỗi sáng sớm. Tôi của năm năm tuổi chỉ biết nhìn mẹ mình chìm mãi chìm mãi trong cô độc; còn tôi của năm hai mươi hai tuổi, cười thật nhẹ như sợ khuấy động ánh đèn đường, cất tiếng gọi, cũng chỉ một cơn gió nhẹ đủ làm rung rinh chiếc lá nhỏ nhoi.

- Ăn cơm nào!

Việc khó khăn nhất trong cuộc hôn nhân bất ngờ này là Hiệp. Dường như cậu ấy, cũng như tất cả mọi người, nghĩ rằng chúng tôi không hề tổ chức hôn lễ mà chỉ đăng kí kết hôn rồi dọn đến sống cùng nhau. Cậu ấy bất ngờ trở về từ trường đại học dù chưa đến ngày nghỉ, xồng xộc chạy vào nhà giữa bữa cơm tối và lôi tôi đi, không nói một lời nào. Đôi mắt cậu ấy lạnh tanh như thép, nó cuồn cuộn đầy giông bão khiến tôi chẳng thể nói được gì, tôi chẳng biết nói gì. Chỉ biết nắm chặt đôi tay ấm áp và bước theo cái lực kéo phía trước dẫn lối, không một chút phản kháng, không một chút nghi hoặc.

Trăng đêm đó có hình bán nguyệt, không quá sáng chói đầy đặn, cũng không quá mong manh nhỏ bé, chỉ có mỗi cái sự hiếu kì là vẫn vậy. Ông cứ chằm chằm bám chặt lấy chúng tôi theo từng bước đi, lặng lẽ nhưng không hề giấu giếm. Ánh nhìn đó làm tôi lúng túng với biết bao câu hỏi nổ tung ầm ầm trong đầu.

- Như vậy là như thế nào?

Hiệp gay gắt hỏi, đôi mắt sắc bén nhìn tôi như đang lên án dữ dội một tên tội đồ. Tôi đã lúng túng, mà thậm chí còn không hiểu tại sao mình lúng túng, mọi thứ rất đơn giản kia mà, chỉ cần nói với cậu ấy thôi, cậu ấy biết về những bí mật của tôi, cậu ấy sẽ hiểu và chẳng có gì để phải lo lắng cả, chúng tôi lại vẫn như trước. Hiệp đáng được biết những điều đó, đáng nhận được một lời giải thích, tôi phải nói chứ… đúng không? Chỉ cần cười xòa một cái, hóa ra chỉ là một hiểu lầm bình thường của kẻ mang trong mình khả năng nhìn thấy những linh hồn siêu nhiên, huyễn tưởng mà thôi.

- Có gì đâu, mọi chuyện đột ngột quá, chưa kịp nói với mày thôi!

Vậy mà cuối cùng tôi lại nói như vậy, cười một nụ cười như đó là chuyện bình thường, chẳng đáng để bận tâm, chẳng đáng để giữ trong lòng. Mặc cho ngay sau sau đó cảm thấy hối hận, đôi mắt của Hiệp như đã rơi ngập xuống ao sâu, như ánh trăng chìm nghỉm dưới đáy giếng vẫn cứ trân trân như muốn bảo “đừng cười như vậy nữa!”, tôi vẫn lặng lẽ quay lưng trở về.

Hối hận cũng không khiến tôi quên đi được cái đôi mắt buồn của Hiên mỗi khi tôi lơ đãng nhớ tới một ai đó, mỗi khi tôi quên mất là có cô ấy ở bên mà lầm bầm về một ai đó. Cái đôi mắt thắt vào lòng khi nghĩ đến việc mẹ tôi đã đau đớn như thế nào khi bố chết, và sẽ còn đau đớn đến như thế nào nếu như phải công nhận rốt cuộc cả cuộc đời bà chỉ là một lời nói dối dài mà người đàn ông mình đã dành hết tình cảm buộc phải nói. Cái hụt hẫng, đổ vỡ khi xe máy chở Hiệp khuất dần sau bụi tre đầu làng để lên đường đến những chân trời xa xôi rộng lớn nào đó, còn tôi vẫn tiếp tục ở lại, bán rễ vào đất, dán lưng vào trời nơi làng quê lặng lẽ nhỏ bé. Nói cho cùng tôi đã không còn cô đơn nữa, Hiên cũng vậy. Còn Hiệp, cậu ấy sẽ tìm được một ai đó tốt hơn nơi đông đúc rộng lớn ngoài kia, có lẽ vậy!

Thành viên
Bút danh: 
Mật khẩu: 
Chọn lọc Xem hết »
A.S.H.E.S
Ngay từ lần đầu gặp gỡ, tôi đã nghĩ, Jaejoong thật giống tàn tro.
Trực tuyến
12 Khách, 0 Thành viên