Thỏa thuận sử dụng Liên hệ Thông tin bản quyền
Chúng trôi nổi trên những bài hát nổi tiếng của hè năm ấy, trên cả những quyển tiểu thuyết mà tôi đọc suốt và sau kì nghỉ với anh, trên cả mùi hương thảo trong những ngày nóng bức, và cả tiếng ve râm ran cuồng nhiệt lúc chiều hôm – những hương thơm và thanh âm đã chứng kiến tôi trưởng thành và thấu hiểu từng năm một của đời mình, giờ đây bất chợt làm tôi hứng khởi để chào đón những đổi thay vĩnh viễn được điểm tô bằng các sự kiện của mùa hè năm ấy.

Thể loại: Truyện Rating: T Hoàn thành: Không
Phân đoạn: 3 Độ dài: 15414 từ Đọc: 421 lần Phản hồi: 0 Yêu thích: 1
Đăng: 13 Oct 2017 Cập nhật: 29 Oct 2017

Phần 1: Nếu không phải lúc khác, thì khi nào? - 1 bởi Thousand_words
Call me by your name
Hãy gọi tôi bằng tên em

Dành tặng cho Albio
Linh hồn của đời tôi

Phần 1:
Nếu không phải lúc khác, thì khi nào?

Lúc khác!” Ngôn từ đó, giọng nói đó, thái độ đó.

Tôi chưa từng thấy người nào dùng từ “lúc khác” để chào tạm biệt trước đây. Nó thật khắc nghiệt, thô lỗ, và khinh khỉnh,như được nói ra bằng sự lãnh đạm ngấm ngầm của những người chẳng quan tâm đến việc gặp mặt hay nghe tin từ bạn lần nữa.

Đó là điều đầu tiên tôi nhớ về anh, và cho đến hôm nay tôi còn nghe thấy nó. Lúc khác!

Tôi nhắm mắt lại, nói ra từ đó, và tôi trở về Ý, rất nhiều năm trước, đi dọc theo con đường rợp bóng cây, ngắm nhìn anh bước ra từ tắc-xi, áo sơ mi xanh khói, cổ áo mở tung, kính râm, mũ rơm, da thịt hở lộ. Đột nhiên anh bắt tay tôi, đưa cho tôi túi đeo lưng, xách va-li ra khỏi thùng xe, hỏi cha tôi có ở nhà không.

Nó có lẽ đã bắt đầu ngay lúc đó, ở chính nơi đó: chiếc áo sơ-mi, cổ tay xắn tròn, mắt cá tròn trĩnh nhấp nhô ẩn hiện trong đôi giày mọi bạc màu, hứng phấn như muốn thử sức với con đường mòn nóng bỏng dẫn vào nhà chúng tôi, mỗi bước chân như đang kêu gọi, Đâu là con đường ra biển?

Khách mùa hè năm nay. Lần lữa chán chường.

Rồi, gần như chẳng suy nghĩ gì, khi anh đã quay lưng về chiếc xe, anh vẫy mui bàn tay còn trống và hô một tiếng vô thưởng vô phạt “Lúc khác!” với vị hành khách còn lại, có lẽ là chia tiền xe từ nhà ga. Chẳng thêm vào một cái tên, chẳng có tí hài hước để làm dịu đi sự xấu hổ của việc tạm biệt, chẳng có bất kỳ thứ gì. Cái từ tạm biệt anh dùng: gọn gàng, tự tin, cục cằn – bạn cứ chọn đi, ảnh chả thèm để ý.

Bạn thấy chưa, tôi đã nghĩ, đây là cách anh sẽ nói chia tay với chúng tôi khi đến lúc. Với một từ thô lỗ, chặt chém “Lúc khác!

Trong khi đó, chúng tôi buộc phải ở chung với anh trong sáu tuần liền.

Tôi gần như thấy sợ. Đây là một người không hữu hảo lắm.

Có lẽ tôi sẽ dần thích anh ấy. Từ chiếc cằm đầy đặn đến cái gót tròn trịa. Vậy mà, chỉ trong vài ngày, tôi đã thấy anh thật đáng ghét.

Chính anh, người đã có bức hình tỏa đầy sự thân thiện hứa hẹn trên đơn ứng tuyển vài tháng trước.

Đón khách vào mùa hè là cách mà cha mẹ tôi giúp đỡ những học giả trẻ khi họ biên tập lại bản thảo trước khi xuất bản. Cứ sáu tuần mỗi hè, tôi lại phải dọn ra khỏi phòng mình và chuyển vào một phòng nhỏ hơn nằm sâu trong hành lang từng thuộc về nội tôi. Trong suốt những tháng mùa đông, khi chúng tôi chuyển lên thành phố, nó trở thành một nhà kho dụng cụ tạm thời, và một gác xép mà có lời đồn rằng ông tôi, người mà tên tôi được đặt theo, vẫn còn ngậm chặt miệng trong giấc ngủ vĩnh hằng. Những vị khách mùa hè không phải chi trả gì hết, lại được phép sử dụng tất cả mọi thứ trong nhà, và gần như có thể làm bất cứ điều gì họ thích, đổi bằng việc giúp cha tôi chừng một giờ mỗi ngày với đống thư từ và giấy tờ tồn đọng. Họ trở thành một phần của gia đình, và rồi sau khoảng mười năm làm việc này, chúng tôi đã quen với núi bưu thiếp và quà tặng không chỉ vào lễ Giáng Sinh mà còn nguyên một năm dài từ những người đã thành tín đồ của nhà tôi, và mỗi khi có dịp đến Châu Âu chắc là sẽ lên kế hoạch một hai ngày ghé qua B. cùng gia đình để làm một vòng thăm thú cảnh xưa đầy hoài niệm.

Mỗi bữa ăn luôn có chừng hai ba người khách, thỉnh thoảng là hàng xóm với người thân, thỉnh thoảng là đồng nghiệp, luật sư, bác sĩ, những người giàu có và nổi tiếng ghé thăm cha tôi trên đường đi đến nhà nghỉ mùa hè của họ. Có khi chúng tôi cũng mở cửa phòng ăn để đón tiếp một cặp đôi du khách đã nghe về căn biệt thự cũ này và chỉ muốn ghé ngang và chỉ vào xem một tí và rồi hoàn toàn bị mê hoặc khi được mời dùng bữa với chúng tôi và kể cho chúng tôi về họ, trong khi dì Mafalda, tuy chỉ được báo vào phút cuối, dọn ra những món ăn đặc trưng của dì. Bố của tôi, tuy khá là nghiêm chỉnh và ngại ngùng trong những lúc riêng tư, chẳng ham thích gì hơn việc chuyện trò bằng vài thứ ngôn ngữ khác nhau với một chuyên gia đang trưởng thành trong ánh mặt trời mùa hè nóng bỏng, sau một vài ly rosatello, và bị dẫn dắt vào một cơn mê mang không tránh khỏi. Chúng tôi gọi việc này là lao động ở bữa ăn – và sau một thời gian, các vị khách sáu tuần của chúng tôi cũng gọi theo.


Có lẽ bắt đầu ngay từ sau khi anh dọn đến, trong một bữa trưa đầy tiếng cười, khi anh ngồi kề bên và lòng tôi như có ánh nắng mai, cái nắng tặng anh làn da rám trong kỳ nghỉ ngắn hạn ở Sicily đầu hè, bỏ lại lòng bàn tay cũng như lớp da bên dưới lòng chân, bên dưới cằm, bên dưới tay, những nơi mà ánh trời chẳng chạm vào được, một chất màu nhạt, mềm. Thứ màu gần như hồng nhạt, nhấp nhánh mượt mà như lớp da bụng của một con thằn lằn. Tư mật, tinh khôi, thơ ngây, như làn ửng đỏ trên má vận động viên, như tia nắng mai bất ngờ sau một đêm giông bão. Nó thầm thì những điều mà tôi chưa từng hiểu thấu.

Nó cũng có thể là những trưa bất tận khi mọi người thư giãn trong những chiếc quần bơi từ phòng ra vườn, cơ thể lấp ló khắp nơi, giết thời gian trước khi một ai đó cuối cùng gợi ý chúng tôi nên đi xuống bờ biển để bơi một chút. Thân thích, họ hàng, chòm xóm, bạn bè, bạn của bạn, đồng nghiệp, hoặc bất kỳ ai đủ rảnh rỗi để gõ cửa hỏi mượn dùng sân tennis – tất cả đều được chào đón để thư giãn và bơi lội và ăn uống và nếu họ ở lại khá lâu, có thể dùng cả phòng khách.


Hoặc nó bắt đầu ở bãi biển. Hoặc ở sân banh. Hoặc là trong buổi đi dạo chung ngay ngày đầu tiên khi tôi được yêu cầu dẫn anh đi xem nhà và những khu vực lân cận và, thứ này dẫn đến thứ khác, tôi dắt anh xuyên qua cánh cổng bằng sắt rèn khi ở xa phía sau là khu đất hoang mênh mông trải rộng đến những đường ray từng nối liền B. đến N. “Ở đây có một nhà ga bỏ hoang nào không?” anh hỏi, ngắm nghía qua tàng cây bên dưới mặt trời bỏng cháy, làm ra vẻ cố gắng trò chuyện với con trai chủ nhà. “Không, chưa từng có nhà ga nào ở đây. Mình yêu cầu thì tàu ghé lại, đơn giản thế thôi.” Anh thắc mắc về chiếc xe lửa, đường ray trông có vẻ quá hẹp. Nó là một con tàu hai toa mang theo huy hiệu hoàng gia, tôi giải thích. Những người du mục đang sống trong nó. Họ đã sống ở đó từ hồi mẹ em còn nghỉ hè ở đây lúc nhỏ. Mấy người du mục đã mang hai toa tàu hỏng ấy vào sâu trong kia. Anh có muốn xem chúng không? “Lúc khác. Có lẽ thế.” Sự lãnh đạm nhã nhặn như thể anh đã chú ý đến sự sốt sắng thiếu chừng mực của tôi và quyết định tránh né một chút.

Nhưng tôi thấy nhói.

Tuy vậy, anh nói anh muốn ở một tài khoản ngân hàng ở B., rồi đến thăm biên dịch tiếng Ý do nhà xuất bản ở đây giới thiệu cho anh.

Tôi quyết định dẫn anh đến đó bằng xe đạp.

Cuộc trò chuyện không trở nên tốt hơn dù là trên xe hay đi bộ. Dọc đường, chúng tôi dừng lại để uống nước. Cái quán nước tiện lợi vừa vắng vừa tối. Người chủ thì đang lau sàn với thứ nước rửa có mùi khai rất mạnh. Chúng tôi vội đi ra ngoài ngay khi có thể. Một con chim sáo cô đơn, ngồi trên nhành thông Địa Trung Hải, hót một vài nốt rồi bị nhấn chìm trong tiếng râm ran của ve sầu.

Tôi làm một ngụm đầy và dài từ chai nước suối to, rồi đưa cho anh, rồi lại uống một lần nữa. Tôi đổ ít nước lên tay rồi đắp lên mặt, vuốt những ngón tay ướt át lên tóc. Nước không đủ lạnh, không đủ ga, bỏ lại cảm giác như thể cơn khát chưa được thỏa mãn.

Người ta hay làm gì ở đây?

Chẳng làm gì cả. Đợi cho mùa hè kết thúc.

Thế người ta làm gì vào mùa đông?

Tôi cười với câu trả lời sắp thốt ra. Anh nhận ra trọng điểm và nói, “Đừng nói với anh là: chờ cho mùa hè đến chứ?”

Tôi thích có người đọc vị được tôi. Anh sẽ xài từ lao động ở bữa ăn sớm hơn những người trước đây.

“Thật ra, mùa đông ở đây khá là tối và chán. Bọn em thường chỉ đến ở vào dịp Giáng Sinh. Những lúc khác, nơi này là một thị trấn ma.”

“Và còn có gì khác mà em thường làm ở đây bên cạnh nướng hạt dẻ và uống rượu kem trứng?”

Anh đang ghẹo tôi. Tôi nở nụ cười giống như lúc trước. Anh hiểu, chẳng nói gì nữa, rồi chúng tôi phá lên cười.

Anh hỏi những gì tôi hay làm. Tôi chơi tennis. Bơi lội. Đi chơi vào buổi tối. Chạy bộ. Chuyển nhạc. Đọc.

Anh bảo anh cũng hay chạy bộ. Sáng sớm. Có nơi nào để chạy bộ ở đây sao? Thường là dọc theo bờ kè. Em có thể chỉ nếu anh muốn.

Rồi nó lại bật vào mặt tôi ngay khi tôi mới lại thấy thích anh: “Lúc khác, có lẽ vậy.”

Tôi đã đặt việc đọc vào cuối danh sách, nghĩ rằng, với thái độ lạnh lùng, cứng nhắc mà anh thể hiện, đọc chắc cũng nằm cuối trong danh sách của anh. Một vài giờ sau, khi tôi nhớ lại anh vừa mới đọc xong một quyển sách về Heraclitus và và rằng “việc đọc” không hề là một phần quan trọng trong cuộc sống của anh, tôi nhận ra tôi thật sự cần một màn trở lại đầy ấn tượng và nói cho anh biết rằng những hứng thú thật sự của tôi giống y như anh. Điều làm tôi bối rối, không phải là những bước di chuyển ngoạn mục cần thiết để cứu chuộc bản thân. Mà là sự ngờ ngợ xa lạ mà cuối cùng tôi đã sáng tỏ, ngay từ trước và trong suốt cuộc trò chuyện bên đường ray, dù không hề thừa nhận, dù không hề tỏ vẻ, tôi làm tất cả chỉ để cố gắng – và thất bại – khiến cho anh thích.

Tôi ngỏ lời – bởi vì tất cả các vị khách đều thích ý tưởng này – dẫn anh đến San Giacomo và leo lên đỉnh của ngọn tháp chuông mà chúng tôi đặt biệt danh là Nơi-để-chết, tôi có lẽ đã nghĩ tốt nhất là chỉ đứng im nơi ấy mà không cần trở lại. Tôi đã nghĩ mình đơn giản là mang anh đi xem xung quanh bằng cách dẫn anh đến đó và để cho anh thưởng lãm toàn cảnh của thị trấn, của biển rộng, của sự bất biến. Nhưng không. Lúc khác!


Nhưng có lẽ nó bắt đầu muộn hơn nhiều mà tôi chẳng hề phát giác gì. Bạn gặp một người, nhưng bạn chẳng nhận ra sự tồn tại của người ấy dù rằng anh ta lúc nào cũng ở đó. Hoặc là bạn chú ý tới anh, nhưng chẳng có "điện giật", cũng chẳng có "lửa gần", và rồi trước khi bạn nhận ra sự hiện hữu ấy, hay đúng hơn là một điều gì đó khiến lòng bạn không ngừng dậy sóng, sáu tuần dành cho bạn đã trôi qua và anh ta hoặc là đã rời đi hoặc là đang chuẩn bị, và rồi bạn run rẩy nhận ra một thứ, mà bạn không ngờ, đã được ủ ấp ngay dưới mũi bạn và chứa đầy những dấu hiệu của một điều mà bạn bị đành phải gọi là Tôi muốn. Sau mà tôi có thể không biết gì cả, bạn hỏi vậy phải không? Tôi biết đâuc là khao khát khi tôi thấy chúng – mà lần này, nó đã gần như lướt qua. Tôi thì cứ bị hút vào nụ cười mỉm tựa hồ khiến mặt anh tỏa bừng mỗi khi anh đọc vị tôi, trong khi điều mà tôi muốn là da thịt, chỉ da và thịt.

Trong bữa tối vào ngày thứ ba, tôi cảm thấy anh như đang ngắm nhìn khi tôi diễn giải Bảy Lời Cuối Cùng Của Chúa viết bởi Haydn, bản hòa tấu mà tôi đang chuyển tác. Năm ấy, tôi mới mười bảy tuổi, là người trẻ nhất trên bàn và ít khi được lắng nghe, tôi đã hình thành thói quen kiệm lời và cố chỉ dùng một ít từ để chuyển tải một lượng lớn nội dung. Tôi nói nhanh, khiến cho người ta có ấn tượng là những lời tôi nói lúc nào cũng vội vã và thầm thì. Sau khi tôi đã diễn tả xong bản dịch của mình, tôi dần nhận ra một ánh nhìn xoáy đầy hứng thú từ phía trái tôi. Ánh nhìn vừa hừng hực vừa nịnh nọt; anh rõ ràng thích thú – anh thích tôi. Đến cùng thì điều đó cũng chẳng là quá khó. Nhưng sau một hồi lẳng lặng, tôi xoay mặt nhìn anh và đón lấy ánh mắt ấy, tôi chỉ gặp một cái liếc lạnh lẽo và băng giá – thứ từng một lần đối diện và kết tinh nơi ranh giới của cái ác.

Nó hoàn toàn làm tôi mất hứng. Tôi đã làm gì để phải chịu đựng điều này? Tôi chỉ muốn anh lại tốt với tôi, lại cười với tôi như anh từng làm chỉ vài ngày trước ở bên đường ray bỏ hoang, hay cũng chiều đó khi tôi giải thích cho anh B. là thị trấn duy nhất ở Ý mà chuyến corriera, một chuyến xe đò trong vùng, mang theo tượng Chúa, chạy ngang mà chẳng đoái hoài dừng lại. Anh lập tức cười phá lên và nhận ra sự gợi nhớ ẩn nấp về quyển sách của Carlo Levi. Tôi đã thích cách mà suy nghĩ của chúng tôi như đang di chuyển sóng đôi, như cách mà chúng tôi đoán ra tức thì những chơi đùa ngôn ngữ của người đối diện mà đến phút cuối thì lại không nói thành lời.

Anh sẽ là một người hàng xóm khó chịu. Tốt nhất là nên tránh xa anh ta, tôi nghĩ. Chỉ nghĩ đến việc tôi đã hầu như mê mẩn làn da của bàn tay ấy, của bờ ngực ấy, của đôi bàn chân chẳng hề chạm vào một bề mặt cứng rắn nào từ khi sinh ra – và đôi mắt anh, mà, khi những cái nhìn khác hơn, âu yếm hơn chạm vào bạn, bung nở như điều huyền diệu của sự Phục sinh. Bạn chưa bao giờ có thể đắm chìm đủ lâu trong ánh nhìn ấy nhưng lúc nào cũng phải tiếp tục quay lại để tìm ra lý do tại sao bạn lại không thể thoát ra.

Tôi phải bắn lại anh một ánh nhìn sắc bén tương tự.

Trong hai ngày, những đoạn đối thoại của cả hai đột nhiên dừng lại.

Trên cái ban công dài chúng tôi chia sẻ, hoàn toàn xa lạ: chỉ là trao đổi vài từ chào, buổi sáng tốt, thời tiết đẹp nhỉ, hời hợt linh tinh.

Rồi, chẳng hề được giải thích, mọi thứ lại phục hồi.

Anh có muốn chạy bộ sáng này không à? Không hẳn. À, hay là ta đi bơi đi.
Hôm nay, niềm đau, nỗi kiêu khích, hứng khởi mà một khuôn mặt mới mang đến, lời hứa của hạnh phúc ngập tràn như lơ lửng trong tầm tay với, sự lúng túng bên cạnh những người mà tôi không hiểu và vì không muốn thất bại nên phải suy đi nghĩ lại mỗi một hành vi cử chỉ, sự khôn khéo tuyệt vọng của tôi dành cho những người mà mình thèm khát và chờ mong sự đáp trả, những tấm ngăn được dựng lên giữa tôi và thế giới đã không còn là duy nhất mà là từng lớp từng lan cửa kéo, sự thôi thúc như bối rối như bình tĩnh để giải đọc những điều chưa từng có hình hài – tất cả những điều này bắt đầu từ mùa hè mà Oliver bước vào nhà chúng tôi. Chúng trôi nổi trên những bài hát nổi tiếng của hè năm ấy, trên cả những quyển tiểu thuyết mà tôi đọc suốt và sau kì nghỉ với anh, trên cả mùi hương thảo trong những ngày nóng bức, và cả tiếng ve râm ran cuồng nhiệt lúc chiều hôm – những hương thơm và thanh âm đã chứng kiến tôi trưởng thành và thấu hiểu từng năm một của đời mình, giờ đây bất chợt làm tôi hứng khởi để chào đón những đổi thay vĩnh viễn được điểm tô bằng các sự kiện của mùa hè năm ấy.


Hoặc có lẽ nó bắt đầu ngay ở tuần đầu tiên, khi tôi vui mừng biết anh vẫn còn nhớ tôi là ai, rằng anh không phải là không chú ý tôi, và rằng, dù là, tôi đã có thể thưởng cho mình sự sang chảnh của việc đi ngang anh trong vườn và không cần cố tình tỏ ra không thấy anh. Chúng tôi đã chạy bộ vào buổi sáng đầu tiên – mãi đến tận B. rồi quay lại. Sớm ngày kế tiếp, chúng tôi bơi. Rồi, ngày sau đó, chúng tôi lại chạy bộ. Tôi thích chạy đua theo chiếc xe chở sữa từ lúc nó còn chưa phát xong đống hàng, hoặc là đua theo cô tạp hóa và bác thợ bánh khi họ chuẩn bị mở cửa, tôi cũng thích chạy dọc theo bờ biển hay bờ kè khi mà chưa có ai và ngôi nhà chúng tôi như một ảo ảnh xa xôi. Tôi đã thích cách mà chân chúng tôi chạy đều nhịp, trái với trái, dẫm lên mặt đất cùng một lúc, để lại những dấu chân trên bờ biển mà tôi ước mình đã quay về và, trong bí mật, đặt chân mình lên dấu vết mà anh để lại.

Sự thay đổi luân phiên giữa chạy và bơi đơn giản chỉ là một “thói quen” của anh ở trường học. Anh cũng chạy trong cả ngày Sabbath à? Tôi đùa. Anh lúc nào cũng tập luyện, thậm chí cả khi anh bị bệnh, anh sẽ rèn luyện cả trên giường, nếu cần. Đến nỗi, ngay khi vừa ngủ với một người tình mới vào đêm hôm trước, ngay sớm hôm sau anh vẫn sẽ bước ra ngoài cho một buổi chạy bộ. Lần duy nhất mà anh không tập luyện là khi mà anh phải phẩu thuật. Khi tôi hỏi anh phẩu thuật cái gì, câu trả lời cho câu hỏi mà tôi thề là chưa từng có ý khiêu khích gì bật lại như thằng-hề-trong-hộp mang theo một cái mỉa mai khinh khỉnh. “Lúc khác

Có lẽ anh đã chẳng thở nổi, và chẳng buồn nói thêm gì nhiều hoặc là chỉ muốn tập trung vào việc bơi hay việc chạy. Hoặc có lẽ nó là cách anh kích thích để tôi phải làm điều tương tự - hoàn toàn vô hại.

Nhưng có một điều gì lạnh lẽo và tức tối một lần lại một lần hiện ra đột ngột, luồn lách vào giữa chúng tôi trong những khoảnh khách không ngờ. Như thể là anh đang làm điều đó với chủ đích; mớm cho tôi mồi, rồi thêm mồi, rồi lật đổ bất kỳ sự xây đắp nào của tình hữu nghị.

Cái nhìn sắt đá ấy luôn quay lại. Một ngày, khi tôi đang chơi guitar ở nơi mà được xem như là “thư phòng của tôi” trong khu vườn sau nhà, cạnh bên hồ bơi và anh đang nằm kề bên trên bãi cỏ, tôi nhận ra ánh mắt ấy ngay. Anh đã ngắm tôi được một lúc khi tôi đang tập trung vào bàn phím, và khi tôi bất ngờ ngẩng mặt để xem anh ấy có thích những gì tôi đang chơi, và lại là nó: bén nhọn, độc địa, như thể lưỡi dao sắc lẻm lập tức bị dấu đi ngay thời khắc mà con mồi vừa nhìn thấy nó. Anh nở một nụ cười nhợt nhạt, như thể ý nói, Chả cần gì phải giấu cả.

Tránh xa anh ấy ra.

Anh, chắc là chú ý đến sự run rẩy của tôi và cố gắng để xoa dịu, bắt đầu đặt những câu hỏi về đàn guitar. Tôi lúc này đã xù lông lên nên chả màng trả lời anh với sự cởi mở. Có lẽ nghe tôi bối rối trả lời khiến anh nghi ngờ có gì đó không đúng với những điều mà tôi đang diễn tả. “Không cần giải thích nữa đâu. Chơi lại lần nữa đi.” Nhưng tôi đã nghĩ là anh không thích nó. Không thích? Điều gì khiến em nghĩ vậy? Chúng tôi cãi tới cãi lui. “Chơi lại một lần nữa, được không em?” “Bản nhạc vừa nãy?" “Bản vừa nãy.”

Tôi đứng dậy và đi vào trong phòng khách, bỏ cái cửa sổ kiểu Pháp mở toang để anh có thể nghe tiếng tôi chơi dương cầm. Anh đi theo tôi nửa đường và rồi dựa vào khung cửa sổ bằng gỗ, lắng nghe một lúc.

“Em đã đổi gì đó. Không hề giống. Em đã làm gì thế?”

“Em vừa đàn theo cách Liszt sẽ phân tách và chơi đùa với bản nhạc này.”

“Đàn lại một lần nữa đi!”

Tôi thích cách anh giả vờ tức giận. Cho nên tôi bắt đầu chơi lại bản nhạc ấy.

Sau một hồi: “Anh không thể tin là em lại chơi khác đi lần nữa.”

“À, không thay đổi gì nhiều đâu. Busoni sẽ đàn thế này nếu ông ấy ngẫu hứng một tí trên phiên bản của Liszt.”

“Em không thể đàn Bach theo cách mà Bach đã viết sao?”

“Nhưng Bach chưa từng viết bản nhạc này cho guitar. Ông ấy có thể chưa từng viết cho cả đàn harpsichord. Nói trắng ra, chúng ta cũng không rõ là Bach có phải là tác giả của bản nhạc này hay không.”

“Thôi quên điều anh vừa nói đi.”

“Okay, okay. Không cần phải tức giận như vậy,” Tôi nói. Đây là lúc tôi giả vờ miễn cưỡng nghe lời. “Sau đây là Bach được diễn đạt bởi chính em và không có Busoni hay Liszt. Đây là một Bach trẻ trung và bản nhạc là một món quà cho anh của cậu ấy.”

Tôi biết chính xác đoạn nào trong bản nhạc đã làm anh xao động ngay lúc ban đầu, và mỗi lần tôi chơi đến đấy, tôi gửi nó cho anh như một món quà bé nhó, bởi vì nó thật sự là dành riêng cho anh, như minh chứng cho một điều tuyệt đẹp trong tôi mà chẳng cần phải là thông thái cũng có thể nhận ra, điều đã thúc giục tôi phải đàn một bản hứng tác dài. Chỉ dành cho anh.

Chúng tôi đang – và có lẽ anh đã nhận ra những dấu hiệu ấy trước cả tôi một thời gian dài – tán tỉnh.

Thành viên
Bút danh: 
Mật khẩu: 
Chọn lọc Xem hết »
Bên kia có màu ánh sáng
Câm lặng trả lời tiếng gọi của cậu. Chết chóc đóng băng hơi thở của cậu. Những vệt ai oán loang dần trên mặt đất. Những vết dao lửa cứa nát bầu trời.Bầu trời đó đã từng là màu xanh.
Trực tuyến
11 Khách, 1 Thành viên
Lillian