Thỏa thuận sử dụng Liên hệ Thông tin bản quyền
Ngôi làng của em, mê cung của em
Ngôi làng của tôi, cuộc đời của tôi

Thể loại: Truyện > One-Shot Rating: K Hoàn thành:
Phân đoạn: 1 Độ dài: 6456 từ Đọc: 78 lần Phản hồi: 0 Yêu thích: 0
Đăng: 30 Nov 2017 Cập nhật: 22 Dec 2017

Mê cung của em bởi minhngoc6868
Mê cung của em


Tác giả: Minh Ngọc

Thể loại: tình cảm

Rating:K





1.

Theo lịch âm năm nay nhuận hai tháng sáu, vậy mà nắng chẳng thấy đâu. Mưa đổ xuống liên hồi kỳ trận, mưa khiến người ta quên khuấy đi mất cái nóng rát bỏng của mùa hè. Trừ vài ngày tạnh mây khô ráo, còn lại trời đổ nước suốt tháng sáu sinh đôi.

“Thời tiết Hà Nội ngày càng kỳ quặc thật đấy.”

Cô tựa đầu vào cửa kính ô tô, nhướn mày nhìn ra ngoài bầu trời đang sậm sịt mây đen. Tôi bật cần gạt nước, nước mưa bắt đầu rơi lộp cộp trên nắp xe và mặt kính.

“Thì đấy. Mùa đông không còn gió bấc lạnh, mùa hè thì đổ mưa suốt chẳng thấy mặt trời. Vài năm gần đây bốn mùa như đã trộn khuấy vào với nhau.”

“Nghe có vẻ nấu thành một nồi chè thập cẩm rồi nhỉ.”

Cô cười, đoạn bảo thèm ăn chè ở Hàng Cân quá, còn muốn tạt qua Lê Văn Hưu nếm thử món bún chả Tổng Thống nữa. Sau đấy vào Tạ Hiển uống bia hơi hay muốn đi đâu đó thì tùy. Tôi đơn giản là gật đầu với tất cả ý muốn của cô thôi. Vừa đón bạn mình tại sân bay Nội Bài, nhưng chúng tôi chỉ có tám tiếng gặp nhau để rồi chia tay, chỉ có tám tiếng đồng hồ ngắn ngủi để cùng kịp nếm Hà Nội trên đầu môi chóp lưỡi thôi, cô tiếc rẻ. Rồi sau đấy quay lại phi trường, lên máy bay, ngủ một giấc tạm bợ, rồi thức dậy lúc ban đêm tại một đất nước khác, một múi giờ khác.

Mối quan hệ giữa tôi và cô là gì, nhiều thời điểm khó mà cắt nghĩa. Chúng tôi quen nhau từ thời xa xưa. Vốn dĩ ban đầu kết làm bạn thân, rồi dấn một bước thành người tình, lại quay trở về làm bạn bè nhưng rồi vẫn quay cuồng nhảy vào tình ái một lần nữa, và cuối cùng là chia ly, cách xa, trong khoảng hẹp vừa đủ của tình bạn. Tuy vậy, dẫu cho có ngủ cùng nhau hay chẳng còn ham muốn nữa, hay dù mười năm đã lướt qua, đôi bên vẫn giữ được trạng thái tình cảm khăng khít, chúng tôi vẫn giữ liên lạc và thấu hiểu nhau sâu sắc, thấu hiểu cả những mật hiệu riêng thay cho muôn lời cần biểu đạt.

Tựu chung, số phận đã tung hứng bỡn cợt chúng tôi như đôi viên xúc xắc nảy lên nảy xuống trên mặt đĩa vậy.

Tôi sinh ra tại một thị trấn nhỏ ở huyện Từ Liêm, còn cô là di dân từ miền quê phía cực Tây thành phố. Tôi không biết nhiều về chốn quê ấy, và hầu như cô cũng chẳng đề cập đến bao giờ. Cô háo hức với vùng đất mới, bạn bè mới, cùng với trí tò mò của tôi, thành thứ xúc tác bí ẩn gắn kết đôi bên thân thiết ngay từ những ngày đầu. Yêu nhau vào khoảng cuối năm cấp ba, chúng tôi lén lút tương tư tại những nơi bí mật – do chúng tôi tự lên danh sách, thế nên cả gia đình lẫn thầy cô, bạn bè không tài nào biết được. Khi ấy, tôi muốn cùng cô về miền quê cũ, như một phần của bản danh sách, song cô lắc đầu. “Đấy chỉ là một vùng nông thôn chán ngắt tẻ nhạt. Tớ chẳng muốn quay lại đó nữa đâu.” Cô nhún vai, ”Giờ thị trấn này mới chính là quê nhà của tớ.”

Mặc dầu vậy đến năm lớp mười hai, sức ép thi cử, áp lực vào đại học đè nặng lên vai, mối tình non tơ ấy tự nhiên nhạt dần rồi tan biến như bong bóng. Tuy thế, sợi chỉ mành quấn giữa hai cổ chân vẫn chưa đứt vào lúc đấy. Chúng tôi cùng thi đỗ Khoa Báo chí, cùng một trường đại học, thậm chí học chung một giảng đường năm đầu tiên. Thời điểm đó, tôi đã thành một chàng trai và cô đã là một thiếu nữ trưởng thành. Cả hai tiếp tục hiến thân vào ái tình, như mặt trăng trầm mình giữa hồ nước sâu vậy. Rốt cuộc vẫn dở dang, chẳng đâu vào đâu, lại vỡ tan tành. Nhận học bổng sang châu u du học, cô cách một quãng hơn tám ngàn cây số đường chim bay so với tôi, ở lại và mãi an phận tại đất Thủ đô này cho tới tận bây giờ. Cũng như mọi mối tình không thể đơm hoa kết trái khác, nó đã tự nhiên rơi xuống đất mà vỡ.

Ở nước ngoài, cô tiếp tục học và theo đuổi nghề báo. Trong quá trình thực tập viết ra nhiều bài sắc sảo, rồi được nhận vào một hãng thông cỡ bự của EU, cô vốn ưu thích dịch chuyển, chẳng bao giờ muốn ngồi yên một chỗ, xách ba lô và máy ảnh lên cô trở thành phóng viên chiến trường, đi đến khắp các vùng chiến sự tại Trung Đông, Đông u, Đông Nam Á. Nếu ví cuộc đời rắc bay chúng tôi đi như những giống cỏ cây, cô là loài bồ công anh lang thang theo gió, còn tôi là hạt thông rơi chìm xuống mặt đất, mặc nhiên nằm một chỗ dưới cánh rừng. Hiện tại tôi đang làm giáo viên dạy toán trung học, còn thêm được món nghề viết truyện ngắn đăng nhật báo. Nhìn chung là ngước nhìn lên vẫn thấy không khí để thở và mặt trời trên đỉnh đầu.

Lái xe đến mạn rìa trung tâm thành phố, đài radio thông báo nội thành đang ngập nặng. Hà Nội quả nhiên vẫn là... Hà Lội. Hồ Hoàn Kiếm nước đã tràn bờ, còn chỗ Phố Cổ giờ đã thành sông. Tình hình là xe không cách nào tiến vào được, các dự định ban đầu đều đã theo nước mưa cuốn tuột. Chúng tôi quay đầu xe lên đê Nguyễn Khoái. Hay là mình vào tạm một siêu thị tiện lợi ven đường đi, cô bảo. Tôi gật đầu, sao cũng được.

Chúng tôi bước vào trong siêu thị. Mưa lớn nên không có khách, ngoài hai chúng tôi ra chỉ còn duy nhất một nhân viên ở lại. Người nhân viên gật đầu chào khách xong rồi thì bước đi đâu mất, để chúng tôi tự do giữa những gian hàng. Trên đầu, màn hình ti vi đang xèn xẹt chuyển kênh truyền hình, tín hiệu chuyển đến từ chiếc điều khiển ở cõi xa xôi nào đó.
Tôi cùng người bạn của mình hài lòng với cà phê ướp lạnh. Hai người uống ba lon cà phê. Hàng ghế ngồi hướng ra trời mưa dào dạt ngoài tấm kính, cả hai chuyện trò vu vơ.

“Này, cậu L dạo này sao rồi?”

“Cũng khá ổn. Gã đang làm cho một hãng quảng cáo, chế ra mấy cái quảng cáo bột giặt nhảm nhí tệ hại. Cũng chẳng bất ngờ.”

“Ừ, cũng chả bất ngờ. Mà giờ đường chỗ khu mình chắc ngon lành rồi nhỉ?”

“Chẳng hề. Được đôi ba năm rồi tắc lại hoàn tắc. Người ta quây bùng binh ngay giữa đường để làm đường sắt trên cao.”

“Được cái mưa thế này chẳng ngập bao giờ.”

“Thì ngập sao được. Ở trên đê mà.”

“Ờ, chỗ đấy mà ngập Hà Nội có mà thành Venice.”

Hai chúng tôi lại uống thêm vài ngụm, ba lon cà phê cạn dần dần. Những câu chuyện vân vân mây mây. Cô thấy tò mò với món mỳ cốc Hảo Hảo. Chúng tôi nếm thử xem vị của chúng thế nào. Kết thúc với món thạch dừa ăn liền, vậy là xong bữa tối.

“Cậu vẫn viết truyện ngắn đều đấy chứ?”

“Tớ vẫn cho ra lò đều đều thôi. Cũng xuất bản được hai tập truyện. Nhận được kha khá nhận xét, toàn mấy lời đánh giá nước đôi sáo mòn từ giới phê bình, đại loại như: hàm chứa trải nghiệm hiện sinh lý thú hay từ bờ bên này đã chớm thấy bờ bên kia, kiểu như vậy.”

“Nghe như là đáng ra đi ăn chè Bốn Mùa và bún chả Obama, nhưng rồi lại phải chui vào siêu thị tiện lợi thưởng thức mỳ cốc, quả thực hàm chứa trải nghiệm hiện sinh lý thú.”

“Và mấy miếng gia-vị-thịt-bò trong cốc mỳ cũng từ bờ bên này đã chớm thấy hương-thịt-bò bờ bên kia.”

Chúng tôi cùng bật cười. Thế gian ngoài kia vẫn mịt mù trong màn nước trắng. Cô giở túi xách, đưa tôi xem mấy tấm hình gia đình, thứ cô luôn mang bên mình dẫu cho tới bất kỳ nơi đâu. Anh chàng may mắn ấy có mái tóc vàng và đôi mắt xanh lục, ba đứa con lai Á u sở hữu vẻ đẹp thiên thần. Tôi nhìn từng tấm hình một, mỗi tấm ba lần. Rồi trả lại cho cô.

“Chà, mười năm rồi nhỉ.”

“Ừ, cũng mười năm rồi. Mười năm qua, cậu cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống của mình chứ?”

Ngón tay cô vuốt vuốt lên những bức ảnh. Ánh mắt hơi nghiêng về góc bên trái, cô chậm rãi trả lời.

“Cũng không hẳn, đôi lúc tớ cảm thấy thật mệt mỏi. Dự định vài tháng nữa tớ sẽ nghỉ việc. Dành thời gian nghỉ ngơi. Kinh tế của gia đình tớ cũng tương đối ổn, nên cả nhà có thể đi du lịch vòng quanh thế giới một thời gian cũng chẳng vấn đề gì.”

“Lại tiếp tục rong ruổi những cung đường mới?”

“Có vẻ vậy, con người tớ giống như biểu tượng của sự dịch chuyển nhỉ?”

Cô mỉm cười. Tôi gật đầu, hoàn toàn không thể phủ nhận.

“Trong một truyện ngắn của cậu tớ đã đọc, cậu viết về một con ngựa hoang bị đánh rơi mất bờm. Một con ngựa không thể thành con ngựa nếu không có bờm, thế nên nó phải chạy đi tìm cái của nó. Chạy rong ruổi, chạy khắp các thảo nguyên, chạy khắp các đô thành để tìm cái bờm đã mất. Vậy tác giả, kết cuộc con ngựa có thể tìm thấy bờm của mình không?”

“Tớ không biết nữa. Bởi trong truyện ấy, tớ đặt mình ứng với số phận của “cái bờm” hơn là “con ngựa”.”

Cô bỗng nhiên nhoài người xuống mặt bàn. Phần vải trước ngực hơi căng ra tại điểm tiếp xúc với thành bàn, lớp áo ngực lằn lên dưới mạn sườn và trên tấm lưng. Xoay khuôn mặt mình gối lên cánh tay, cô khoan thai nhìn sang tôi.

“Tớ đã đọc truyện kia của cậu rồi.”

“Truyện kia là truyện nào vậy?”

“Truyện “Mê cung của em” ấy.”


2.

Ngôi làng của em, mê cung của em!

Mười năm về trước, tôi hai mươi hai tuổi, nhếch nhác và râu ria đầy mồm. Vẫn nhảy lò cò chênh vênh giữa hiện thực cuộc đời. Học hành, hò hẹn, rồi lại làm tình. Cuộc sống tuổi trẻ cứ như cơn ngủ mê mà chẳng sợ ai đánh thức mình dậy lúc bình minh.

Cơn chếnh choáng tối hôm trước có thể do bia gây ra, mặc dầu vốn dĩ tôi chẳng phải người uống nhiều. Hay chăng mây mưa xuyên đêm đã tạo nên những giục giã ảo giác? Tôi rời khỏi nhà từ lúc rạng đông, một mình tìm về miền quê cũ xa xôi đó.

Nơi ấy là vùng quê nông thôn, đơn thuần như bao miền quê Trung du Bắc Bộ. Một ngôi làng cổ, là di tích lịch sử được xếp hạng, kinh tế hướng theo du lịch hơn là nghề nông. Tôi mua vé ở cổng và bước vào. Chào đón tôi đương nhiên là em, trong bầu quang cảnh đồng quê tươi mát êm đềm.

“Chào mừng anh đến với ngôi làng nhỏ của em. Mê cung của em.”

Em còn quá trẻ. Lời nói mang giọng địa phương hơi bẽn lẽn và ngập ngừng. Má em ửng đỏ, em vén tóc mai làm lộ đôi khuyên tai bằng bạc. Tôi mường tượng nơi đây thành một phim trường, cho phim điện ảnh cổ trang thuần Việt chẳng hạn. Máy quay camera zoom gần vào gương mặt, rồi lùi một cách từ từ. Góc quay di chuyển một chút để toàn cơ thể em chiếm chọn khung hình. Em vận một bộ quần áo xanh giản dị đang đứng trên mặt đường lát gạch. Hai bức tường chạy dài song song. Bố cục một điểm tụ, đó sẽ là một bộ phim theo phong cách Kubrick.

“Lý do vì sao làng mình lại gọi là mê cung thế?”

“Anh chẳng biết đâu, làng em tuy trông đơn sơ vậy, song ẩn ước nhiều bày bố đặc biệt lắm đấy. Tuy nhiên, trước khi kể anh nghe tường tận, để em dẫn anh đi tham quan một lượt nhé.”

Em trở nên tự tin hơn, không còn ngượng ngùng như mấy phút trước. Bàn tay em nắm lấy bàn tay tôi, chúng tôi sánh vai bước đi trên đường làng. Em không theo đường thẳng, mà rẽ vào ngõ, vào vườn nhà bên, rồi lại bước ra cổng chính một nhà khác. Dù lối rẽ ngang dọc chùng chình, em vẫn đi khoan thai, mây trôi nước chảy. Tôi được thấy các gian nhà cổ, mái cong, cột trụ, tường rêu, sân vườn. Sen trong giếng nước. Đình làng, tháp cổ, mảnh thành trì xa xa, dãy núi mờ ảo sau rặng trúc.

“Từng có thời kỳ, làng là miền đất địa linh nhân kiệt. Bia đá nơi sân đình tạc lại rất nhiều tên tuổi các danh tướng và chính khách nổi tiếng xuyên suốt các triều đại lịch sử, chôn rau cắt rốn tại nơi đây. Em chẳng biết gì về phong thủy đâu, đầu óc em mù mờ lắm, chỉ biết theo lời các bậc bô lão nói rằng đó là nhờ linh khí từ núi và sông, hòa cùng các mạch ngầm dưới lòng đất.”

“Anh cũng hoàn toàn mù tịt về phong thủy. Song nghe thì nơi đây có vẻ rất tuyệt.”

“Tương truyền người xây dựng lên ngôi làng chính là Thành Hoàng. Ngài xuất thân là một quan võ am tường thiên văn, địa lý. Nhận định chốn này sẽ nằm ở cửa ngõ “yết hầu”, “yếu huyệt” nếu xảy ra các cuộc bao vây, công thành, ngài quyết định củng cố sức phòng thủ bằng việc xây dựng ngôi làng dựa trên các quẻ trong Kinh Dịch. Đặt vị trí các kiến trúc theo vị trí Bát Quái, biến toàn nơi đây thành một mê cung trận đồ.”

“Chà, Kinh Dịch, Bát Quái. Lại thêm những kiến thức mới toanh.”

“Em cũng nào tỏ tường gì. Những điều em nghe được chỉ là lớp vảy bên ngoài mà thôi. Đại khái, các ngôi nhà, vườn tược, miếu mạo đình đài mình vừa qua ấy, tất cả được đặt nằm theo tám quẻ Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khảm, Đoài. Từ các quẻ này xoay chuyển thành muôn vàn các thế trận khác nhau. Có cửa sinh, nếu hiểu trận pháp thì sẽ tìm đường thoát được, còn chẳng may nhỡ bước nhầm vào cửa tử thì sẽ vĩnh viễn bị chôn chặt trong mê cung này. Ví như chỗ trước mặt, anh bảo có quen thuộc không?”

Tôi nhìn ra chung quanh, chẳng phải đi một hồi đã quay trở lại điểm xuất phát rồi sao. Hay chăng là tôi đã nhầm?

“Sau này trải qua nhiều cuộc binh đao, biến động triều đại, sự rung lắc của lịch sử, đặc biệt dày đặc các trận chiến tranh chống ngoại xâm, thế hệ ưu tú đi sau càng hoàn thiện thêm, biến hóa thêm trước tác của tiền nhân. Các ngóc ngách trở nên kín kẽ hơn, các mật đạo trở nên khó lường hơn, thế trận cũng trở nên thanh thoát biến ảo hơn; ngôi làng đúng nghĩa đã trở thành một pháo đài bất khả xâm phạm, vững chãi trước ba đào lịch sử. Tiếc rằng, giống như người ta nói, chẳng có điều gì trên đời trường tồn mãi với thời gian...”
“Hẳn đã xảy ra biến cố?”

“Đúng vậy. Vào đầu những năm 1900, khi triều phong kiến nhà Nguyễn suy tàn, đất nước chìm trong thời kỳ Pháp thuộc. Chính quyền Đông Dương vì mục đích thương nghiệp, đã cho khơi thông dòng chảy của con sông, uốn thành đường thẳng. Sự tác động mạnh mẽ về địa chất không những làm phá vỡ hoàn toàn cấu trúc trận đồ, mà còn cắt đứt mạch linh khí của ngôi làng. Kể từ đấy về sau, Cách mạng, chiến tranh Vệ quốc, Điện Biên Phủ, rồi lại chiến tranh, Điện Biên Phủ trên không, rồi hòa bình, hợp tác xã bao cấp đến Đổi Mới, cho tới tận bây giờ, làng không còn sản sinh thêm được một nhân vật xuất chúng nào nữa. Chẳng còn ai đủ khả năng chủ trì được việc sửa chữa, phục dựng lại trận đồ.

Sau các cuộc chiến tranh, dân số sụt giảm nghiêm trọng. Tuy du lịch ngày càng phát triển, làng phải đối mặt với vấn đề di cư: thanh niên trẻ tuổi không muốn gắn bó với quê hương nữa. Họ hướng về thành phố, học tập và làm việc, định cư và trở thành thị dân. Đồ thị dân số mấy năm gần đây đúng nghĩa là con dốc theo chiều đi xuống.

“Thật tệ quá”. Tôi hình dung sơ lược trong đầu toàn cảnh mê cung của em: một ngôi làng cổ đã qua thời hưng thịnh. Những mái nhà ba gian, con đường lát gạch đỏ chạy ngoằn ngoèo. Dưới mái nhà là đôi vợ chồng già neo đơn, con cái làm ăn xa hằng năm chỉ về nhà mỗi dịp lễ Tết. Thậm chí nhiều căn nhà hoang, chủ nhân đã xanh nấm mồ, rường cột trong mối mọt mục ruỗng, cỏ dại chớm bắt rễ vào nền đá. Không xuất hiện thêm một anh hùng nào tỏa sáng trong hào quang lịch sử nữa. Cổng làng có một đại lý du lịch nhỏ, bán vé vào cửa và dịch vụ thuê xe đạp. Một cửa hàng buôn bán đặc sản của làng. Rồi đình làng, bên trong thu vén một hội trường tạm dành cho việc họp chính quyền đoàn thể, phía mé là hàng bia đá tiến sĩ, nứt nẻ và mòn vẹt trên mặt sân đầy lá rụng. Phía đằng sau là dòng sông, chạy kì cùng đến chân dãy núi. Một cộng đồng dân cư vắng và buồn tẻ, tôi nghĩ. Mỗi năm chỉ còn một vụ hoa màu trên cánh đồng.

Tuy vậy, vẫn còn phần thiểu số, như em, quyết tâm ở lại. Làm hết sức mình để bảo tồn giá trị văn hóa, cũng như quảng bá hình ảnh làng thông qua du lịch. Với lại, dòng sông được khai thông đã dẫn nước đến mảnh đất dưới chân núi, nơi ấy mọc lên một rừng mơ cho quả rất ngon và mọng. Hiện giờ sản vật chính của làng là rượu mơ, được du khách thập phương vô cùng ưa chuộng. Sản lượng sản xuất lẫn tiêu thụ hàng năm tăng theo cấp số nhân.

Thực tình, đáng buồn thay, giờ người ta đến với làng vì rượu mơ hơn là những chứng tích lịch sử. Tất nhiên, du khách cũng rất thích thú với cảnh đẹp, song mấy ai hiểu được giá trị của trận đồ nữa. Rượu mơ là thứ chất lỏng vừa ngọt ngào vừa cay xé cổ họng, mới mẻ hơn và hấp dẫn hơn nhiều. Và chỉ cần men dọc theo bờ sông là có thể thong dong thưởng lãm vẻ đẹp mê cung mà không sợ lạc lối nữa rồi.

“Vậy còn anh, anh chẳng có vẻ gì của người đi kiếm rượu ngon, cũng hoàn toàn lạ lẫm với những thông tin lịch sử.” Em nhìn thẳng vào đôi mắt tôi. “Vậy nguyên cớ gì hôm nay anh lại tới nơi đây?”


3.

Tôi tiễn cô ở phi trường Nội Bài. Trước khi khởi hành, cô có đặt tôi một câu hỏi: “Giả dụ năm xưa, tớ không chọn rời đi, mà người đó là cậu, thì không biết cuộc đời hai chúng ta sẽ ra sao nhỉ?”

“Sẽ chẳng có biến chuyển gì cả, tớ đoán vậy. Dù không là phóng viên chăng nữa, cậu vẫn sẽ trở thành một nhân viên du lịch, rồi đi chu du khắp tinh cầu này. Còn tớ, vẫn là một tay viết tệ hại, ru rú ở một góc nào đó trên quả đất. Vậy thôi.”

“Thực sự là sẽ chẳng có thay đổi gì ư?”

“Chắc là vậy.”

Cô nhìn thẳng vào mắt tôi, hẳn là cô muốn thú nhận một điều gì đó, một bí mật lớn lao, hay đơn giản chỉ là một lời tạm biệt. Song chuyến bay đã cận kề rồi. Tiếng loa báo hiệu như gạt đi tất cả.

Cô lên máy bay. Tiếp tục hành trình. Tám tiếng đồng hồ, và máy bay đã thành một đốm sáng như vì sao trên bầu trời xa. Tôi trở về nhà. Để nguyên quần áo chưa cởi, tôi ngồi vào ghế sofa, tiếp tục với bản thảo trên laptop. Những con chữ vừa viết xong như đang nhảy múa trước mặt. Cơn chếnh choáng đêm nay có thể là do ba lon cà phê ban chiều? Hay bởi trận mưa, hay bởi cuộc gặp chớp nhoáng người bạn xưa cũ? Chẳng biết nữa. Tôi bịt mắt trái của mình lại. Màn hình LCD đang kéo giãn sang ngang.

Em hỏi tôi, tại vì sao hôm ấy lại bước chân vào mê cung của em?

Tôi vẫn chưa trả lời được, hay chăng tôi đã quên mất câu trả lời.

Trong khoảnh khắc, tôi nghiệm ra mối nối kết hữu hình giữa mê cung của em và bản thể. Chiếc kim đồng hồ cổ xưa giữa thế giới bỗng dưng quay ngược, khi tất thảy gạch đá vẫn còn tươi màu đất. Danh tướng uy nghi trong chiến bào, lính tráng thề nguyền vì Tổ Quốc. Trận đồ xoay vần biến ảo, mê cung vững chãi giữa trận công thành. Kỵ mã tung vó ngựa, cờ xí bay rợp trời, máu chảy nhuộm mòn nền đá. Chiến tranh rồi hòa bình. Hưng thịnh rồi tan biến. Hồn người lẫn thành quách đã thành hư không; chỉ còn mê cung, bia đá, đền đài mờ ảo bên dòng sông lững lờ trôi về phía rừng mơ.

Dưới cánh rừng sương khói ấy, em đang dở tay thu hoạch mơ. Một căn lán nhỏ. Bầu rượu nóng hổi vừa mới nấu xong.

“Anh vẫn chưa ra khỏi mê cung sao?

Em hỏi tôi, khi mồ hôi vẫn còn vương trên tóc mai. Mơ đã gần đầy thúng đựng dưới gốc cây rồi.

“Chưa. Anh vẫn lần đường, song chẳng biết hướng nào nữa. Chắc anh đã vào nhầm cửa, ngay từ phút ban đầu rồi.”

Vì nóng, gương mặt em hây hây đỏ. Em vẫn còn trẻ quá. Mới chỉ một buổi trôi qua với em thôi, chia tay tôi ban sáng, đi thu hoạch mơ ban chiều. Em của tôi năm ba mươi hai tuổi vẫn tươi nguyên như em của tôi năm hai mươi hai tuổi. Thế nhưng, còn tôi, tôi đã dành hết chục năm của cuộc đời mình, lạc lối trong mê cung của em rồi.

Em mời tôi ngồi xuống. Rót ra ba bát rượu mơ, rồi cùng cạn chén. Ngôi làng của em, mê cung của em. Ngôi làng của tôi, cuộc đời của tôi. Tôi nhắm đôi mắt mình lại. Ba bát rượu kia trôi dần xuống nơi cuống họng.


Hết

Thành viên
Bút danh: 
Mật khẩu: 
Chọn lọc Xem hết »
[SPN] Muôn sắc diệu kỳ
Ngày Castiel để ý màu mắt xanh của Dean Winchester, vị thiên sứ mất đi chiếc lông vũ đầu tiên.
Trực tuyến
11 Khách, 0 Thành viên